Các nhân tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức trong ứng phó với đại dịch Covid-19 tại Việt Nam giai đoạn 2019 – 2022

TS. Vũ Văn Hùng
Trường Đại học Thương mại

(Quanlynhanuoc.vn) – An sinh xã hội là hệ thống các chính sách, hành động của Chính phủ nhằm bảo đảm cuộc sống cho những cá nhân gặp khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, góp phần giảm thiểu tối đa mức độ nghèo đói, những tổn thương, rủi ro xã hội mà người dân gặp phải. Để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức, trong ứng phó với đại dịch Covid-19 tại Việt Nam giai đoạn 2019 – 2022, tác giả đã sử dụng các tài liệu thứ cấp, đặc biệt là bộ dữ liệu Điều tra mức sống dân cư năm 2020 để phân tích; đồng thời, sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân để đánh giá. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp dự báo nhằm tăng cường bảo đảm an sinh xã hội để ứng phó với các cú sốc có thể xảy ra trong tương lai.

Từ khóa: An sinh xã hội; Covid-19; đại dịch; lao động phi chính thức.

1. Đặt vấn đề

Theo Tổng cục Thống kê, hiện nay, khái niệm về lao động phi chính thức được hiểu là những lao động có việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, không có hợp đồng lao động hoặc có nhưng không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, không được chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản phúc lợi xã hội khác1. Người lao động có việc làm phi chính thức gọi là lao động phi chính thức, là những người làm các công việc mà theo luật định hoặc trên thực tế không được pháp luật lao động bảo vệ, không phải đóng thuế thu nhập hoặc không được hưởng các chế độ bảo trợ xã hội và chế độ việc làm khác, như: không được thông báo trước về việc sa thải, trợ cấp thôi việc hoặc không được nghỉ phép khi ốm đau… Những công việc đó thường không được khai báo, có tính chất tạm thời hoặc ngắn hạn, có số giờ làm việc hay mức lương dưới ngưỡng quy định, đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật2. Chính vì vậy, trong điều kiện nền kinh tế có sự biến động và “rung lắc” mạnh thì vấn đề bảo đảm an sinh xã hội cho lao động phi chính thức cần phải tiếp cận và nghiên cứu một cách thấu đáo theo nhiều chiều cạnh. Qua đó, nhiều công trình đã đưa ra đánh giá việc bảo đảm an sinh xã hội đối với công tác xóa đói, giảm nghèo, bất bình đẳng xã hội cũng như xây dựng bộ công cụ để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến công tác an sinh xã hội trong thời gian tới.

Các công trình nghiên cứu, về cơ bản chưa đưa ra được các vấn đề “dễ tổn thương” của lao động phi chính thức, đặc biệt, khi gặp phải cú sốc về kinh tế – xã hội, môi trường, dịch bệnh… cùng với đó là những trở ngại khi tham gia thị trường lao động, sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập của chính họ và gia đình trong nền kinh tế biến động này. 

2. Các nhân tố ảnh hưởng 

Để xây dựng một hệ thống an sinh xã hội hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, cần phải tuân thủ nghiêm các thể chế, chính sách cơ bản sau: 

Thứ nhất, thể chế, chính sách, cần phải xác định đối tượng tham gia, đối tượng điều chỉnh đối với các thành viên khác nhau trong xã hội với những tiêu chí cụ thể; xác định các chế độ hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc; xác định trách nhiệm của cán bộ ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách. 

Thứ hai, thể chế tài chính là thể chế quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội với nhiệm vụ cụ thể là phải xác định cơ chế tạo nguồn tài chính (cụ thể, là sự đóng góp của các đối tượng tham gia, của người sử dụng lao động và của Nhà nước); cơ chế quản lý, sử dụng nguồn tài chính; cơ chế chi, trả hợp lý. 

Thứ ba, thể chế tổ chức quản lý phải thiết lập một hệ thống tổ chức quản lý với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có thể được thiết lập cho từng trường hợp hoặc có thể sử dụng bộ máy chính quyền hiện có để thực hiện công việc này, tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, vùng, lãnh thổ và từng địa phương… Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý nhà nước thì chỉ nên để một cơ quan, một hệ thống tổ chức quản lý là phù hợp nhất. 

