Quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp

ThS. Nguyễn Thiên Tân
Học viện Lục quân

(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế tư nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng, là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, để khu vực này phát triển bền vững, cần có sự quản lý, định hướng và hỗ trợ hiệu quả từ Nhà nước. Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam thời gian qua, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Việt Nam; quản lý nhà nước; phát triển kinh tế tư nhân; thực trạng; giải pháp

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Cùng với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân tham gia mạnh mẽ vào sản xuất – kinh doanh, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để kinh tế tư nhân phát triển bền vững và mạnh mẽ, vai trò quản lý và hỗ trợ từ phía Nhà nước là vô cùng cần thiết. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về “phát triển kinh tế tư nhân gắn với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được ban hành đã mở ra một giai đoạn mới với những định hướng chiến lược rõ ràng. Bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đề ra, giúp kinh tế tư nhân thực sự trở thành một trụ cột vững chắc của nền kinh tế Việt Nam.

2. Thực trạng quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân hiện nay 

Thứ nhất, khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Những năm gần đây, khung pháp lý đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt, ngày càng hoàn thiện và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng giúp doanh nghiệp tư nhân yên tâm hoạt động, mở rộng sản xuất, thu hút đầu tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.  Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển, như:

(1) Luật Doanh nghiệp (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động kinh doanh. Trong đó, điểm nổi bật là: bãi bỏ yêu cầu về thông báo mẫu dấu, giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn; giảm các điều kiện về vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề. Doanh nghiệp được quyền chủ động hơn trong lựa chọn ngành nghề kinh doanh. 

(2) Luật Đầu tư (sửa đổi, bổ sung năm 2020) được xem là “luật khung” về môi trường đầu tư, luật đã loại bỏ nhiều ngành nghề đầu tư có điều kiện, mở rộng không gian kinh doanh cho khu vực tư nhân. Điểm mới nổi bật: bổ sung ngành nghề ưu đãi đầu tư (đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, chuyển đổi số, …); đơn giản hóa quy trình cấp giấy chứng nhận đầu tư. Kết quả là chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện và được xếp vào nhóm tốt nhất về hiệu quả hoạt động1.

(3) Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 là cơ sở để Chính phủ và các bộ ngành, địa phương thống nhất xây dựng và triển khai các chính sách phù hợp đối với gần 97% số lượng doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động, phù hợp với các cam kết mà Chính phủ đã ký kết theo các hiệp định và hiệp ước song phương, đa phương. Luật quy định: hỗ trợ tiếp cận tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất; hỗ trợ đào tạo, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường; có chính sách ưu đãi với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và tham gia cụm liên kết ngành. Đến nay, khu vực kinh tế tư nhân có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới”2.

Thứ hai, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch. Cắt giảm tối đa thời gian thực hiện các thủ tục hành chính:

(1) Từ ngày 01/7/2025 (thời điểm hiệu lực của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp), thời gian giải quyết nhiều thủ tục hành chính chỉ còn 1 ngày làm việc so với thời gian 3 ngày theo quy định Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp trước đây, đây là điểm khác biệt đáng kể3.

(2) Hoàn thiện cơ chế đăng ký doanh nghiệp trên môi trường điện tử. Theo đó, Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ đã thể chế hóa nhiều nội dung của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đặc biệt đã hoàn thiện cơ chế đăng ký doanh nghiệp trên môi trường điện tử, khai thác và chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Qua đó, góp phần cắt giảm chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính có liên quan đến doanh nghiệp. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP cũng quy định tất cả các thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh được thực hiện trên môi trường điện tử; 100% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến toàn trình cấp độ cao nhất (cấp độ 4) theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026.

Về thuế – hải quan: kê khai, nộp thuế điện tử qua hệ thống eTax đã triển khai rộng khắp cả nước. 99% doanh nghiệp kê khai và nộp thuế online, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí mỗi năm4. Thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu được rút ngắn từ 2 – 3 ngày xuống còn 1 ngày5; nhiều thủ tục rườm rà, giấy tờ không cần thiết về hải quan sẽ được cắt giảm, quy trình chuyển sang trực tuyến nên thời gian xử lý giảm tới 50% (theo Quyết định số 1848/QĐ-TTg ngày 27/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ). Nhờ đó, đẩy nhanh tiến độ thông quan, giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian6.

