Cải cách thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công

TS. Trương Quốc Việt
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Cải cách thể chế đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công, góp phần xây dựng nền công vụ ưu tú, hiện đại. Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể chế ở Việt Nam, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công trong thời gian tới.

Từ khóa: Thể chế; đổi mới, sáng tạo; năng suất; khu vực công.

1. Đặt vấn đề

Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2030: “Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, đến 2045 trở thành nước phát triển thu nhập cao”1. Để đạt được mục tiêu đó, một trong những điều kiện then chốt là phải xây dựng được nền công vụ ưu tú, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng suất lao động trong khu vực công.

Trong khi khu vực tư nhân liên tục cải tiến năng suất, áp dụng công nghệ mới, tính linh hoạt cao thì khu vực công ở Việt Nam vẫn đang đối diện với nhiều rào cản, như: thiếu không gian thử nghiệm chính sách, quy trình hành chính còn rườm rà, đánh giá hiệu quả công việc chưa dựa trên kết quả đầu ra, … Trong bối cảnh đó, cải cách thể chế trở thành điều kiện đổi mới quan trọng để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng suất trong khu vực công. Bài viết làm rõ tầm quan trọng của thể chế trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công, đánh giá thực trạng cải cách thể chế ở Việt Nam và đề xuất khuyến nghị để tiếp tục cải cách thể chế kiến tạo phát triển trong bối cảnh hiện nay.

2. Tầm quan trọng của thể chế trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo nâng cao năng suất lao động trong khu vực công

Thể chế trong khu vực công sẽ quyết định rất lớn đến hiệu quả và năng suất lao động. Thể chế minh bạch, rõ ràng và linh hoạt tạo động lực cho cán bộ, công chức yên tâm phát huy sáng kiến và tập trung vào kết quả công việc2. Ngược lại, thể chế kém hiệu quả với nhiều quy định chồng chéo sẽ gây lãng phí thời gian, tăng chi phí tuân thủ, tạo rào cản cho đổi mới. Vì vậy, thể chế đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công. 

Một là, thể chế tạo động lực và môi trường cho đổi mới sáng tạo. Thể chế tạo ra các quy định, luật lệ và chính sách khuyến khích đổi mới. Một khung pháp lý linh hoạt và đồng bộ sẽ gỡ bỏ các rào cản hành chính, tài chính và pháp lý, cho phép các ý tưởng sáng tạo được thử nghiệm và nhân rộng. Ngoài ra, thể chế còn thiết lập cơ chế khen thưởng và đãi ngộ (tiền lương, tiền thưởng, bằng khen, …)  xứng đáng cho những sáng kiến, cải tiến mang lại hiệu quả cao. Điều đó sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho cá nhân và tập thể dám nghĩ, dám làm.

Hai là, thể chế định hướng và thúc đẩy hiệu quả hoạt động. Thể chế đóng vai trò dẫn dắt trong việc hoạch định và triển khai các chiến lược chuyển đổi số trong khu vực công. Các chính sách về phát triển hạ tầng kỹ thuật số, sử dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ giúp tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm bớt thủ tục, nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ công. Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính là một phần quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, giúp đơn giản hóa các quy trình, giảm thời gian và chi phí, từ đó tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tập trung vào các công việc có giá trị cao hơn.

Ba là, tác động của thể chế đến năng suất lao động. Khi thể chế được hoàn thiện, sẽ khuyến khích đổi mới sáng tạo, từ đó, việc áp dụng các quy trình làm việc mới, công nghệ tiên tiến và cách tiếp cận mới sẽ cải thiện hiệu suất và chất lượng công việc cũng như nâng cao năng suất lao động của toàn bộ khu vực công; đồng thời, giúp tiết kiệm nguồn lực, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp, tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế – xã hội.

Do đó, việc hoàn thiện thể chế là chìa khóa quyết định để khu vực công Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.

3. Thực trạng cải cách thể chế thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực công ở Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách

(1) Về cải cách hành chính và đổi mới sáng tạo. Chính phủ đã ban hành văn bản pháp luật, chiến lược và chương trình hành động để đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nổi bật là việc ban hành các luật, nghị quyết liên quan đến cải cách thể chế, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước. Chẳng hạn: Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” là một văn bản quan trọng, nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo trong việc hiện đại hóa nền hành chính.