Trong ba thể chế nêu trên, thể chế tài chính là quan trọng nhất, vì đó là cơ sở vật chất của sự tồn tại và phát triển bền vững hệ thống an sinh xã hội. Nếu thể chế tài chính không được thực hiện một cách nghiêm minh, chặt chẽ, minh bạch hoặc bị xâm hại thì hệ thống an sinh xã hội cũng không thể tồn tại. Ngay trong thể chế tài chính cũng có nhiều cơ chế, cách thức vận hành khác nhau: có thể chế tài chính vận hành theo cơ chế “có đóng góp, có hưởng” (có chi, trả), mức hưởng phụ thuộc vào mức đóng góp, chẳng hạn như bảo hiểm xã hội hoặc có cơ chế “số đông bù số ít” hay “mọi người vì một người và một người vì mọi người” như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… Cũng có chính sách được hưởng nhưng không đóng góp, mức hưởng không phụ thuộc vào mức đóng góp mà chỉ phụ thuộc vào thu nhập, đó là trợ cấp xã hội cho những người tàn tật, họ bị mất khả năng lao động, trợ cấp cho trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, cứu tế xã hội trong trường hợp rủi ro đột xuất. 

Để thực hiện nghiên cứu có hiệu quả về chính sách an sinh xã hội, cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: (1) Hướng tới “bao phủ” mọi thành viên trong xã hội vào hệ thống an sinh xã hội; (2) Phải bảo đảm tính bền vững về tài chính; (3) Phải bảo đảm tính ổn định về tổ chức và quản lý; (4) Nhà nước phải là người bảo trợ cho hệ thống an sinh xã hội hoạt động có hiệu quả và đúng pháp luật.

3. Phương pháp nghiên cứu

(1) Phương pháp nghiên cứu từ nguồn dữ liệu thứ cấp, bài viết tiến hành tổng quan kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó và các tài liệu khoa học đã công bố trong nước và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích rút ra vấn đề thực tiễn về các chính sách bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức ứng phó với cú sốc Covid-19 ở Việt Nam. Đặc biệt, bài viết còn sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các cuộc khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê ở 63 tỉnh, thành phố trên cả nước.

(2) Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, thực hiện kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) và phương pháp nghiên cứu định lượng (điều tra chọn mẫu và sử dụng bảng hỏi).

Phương pháp định tính: sử dụng các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện trước khi tiến hành điều tra trên diện rộng. Tiến hành 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với các đối tượng thuộc các tổ chức, cơ quan nhà nước có liên quan trong lĩnh vực an sinh xã hội. Thời gian thực hiện từ ngày 01/3/2022 – 28/4/2022.

Công cụ sử dụng: lập trình xử lý số liệu trên máy tính với các số liệu điều tra có giá trị bằng số được tổng hợp và xử lý dữ liệu bằng phần mềm Excel; các số liệu điều tra có giá trị bằng chữ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Stata 17, SPSS 2.0.

Phương pháp phân tích số liệu: sử dụng các phương pháp thống kê, như: đánh giá hàm phân bố, đánh giá phương sai và phương pháp hồi quy để xử lý thông tin, số liệu điều tra, thu thập. Đối với thống kê suy luận được xác định bằng cách sử dụng phép thử Kolmogorov-Smirnov và phép thử t của Student để so sánh các giá trị trung bình. Dữ liệu định tính được so sánh bằng cách sử dụng thử nghiệm χ2 (kiểm định chi bình phương).

Mô hình nghiên cứu sử dụng: sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân để đánh giá tác động của các hỗ trợ trong chính sách an sinh xã hội đối với việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, từ đó, cải thiện chất lượng cuộc sống của lao động ở khu vực này thông qua việc sử dụng số liệu thứ cấp từ các cuộc khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê năm 2020; đồng thời, đánh giá ảnh hưởng của việc bảo đảm an sinh xã hội đối với việc làm của lao động phi chính thức thông qua sử dụng số liệu khảo sát của Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo, mã số B2022-TMA-03. 

4. Kết quả nghiên cứu

Thông qua khảo sát 350 lao động phi chính thức và lấy ý kiến các chuyên gia là các nhà quản lý để đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức nhằm ứng phó với đại dịch Covid-19 tại Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ quan trọng của các nhân tố như sau:

Giá trị trung bình cao nhất là của nhân tố “Cách thức tổ chức các chương trình an sinh xã hội” (3,97) và “Năng lực thông tin” (3,92). Tiếp theo là “Thể chế chính sách” (3,87), nhóm “Chi phí kinh doanh” (3,87) và “Thể chế tài chính” (3,82). Và giá trị trung bình thấp nhất là “Năng lực thông tin, niềm tin và phúc lợi xã hội” (3,81). Độ lệch chuẩn của các yếu tố này cơ bản đều đạt giá trị nhỏ hơn không, điều đó, chứng tỏ các đối tượng khảo sát trả lời các con số đáp án không chênh lệch nhiều. Tuy nhiên, có nhân tố “Chi phí bảo trợ xã hội” có độ lệch chuẩn cao nhất (0,954) thể hiện các đối tượng khảo sát có nhận định khác biệt đối với biến đó, dẫn đến mức điểm lệch chuẩn khá nhiều.