Việc hoàn thiện khung pháp lý và cải cách hành chính đã góp phần đáng kể trong việc giảm chi phí không chính thức và rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp tư nhân; tạo dựng niềm tin và tâm lý an tâm đầu tư dài hạn của nhà đầu tư trong và ngoài nước; tăng số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường: trong 8 tháng đầu năm 2025, cả nước có 128,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.254,5 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là gần 777 nghìn lao động, tăng 15,7% về số doanh nghiệp, tăng 26,1% về số vốn đăng ký và tăng 15,5% về số lao động so với cùng kỳ năm ngoái. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng năm 2025 đạt 9,8 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm 20247.

Thứ ba, chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân phát triển toàn diện, nâng cao sức cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các chính sách hỗ trợ này trải dài trên nhiều lĩnh vực, như: thuế, tín dụng, đất đai, khởi nghiệp sáng tạo và chuyển đổi số.

(1) Ưu đãi về thuế, trong đó miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và đầu tư vào các khu vực khó khăn. Ví dụ: doanh nghiệp thành lập mới tại khu công nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm đầu, giảm 50% cho 4 năm tiếp theo (Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội quy định về chính sách hỗ trợ thuế, phí, lệ phí trong một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân).

(2) Chính sách tín dụng ưu đãi, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi thông qua các chương trình tín dụng của Ngân hàng nhà nước. Ví dụ: hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong giai đoạn phục hồi kinh tế sau dịch (theo Điều 2 Nghị định số 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh).

(2) Thay đổi hình thức nộp tiền thuê đất có lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Theo đó, khoản 2 Điều 30 Luật Đất đai năm 2024 cho phép: “tổ chức kinh tế, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê được lựa chọn chuyển sang thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm. Tiền thuê đất đã nộp được khấu trừ vào tiền thuê đất hằng năm phải nộp theo quy định của Chính phủ”. Quy định mới này vừa hỗ trợ cho doanh nghiệp, vừa nắn chỉnh nguồn thu theo hướng kích thích sinh lợi từ đất đai. Được nộp tiền sử dụng đất hằng năm sẽ giúp chủ đầu tư giảm bớt gánh nặng tài chính trong thời gian đầu triển khai dự án8.

(3) Hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp tư nhân. Dự án “Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số” (SMEdx) được quy định tại Điều 5 Nghị định số 80/2021/NĐ‑CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, như: hỗ trợ doanh nghiệp thuê hoặc mua sử dụng nền tảng số để chuyển đổi số; hỗ trợ tư vấn đánh giá mức độ chuyển đổi số và giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp; xây dựng đội ngũ tư vấn viên chuyển đổi số tại địa phương; đào tạo nguồn nhân lực chuyển đổi số, tổ chức hội thảo, truyền thông, xây dựng công cụ hỗ trợ; Chương trình SMEdx, quy định định hướng, mục tiêu, các nền tảng số được lựa chọn để hỗ trợ doanh nghiệp. Tính đến ngày 10/10/2024, đã có gần 1,3 triệu lượt doanh nghiệp tiếp cận chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số – SMEdx; trong đó, số doanh nghiệp dùng các nền tảng số của chương trình là 401.072, ước đạt 100,27 % kế hoạch năm9.

Mặc dù được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển, song, kinh tế tư nhân hiện vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, như:  “thể chế, pháp luật còn vướng mắc, bất cập; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa được quan tâm đúng mức; quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh chưa được bảo đảm đầy đủ. Kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn, công nghệ, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao. Một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả và khó tiếp cận; chi phí kinh doanh còn cao”10. Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới, cần có những giải pháp tổng thể, toàn diện, đột phá để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách.

3. Một số giải pháp

Một là, thống nhất nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân. Thay vì coi kinh tế tư nhân chỉ là một thành phần bổ sung, cần xác định rõ khu vực này là động lực chính, nòng cốt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là phải loại bỏ hoàn toàn tư tưởng “trọng công hơn tư” đã tồn tại từ lâu.

Hai là, thay đổi phương thức quản lý từ “kiểm soát” sang “phục vụ và đồng hành”. Cụ thể, Nhà nước cần tôn trọng và tin tưởng vào sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, coi họ là đối tác quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước; tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, loại bỏ những rào cản hành chính không cần thiết, giúp doanh nghiệp an tâm đầu tư và phát triển; giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp.

