Một số yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa

Some factors affecting ensuring economic benefits of farmers in Thanh Hoa province

Trung tá, ThS. Lê Văn Tùng
Hệ 5, Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Lợi ích kinh tế của nông dân là động lực thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, là cốt lõi trong sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa là tổng thể các hoạt động của chủ thể trong tạo lập các điều kiện và cơ chế để nông dân được hưởng lợi ích vật chất tương xứng với vai trò của họ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế – xã hội.

Từ khóa: Lợi ích kinh tế; nông nghiệp; nông dân; nông thôn; Thanh Hóa.

Abstract: Farmers’ economic benefits are the driving force to promote production and improve quality of life, and are the core of the sustainable development of Vietnam’s agriculture and rural areas. Ensuring the economic benefits of farmers in Thanh Hoa province is the totality of the subject’s activities in creating conditions and mechanisms for farmers to enjoy material benefits commensurate with their role in agricultural production and socio-economic development.

Keywords: Economic benefits, agriculture, farmers, rural areas, Thanh Hoa.

1. Đặt vấn đề

Lợi ích kinh tế của nông dân là động lực thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, là cốt lõi trong sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Nông dân không chỉ là người sản xuất mà còn là chủ thể trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chính vì vậy, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân luôn đóng vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn và ổn định xã hội tại Việt Nam. Ở Việt Nam, việc bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế của nông dân là cơ sở để thực hiện thành công mục tiêu “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã xác định: “Nông dân và cư dân nông thôn có trình độ, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao, làm chủ quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, quy mô sản xuất hàng hoá nông sản ngày càng lớn, bảo đảm môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu”1 và tầm nhìn đến năm 2045 “Nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hoá quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong và ngoài nước, công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản hiện đại, xuất khẩu nhiều loại nông sản đứng hàng đầu thế giới. Nông thôn hiện đại, có điều kiện sống tiệm cận với đô thị, môi trường sống xanh, sạch, đẹp, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc”2.

2. Thực trạng bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn với địa hình đa dạng (đồng bằng, ven biển, đồi núi), dân số đông, nhiều dân tộc thiểu số điều kiện phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn. Hiện trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại cơ hội của nông dân trong Tỉnh thoát nghèo và làm giàu thông qua nông nghiệp hiện đại hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, song cũng đặt ra thách thức về việc thích nghi với công nghệ và sự thay đổi diện tích đất sản xuất. Chính vì vậy, thời gian qua cùng với thúc đẩy kinh tế phát triển, Thanh Hóa luôn coi trọng công tác bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở Tỉnh còn có những hạn chế nhất định: việc bảo đảm liên kết trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn bộc lộ nhiều bất cập; thực hiện chính sách của nhà nước để hỗ trợ nông dân còn chưa kịp thời; nâng cao đời sống vật chất và khả năng tái sản xuất sức lao động của nông dân còn có những khó khăn nhất định,… Vì vậy, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa chịu sự ảnh hưởng của một số tố như sau:

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa

Thứ nhất, quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước về bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân.

Quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đều hướng tới “Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội nông thôn cần chú trọng phát triển hài hoà, đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, gắn với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho nông dân và cư dân nông thôn”3. Đây sẽ là cơ sở chính trị, pháp lý để các địa phương, trong đó có Thanh Hóa triển khai thực hiện bảo đảm lợi ích kinh tế cho nông dân đúng tôn chỉ, mục đích và đạt kết quả như mong muốn.

Tuy nhiên, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân có phạm vị rất rộng trong việc tiếp cận và sử dụng các tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai; bảo đảm thu nhập và liên kết trong quá trình sản xuất nông nghiệp; bảo đảm liên kết trong phân phối và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; thực hiện chính sách của nhà nước để hỗ trợ nông dân; nâng cao đời sống vật chất và khả năng tái sản xuất sức lao động của nông dân. Do đó, nếu quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước về bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân được cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ thì sẽ gây khó khăn trong thực hiện bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách được xem là yếu tố quan trọng để bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân được thực hiện đúng quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tình hình mới.