(2) Về nâng cao năng suất lao động: Quyết định số 1305/QĐ-TTg ngày 08/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động đến năm 2030” với mục tiêu cụ thể là tốc độ tăng năng suất lao động bình quân đạt trên 6,5%/năm và phấn đấu nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về tốc độ tăng năng suất lao động vào năm 2030.

(3) Các quy định về chính sách tiền lương. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, trong đó yêu cầu: gắn trả lương với năng suất lao động, hiệu quả công việc trong khu vực công. Năm 2024, thực hiện tăng 30% lương cơ sở từ 1.8 triệu lên 2,34 triệu.  Đồng thời, Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý về thu hút, trọng dụng nhân tài vào làm việc trong khu vực công.

(4) Sửa đổi các quy định pháp lý về vị trí việc làm, biên chế, đánh giá công chức ngày càng rõ ràng hơn theo hướng kết quả, sản phẩm cụ thể. Luật Cán bộ, công chức  được kỳ họp thứ 9 Quốc hội (khóa XIV) cũng đã xác định chuyển từ quản lý công chức theo ngạch, bậc sang theo vị trí việc làm và đánh giá bằng KPI, dựa trên dữ liệu số và các chỉ tiêu định lượng rõ ràng. Thay vì đánh giá theo cảm tính, hình thức chung chung hiện nay, Bộ Nội vụ đã đề xuất và lựa chọn cách thức đo lường theo kết quả công việc (sản phẩm cụ thể) là một cải cách mạnh mẽ, hiện đại hóa bộ máy công vụ và khẳng định, đây là cách đánh giá tiên tiến nhằm lượng hóa tiêu chuẩn, nâng cao trách nhiệm và cạnh tranh lành mạnh trong đội ngũ công chức.

(5) Cắt giảm thủ tục hành chính. Chính phủ đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, 30% điều kiện kinh doanh trong năm 20253. Đồng thời tích cực, chủ động thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong toàn hệ thống hành chính, đẩy mạnh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm tăng tính minh bạch của thể chế.  

Thứ hai, về chuyển đổi số trong quản lý nhà nước 

Các dịch vụ công trực tuyến đã được đưa vào sử dụng, giúp giảm bớt thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Chẳng hạn: Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến năm 2025; Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai các dịch vụ công trực tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và thúc đẩy việc sử dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành.

Thứ ba, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức

Các văn bản pháp lý và chính sách đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và năng lực cho cán bộ, công chức, viên chức. Các chương trình, đề án, như “Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2025 – 2030” theo Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy sự chú trọng vào việc đào tạo, bồi dưỡng để đội ngũ lao động khu vực công có đủ năng lực thích ứng với môi trường số và thúc đẩy đổi mới.

Mặc dù có nhiều tiến bộ, song việc cải cách thể chế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như:

(1) Tính thiếu đồng bộ của thể chế: hệ thống pháp luật và chính sách vẫn còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn, chưa thực sự tạo được động lực mạnh mẽ cho đổi mới. Một số quy định còn chậm được sửa đổi, bổ sung, không theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ. Ví dụ: sự chồng chéo giữa Luật Đất đai và các luật liên quan, như: Luật Nhà ởLuật Xây dựng trong việc xác định giá đất để tính tiền sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập, dẫn đến khiếu kiện kéo dài và gây khó khăn cho các dự án đầu tư.

(2) Năng suất lao động chưa cao: mặc dù năng suất lao động có tăng nhưng vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới. Việc dịch chuyển cơ cấu lao động từ khu vực năng suất thấp sang năng suất cao còn chậm. Chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Ví dụ: các ngành công nghệ cao, như: công nghệ bán dẫn, AI và khoa học dữ liệu đang phát triển mạnh mẽ nhưng Việt Nam lại thiếu hụt trầm trọng các kỹ sư và chuyên gia có trình độ cao. 

(3) Vướng mắc trong thực thi chính sách: quá trình thực thi các chính sách đổi mới còn chậm, thiếu quyết liệt. Nhiều thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Ví dụ: việc giải ngân vốn đầu tư công thường chậm trễ. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo nhưng việc thực hiện tại một số địa phương, bộ, ngành còn chưa dứt khoát, khiến các dự án trọng điểm bị đình trệ, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

(4) Hạn chế về tài chính và cơ chế đãi ngộ: cơ chế tài chính cho các hoạt động đổi mới sáng tạo còn hạn chế, chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích cán bộ, công chức. Chính sách lương, thưởng chưa thực sự gắn với hiệu quả công việc và kết quả sáng tạo.