Ba là, xây dựng môi trường pháp lý thông thoáng và công bằng. Cần sớm hoàn thiện thể chế bằng cách ban hành Nghị quyết mới của Trung ương để thay thế các quy định cũ, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và minh bạch (thay thế Nghị quyết số 10/2017/NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bằng một nghị quyết mới, đồng bộ với các luật và nghị định hiện hành mà vẫn phải bảo đảm sự phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số). Hệ thống pháp luật cần được sửa đổi để giảm rào cản hành chính và chi phí tuân thủ, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, như: cần rà soát, sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 theo hướng phân loại doanh nghiệp thành các nhóm cụ thể để đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng đối tượng.

Bốn là, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững và hội nhập. Nhà nước cần có một chiến lược phát triển kinh tế tư nhân rõ ràng, tập trung vào việc giúp doanh nghiệp tăng tính tự chủ, tự cường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với quốc tế và hoàn thiện khung pháp lý cho chuyển đổi xanh và chuyển đổi số sẽ là những bước đi quan trọng, giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập thành công.

Năm là, đánh giá và điều chỉnh định kỳ, hằng năm, cần tổ chức rà soát và đánh giá các chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp. Các kết quả này sẽ được báo cáo lên các cấp có thẩm quyền để kịp thời điều chỉnh chính sách, bảo đảm các mục tiêu đề ra luôn có tính khả thi.

Sáu là, tăng cường kết nối và cung cấp thông tin. Để các doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững và hội nhập, Nhà nước cần đóng vai trò cầu nối, cung cấp thông tin và tạo ra các hệ sinh thái hỗ trợ, như: (1) Xây dựng các kênh thông tin chính thống, đáng tin cậy để cung cấp kịp thời các dữ liệu về thị trường, chính sách mới và định hướng phát triển ngành. Điều này giúp các doanh nghiệp có cơ sở vững chắc để ra quyết định kinh doanh; (2) Thúc đẩy hợp tác: tổ chức các sự kiện, diễn đàn để kết nối doanh nghiệp với nhau, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp lớn, đầu ngành với các hộ kinh doanh và hợp tác xã. Sự liên kết này tạo ra chuỗi giá trị, giúp các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào các dự án lớn hơn, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Chú thích: 

1. Việt Nam ở đâu trên Báo cáo sẵn sàng kinh doanh 2024 của Ngân hàng Thế giới. https://baodautu.vn/viet-nam-o-dau-tren-bao-cao-san-sang-kinh-doanh-2024-cua-ngan-hang-the-gioi-d226621.html

2, 10. Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

3. Chỉ mất 1 ngày để thực hiện nhiều thủ tục hành chính trong đăng ký doanh nghiệp. https://baodautu.vn/chi-mat-1-ngay-de-thuc-hien-nhieu-thu-tuc-hanh-chinh-trong-dang-ky-doanh-nghiep-d320362.html

4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế: Tiết kiệm chi phí, tăng tiện ích cho người nộp thuế. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/ung-dung-cong-nghe-thong-tin-trong-quan-ly-thue-tiet-kiem-chi-phi-tang-tien-ich-cho-nguoi-nop-thue-119943.html

5. Giảm thời gian thông quan, khơi thông dòng chảy xuất nhập khẩu. https://vtv.vn/kinh-te/giam-thoi-gian-thong-quan-khoi-thong-dong-chay-xuat-nhap-khau-20250411133700167.htm

6. Rút ngắn 50% thời gian xử lý thủ tục hải quan và tăng cường số hoá. https://vneconomy.vn/rut-ngan-50-thoi-gian-xu-ly-thu-tuc-hai-quan-va-tang-cuong-so-hoa.htm

7. Tình hình thành lập doanh nghiệp trong 8 tháng năm 2025 qua các con số. https://baomoi.com/tinh-hinh-thanh-lap-doanh-nghiep-trong-8-thang-nam-2025-qua-cac-con-so-c53180398.epi

8. Quy định mới trong luật đất đai sửa đổi: thị trường bất động sản có bước ngoặt gì?. https://tienphong.vn/quy-dinh-moi-trong-luat-dat-dai-sua-doi-thi-truong-bat-dong-san-co-buoc-ngoat-gi-post1606027.tpo?

9. Hơn 401.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa dùng các nền tảng số của chương trình SMEdx. https://vietnamnet.vn/hon-401-000-doanh-nghiep-nho-va-vua-dung-cac-nen-tang-so-cua-chuong-trinh-smedx-2339267.html