Thứ hai, nhận thức, trách nhiệm, năng lực của các chủ thể tham gia bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở địa phương.

Bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở tỉnh Thanh Hóa là sự thống nhất nhận thức và cộng đồng trách nhiệm của các chủ thể tham gia bảo đảm, bao gồm: Đảng bộ, chính quyền các cấp; các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp và chính người nông dân ở Tỉnh. Tổ chức Đảng, chính quyền các cấp (nhất là cấp xã/phường; thôn/bản…), các sở, ban, ngành liên quan có nhận thức đúng, trách nhiệm cao, sẽ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; thường xuyên phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát, động viên mọi tổ chức, mọi lực lượng tham gia, tạo nên sự đồng bộ, thống nhất chặt chẽ từ trên xuống dưới. Đây là điều kiện đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về phát triển kinh tế – xã hội nói chung, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân nói riêng được triển khai trên thực tế.

Ngược lại, nếu bộ máy hành chính ở các cấp trên địa bàn Tỉnh xa dân, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả; cán bộ, công chức thiếu năng lực, trách nhiệm và gây phiền hà cho doanh nghiệp thì sẽ gây khó khăn cho quản lý và thực hiện chính sách tới nông dân. Các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp và người nông dân trên địa bàn Tỉnh có nhận thức đúng về lợi ích kinh tế của nông dân, bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân; người nông dân sẽ có ý thức hơn trong vươn lên “tự an sinh” “tự bảo đảm” “tự làm giàu” cho cuộc sống của bản thân và gia đình. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của cá nhân và cộng đồng để tiến hành giám sát, phản biện xã hội trong thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với hợp phần của bảo đảm lợi ích kinh tế cho nông dân từ lúc hoạch định cho đến quá trình thực hiện. Ngược lại, nếu nhận thức chưa tốt, trách nhiệm không cao thì chất lượng, hiệu quả của việc huy động nguồn lực trong bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân sẽ thấp; dẫn đến thờ ơ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân

Thứ ba, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của Tỉnh.

Điều kiện tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho bảo đảm cuộc sống người dân nói chung và lợi ích kinh tế của nông dân nói riêng. Nếu địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông đi lại thuận tiện, sẽ có điều kiện tiếp cận thị trường, thu hút các nguồn lực bên ngoài, đẩy mạnh phát triển kinh tế, gia tăng nguồn lực vật chất cho bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân; đồng thời, người nông dân cũng thuận tiện hơn trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục,… từng bước nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần. Ngược lại, nếu nằm ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, giao thông đi lại khó khăn, sẽ gặp bất lợi trong thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh tế – xã hội, cũng như tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng cũng chi phối rất lớn đến bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Nếu địa hình bằng phẳng, khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi sẽ là điều kiện lý tưởng để người nông dân tập trung phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, bảo đảm sinh kế bền vững. Ngược lại, địa hình phức tạp, bị chia cắt; khí hậu, thổ nhưỡng không thuận lợi sẽ dễ dẫn đến thiên tai dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt, sạt lở,… phá hủy những thành quả phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được, ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến sinh kế của người nông dân.

Điều kiện kinh tế – xã hội của Tỉnh, nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế; tình hình chính trị, xã hội,… có vai trò quan trọng trong thực thi chính sách, huy động nguồn lực cũng như người nông dân tiếp cận được các nguồn lực sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trong từng giai đoạn. Nếu kinh tế tăng trưởng cao, một mặt địa phương có khả năng tích lũy, tự chủ về ngân sách sẽ có điều kiện tăng đầu tư cho thực hiện các chính sách xã hội, bảo đảm lợi ích kinh tê của nông dân; mặt khác, cải thiện mức sống dân cư, gia tăng khả năng chi trả, tích luỹ và mở rộng sản xuất, nhất là khu vực nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