Ngoài ra, các tổ chức tham gia vào bảo đảm an sinh xã hội có vai trò rất quan trọng, trong đó vai trò của địa phương khi đưa ra các sáng kiến được đánh giá cao nhất, tiếp đến là các cơ quan quản lý các cấp và bản thân người lao động phi chính thức trong quá trình nhận hỗ trợ. Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề này, cần chú ý đến các nhóm có điểm đánh giá trung bình cao nhất, vì những nhân tố đó sẽ tác động tích cực đến bảo đảm an sinh xã hội cho lao động phi chính thức. Mặt khác, để đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng của lao động phi chính thức bị thay đổi trong thời điểm diễn ra đại dịch Covid-19, đề tài sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập từ Điều tra mức sống dân cư năm 2020 (2019 – 2020) bằng mô hình logistic nhị phân. 

Trong số 4.500 hộ gia đình được khảo sát, đề tài đã chọn ra hộ gia đình có thành viên là lao động phi chính thức và được tiếp cận tín dụng từ nguồn vốn ưu đãi trong hai năm dịch Covid-19 (từ tháng 12/2019 – 2020). Kết quả cho thấy, có 577 lao động phi chính thức ở khu vực nông thôn và 387 lao động phi chính thức ở khu vực thành thị đã được chọn để thu thập thông tin về đặc điểm của hộ gia đình và đặc điểm tín dụng của hộ gia đình.

Kết quả cho trình độ học vấn của lao động phi chính thức ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận tín dụng của họ xét trên mọi lĩnh vực. Một số yếu tố liên quan đến đặc điểm tín dụng, như quy mô tín dụng, uy tín, tài sản thế chấp của lao động phi chính thức khu vực nông thôn cũng có tác động tích cực đến khả năng vay vốn của lao động phi chính thức. 

Ngoài ra, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức bị ảnh hưởng dịch Covid-19, song lao động phi chính thức vướng quy định không có hợp đồng lao động, không có khai báo tại nơi cư trú, vì vậy đã rất khó xác định được đối tượng, khiến việc nhận diện điều kiện để hỗ trợ rất hạn chế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có thuê lao động phi chính thức khi tiếp cận với hỗ trợ an sinh xã hội trong thời kỳ Covid-19 rất khó khăn trong việc kê khai hồ sơ đăng ký hỗ trợ. 

5. Một số giải pháp 

Một là, trợ cấp tiền mặt và các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội phổ quát đóng vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ những nhóm đối tượng yếu thế để đối phó với ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 gây ra. Vì vậy, trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, cần bảo đảm giải quyết các vấn đề về bất bình đẳng giữa các nhóm đối tượng trong tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

Bảo đảm thiết kế và thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội đột xuất nói chung và chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nói riêng cần phải dựa trên các yếu tố: (1) Mức độ thiệt hại thực tế; (2) Mức độ dễ bị tổn thương; (3) Hoàn cảnh cụ thể và khả năng khắc phục rủi ro của lao động khu vực phi chính thức.

Kinh phí cho thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đột xuất nói chung và chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nói riêng ở các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn cần do ngân sách trung ương chi trả 100% để bảo đảm tính kịp thời và công bằng. Bên cạnh đó, cần cân nhắc thử nghiệm đưa mục tiêu ngân sách tối thiểu cho người bị yếu thế, trong đó có lao động phi chính thức cần sự can thiệp khẩn cấp về trợ giúp xã hội để không làm trầm trọng thêm các vấn đề bất bình đẳng đang hiện hữu trong cộng đồng và những vấn đề bất bình đẳng mới nảy sinh như đã phân tích trong trường hợp Covid-19.

Hai là, tiến hành rà soát, đánh giá tác động của đại dịch Covid-19 tới khu vực lao động phi chính thức khác nhau để xác định các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Ba là, bổ sung chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức trong hộ nghèo, hộ bị mất, giảm thu nhập, sinh kế do dịch bệnh được cung cấp hoặc hỗ trợ mua thức ăn bảo đảm dinh dưỡng trong và sau dịch bệnh.