(5) Thiếu văn hóa đổi mới: vẫn còn tồn tại tâm lý ngại thay đổi, sợ rủi ro và thiếu sự hợp tác trong một số cơ quan, đơn vị. Điều này là rào cản lớn đối với việc triển khai các sáng kiến đổi mới trong khu vực công. Ví dụ: việc triển khai chính phủ điện tử hay cổng dịch vụ công trực tuyến ban đầu gặp rất nhiều trở ngại do tâm lý ngại thay đổi của một bộ phận cán bộ và người dân.

4. Một số khuyến nghị chính sách

Một là, xây dựng thể chế kiến tạo phát triển, đặt con người vào trung tâm. Thể chế không chỉ là luật lệ, quy định mà còn là động lực thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo nên chính sách phải được xây dựng trên nguyên tắc trao quyền, giảm thiểu rủi ro cho những người dám nghĩ, dám làm và tạo môi trường để các sáng kiến được thử nghiệm. Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách “Hộp cát thể chế” (Regulatory Sandbox): cho phép thử nghiệm các chính sách mới, công nghệ mới trong môi trường được kiểm soát trước khi áp dụng rộng rãi. Điều này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực mới, như: AI, công nghệ bán dẫn hay tài chính số hay chính sách khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm. Đồng thời, đánh giá công việc dựa trên hiệu quả và kết quả đầu ra thay vì quy trình. Điều này giúp khuyến khích công chức tập trung vào việc tạo ra giá trị, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng công việc.

Hai là, phát triển hạ tầng số quốc gia và dữ liệu lớn. Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là thay đổi phương thức vận hành của cả nền công vụ. Vì vậy, để nâng cao năng suất, cần đồng bộ hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia với việc kết nối dữ liệu dân cư, đất đai, doanh nghiệp… để các cơ quan nhà nước có thể chia sẻ thông tin, giảm bớt thủ tục hành chính và tăng tốc độ xử lý công việc. Đồng thời, đẩy mạnh triển khai các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, ứng dụng AI để tự động hóa một số quy trình đơn giản, giúp công chức tập trung vào các nhiệm vụ phức tạp hơn.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và văn hóa công vụ. Con người là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của mọi cuộc cải cách. Do đó, cần: (1) Cải cách chính sách tiền lương và đãi ngộ với việc áp dụng mô hình trả lương theo vị trí việc làm và hiệu quả công việc; có cơ chế khen thưởng, vinh danh kịp thời những sáng kiến, đóng góp nổi bật. Điều này sẽ tạo động lực mạnh mẽ và thu hút nhân tài vào khu vực công; (2) Đổi mới giáo dục và đào tạo: cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số và tư duy đổi mới cho đội ngũ công chức; xây dựng văn hóa khuyến khích học hỏi, dám đối mặt với thất bại và không ngại thử nghiệm cái mới; (3) Thu hút nhân lực chất lượng cao: xây dựng các chính sách đặc thù, hấp dẫn để thu hút các chuyên gia trong và ngoài nước làm việc trong khu vực công, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, quản lý và hoạch định chính sách.

Bốn là, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Cần tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình, như: thiết lập cơ chế giám sát độc lập, minh bạch và có tính ràng buộc cao. Mọi quy trình giải quyết công việc, đặc biệt là các dự án đầu tư công cần được công khai để người dân và doanh nghiệp cùng giám sát. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh chống tiêu cực nhằm xây dựng một nền công vụ liêm chính, minh bạch. Điều này sẽ giúp loại bỏ những rào cản vô hình, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng.

Chú thích:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 15.

2. Total factor productivity and institutional quality in Vietnam: Which institutions matter most?. https://link.springer.com/article/10.1007/s41685-024-00343-9.

3. Thủ tướng yêu cầu 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-yeu-cau-100-tthc-lien-quan-den-doanh-nghiep-duoc-thuc-hien-truc-tuyen-102250523001200589.htm.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2021). Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng giai đoạn 2021 – 2030.

2. Võ Kim Sơn (2024). Động lực làm việc trong tổ chức công và những vấn đề thực tiễn. Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp thành phố: “Thực trạng động lực và tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”, Phân hiệu Học viện Hành chính Quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh, 11/2024.

3. Đẩy mạnh cải cách thể chế nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam theo hướng bền vững. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/10/day-manh-cai-cach-the-che-nham-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam-theo-huong-ben-vung/