Ngược lại, nếu kinh tế chậm phát triển, nguồn ngân sách địa phương hạn hẹp, dựa nhiều vào sự hỗ trợ của Trung ương, khả năng gia tăng nguồn lực cho người nông dân sẽ hạn chế; đồng thời khả năng tiếp cận các nguồn lực của người dân sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của nông dân. Những thay đổi về điều kiện chính trị, xã hội có thể tác động trực tiếp đến thu nhập, việc làm của nông dân. Nhìn chung, trình độ dân trí càng cao, nhận thức của con người càng tiến bộ thì càng thuận lợi cho việc thực thi chính sách và pháp luật; tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Tỉnh được giữ vững, môi trường văn hóa lành mạnh… sẽ tạo điều kiện thuận lợi thực thi có hiệu quả các chính sách trong bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân.

Thứ tư, các yếu tố mang tính thời đại như năng lực chuyển đổi số và khả năng tiếp cận công nghệ mới của cơ quan, tổ chức, người nông dân.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa, việc bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã và đang chịu tác động trực diện từ nhiều yếu tố mang tính thời đại. Trước hết năng lực chuyển đổi số của các cơ quan, tổ chức là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả cung cấp dịch vụ. Nếu hệ thống quản lý còn lạc hậu, vận hành chậm chạp hoặc thiếu nhân lực có kỹ năng số, thì các dịch vụ như khám chữa bệnh từ xa, học trực tuyến hay hỗ trợ xã hội điện tử khó có thể triển khai đồng bộ và hiệu quả. Bên cạnh đó rủi ro số, bao gồm nguy cơ mất an toàn thông tin, sai lệch dữ liệu hoặc gian lận công nghệ,

cũng khiến người dân hoài nghi và làm sâu sắc thêm khoảng cách số giữa các nhóm dân cư. Đồng thời, khả năng tiếp cận công nghệ mới của người dân cũng đóng vai trò quan trọng. Nhiều nhóm yếu thế như người nghèo hay người dân vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng công nghệ, dẫn đến nguy cơ bị loại khỏi hệ thống dịch vụ hiện đại. Nếu các yếu tố này nếu không được kiểm soát và khắc phục sẽ làm gia tăng bất bình đẳng, cản trở tiến trình bảo đảm tiếp cận công bằng và toàn diện các lợi ích kinh tế của nông dân trên địa bàn Tỉnh trong thời đại số.

Thứ năm, các nguồn lực dành cho bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân.

Nguồn lực dành cho bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở nước ta là tập hợp các yếu tố về đất đai, tài chính; nguồn lực con người; cơ sở vật chất; khoa học công nghệ,… Nó có vai trò rất quan trọng trong bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân. Bởi lẽ, trên thực tế, nếu không có hoặc không đủ nguồn lực thì không thể thực hiện được các mục tiêu bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân cho dù hoạt động này mang ý nghĩa xã hội to lớn.

Nguồn lực tài chính là yếu tố nền tảng tạo hành lang pháp lý, chính sách tín dụng ưu đãi, và các dịch vụ công thuận lợi để nông dân yên tâm sản xuất và kinh doanh; nếu ngân sách không đủ, dịch vụ sẽ bị giới hạn về quy mô, thiếu đồng đều giữa các khu vực, và khó duy trì tính bền vững. Bên cạnh đó, nguồn lực về khoa học công nghệ và Cơ giới hóa giúp đẩy mạnh áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao, VietGAP, GlobalGAP trong sản xuất và chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm qua đó giúp nâng cao kết quả sản xuất, tiết kiệm chi phí,… và ngược lại. Như vậy, có thể thấy nếu không có nguồn lực đầy đủ và phân bổ hợp lý, công tác bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân sẽ không thể bảo đảm hiệu quả, dẫn đến bất bình đẳng và kìm hãm sự phát triển bền vững. Vì vậy, việc tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

Chú thích:
1, 2, 3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2020) Kết luận số 81-KL/TW, ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
5. Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa (2025). Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2024. H. NXB Thống kê.