Bốn là, mở rộng tín dụng nông nghiệp – tín dụng từ Chính phủ có thể giúp một số doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản duy trì khả năng thanh toán trong giai đoạn kéo dài của suy giảm toàn cầu. Điều này, có thể thực hiện dưới hình thức mua hoặc lưu kho thành phẩm chưa thể xuất bán hoặc gia hạn tín dụng vốn lưu động để cho phép các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động trong thời kỳ suy thoái.

Để giúp các doanh nghiệp có sử dụng lao động phi chính thức phục hồi sản xuất hàng hóa và dịch vụ khi điều kiện được cải thiện thì chính sách tiền tệ nên tập trung hỗ trợ các công ty “có nguồn vốn vững mạnh nếu không có đại dịch” vượt qua giai đoạn khó khăn này. Chính phủ không có thông tin đầy đủ về các doanh nghiệp nào đang ở trong tình trạng tốt (nếu không có đại dịch) nhưng các ngân hàng luôn có sẵn thông tin này. Do đó, Ngân hàng nhà nước cần hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng thương mại để cho phép họ gia hạn hạn mức tín dụng hiện tại trong một thời gian nhất định để các doanh nghiệp vững vàng vượt qua đại dịch. Nhưng Chính phủ phải hết sức cẩn trọng để tránh tình trạng ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đồng nghĩa với việc làm suy yếu sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại. Cho vay khoản mới cần được hướng đến đối tượng mục tiêu cụ thể và gắn chặt với yêu cầu bảo đảm việc làm cho người lao động. Ngân hàng nhà nước cũng phải chắc chắn rằng, thị trường tín dụng vẫn bảo đảm tính thanh khoản của các giao dịch không bị cản trở.

Năm là, cần tìm kiếm các cơ hội phát triển ở thị trường nội địa; đồng thời, bám sát các cơ hội thương mại điện tử, các nền tảng trực tuyến và giao dịch kỹ thuật số với sự phát triển nhanh chóng như hiện nay.

6. Kết luận

Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay phân loại theo 4 nhóm cơ bản: (1) Nhóm chính sách việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo; (2) Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội; (3) Nhóm chính sách trợ giúp xã hội; (4) Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản. Các nhóm chính sách này vẫn chưa bao trùm và bảo đảm các điều kiện tốt nhất để cho lao động phi chính thức có thể tiếp cận và được trợ giúp để bảo đảm cuộc sống. Vì vậy, thời gian tới cần tháo gỡ các vướng mắc về thể chế; xây dựng cơ sở dữ liệu; đào tạo nguồn nhân lực; cải cách an sinh xã hội để theo kịp các xu hướng mới trước những biến động của nền kinh tế, thiên nhiên, xã hội, môi trường…

Chú thích:
1, 2. Tổng cục Thống kê. Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam. H. NXB Thanh niên, 2022, tr. 2.
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Thị Thanh Bình. Tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động, việc làm ở một số nhóm dễ bị tổn thương. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Covid -19, đại dịch và những vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững, 2020.
2. Vũ Đình Ánh. Nghiên cứu quy mô lao động tại khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam.Tạp chí Tài Chính, kỳ 1 tháng 9/2019.
3. Phạm Thị Bích Duyên, Phạm Thị Kiều Khanh. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của khu vực phi chính thức tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 304 (2) tháng 10/2022, tr. 85 – 94. 
4. Phạm Hồng Chương và Cộng sự. Tác động của đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam.Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 274, 2020, tr. 2 – 13.
5. Lưu Quang Tuấn. Giải pháp gia tăng số lượng lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội. Tạp chí Tài chính, kỳ 1, năm 2020.
6. An sinh xã hội cho lao động phi chính thức – kinh nghiệm từ một số quốc gia và hàm ý cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/11/07/an-sinh-xa-hoi-cho-lao-dong-phi-chinh-thuc-kinh-nghiem-tu-mot-so-quoc-gia-va-ham-y-cho-viet-nam/
7. Nguyễn Trọng Xuân – Đỗ Hồng Quân – Nguyễn Tuấn Dũng. Bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 325 (2/2023), tr. 77 – 80.
8. Jean – Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto và Francois Roubaud (2010). Khu vực kinh tế phi chính thức, cuộc khủng hoảng và chính sách công tại Việt Nam, Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. H. NXB Tri thức, 2010, tr. 463 – 490.