The practical awareness of democracy among military personnel in building a modern Vietnamese people’s army
Đại úy Nguyễn Chí Công
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Ý thức thực hành dân chủ của quân nhân là yếu tố nền tảng góp phần hình thành sức mạnh chính trị – tinh thần trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc nâng cao ý thức thực hành dân chủ của quân nhân đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa giáo dục, hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ và xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, qua đó, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của quân đội.
Từ khóa: Dân chủ; quân nhân; ý thức; quân đội hiện đại; sức mạnh nội sinh.
Abstract: The practice of democracy among military personnel is a fundamental element contributing to the formation of political and spiritual strength in building a modern Vietnamese People’s Army. In the context of accelerating the building of a revolutionary, regular, elite, and modern army, enhancing the democratic awareness of military personnel requires a synchronized combination of education, institutional improvement, promoting the exemplary role of officers, and building a healthy military culture, thereby creating endogenous impetus for the sustainable development of the army.
Keywords: Democracy; military personnel; consciousness; modern army; intrinsic strength.
1. Đặt vấn đề
Hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vị thế là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Mọi thắng lợi của quân đội trong suốt chặng đường ấy đều bắt nguồn từ sức mạnh của con người, yếu tố giữ vai trò quyết định trong sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: con người là chủ thể sáng tạo của lịch sử và sức mạnh vật chất chỉ được phát huy thông qua hoạt động có ý thức của quần chúng.
Luận điểm nổi tiếng của C.Mác: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”1 cho thấy môi trường dân chủ là nơi tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo của con người được khơi dậy và cũng là điều kiện bảo đảm cho con người phát triển toàn diện. Kế thừa luận điểm này, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng sức mạnh của quân đội không nằm ở vũ khí mà trước hết ở trình độ giác ngộ và kỷ luật tự giác của những người giác ngộ, khẳng định dân chủ đúng đắn là nền tảng để hình thành kỷ luật vững chắc. Gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải “thực hành dân chủ rộng rãi nhưng giữ kỷ luật thật nghiêm”2, coi dân chủ là động lực để xây dựng tinh thần đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội, khơi dậy niềm tin và sức mạnh tinh thần của quân đội.
2. Một số vấn đề cơ bản về ý thức dân chủ
Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, đã xác định phương hướng: Phát huy truyền thống anh hùng, sức mạnh tổng hợp, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Do vậy, việc nhận diện đúng, đánh giá đúng và phát huy đúng ý thức thực hành dân chủ của quân nhân trở thành một yêu cầu khách quan, trực tiếp gắn với chất lượng chính trị, kỷ luật và sức mạnh tổng hợp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới hiện nay. Bởi lẽ, ý thức thực hành dân chủ của quân nhân là sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức, thái độ và năng lực hành vi, thể hiện ở khả năng tự giác thực hiện quyền và trách nhiệm làm chủ trong các hoạt động quân sự. Trong môi trường đó, dân chủ không tồn tại như quyền lợi đơn lẻ, mà được thể hiện như một phương thức để quân nhân tham gia vào đời sống chính trị – tư tưởng của đơn vị, qua đó phát huy trách nhiệm của mọi quân nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của đơn vị. Như C.Mác từng chỉ rõ: “Hoạt động cách mạng tự giác là điều kiện để con người khẳng định bản chất xã hội của mình”3. Tinh thần đó cho thấy dân chủ gắn liền với khả năng cá nhân tham gia sáng tạo và chịu trách nhiệm trong cộng đồng, là một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với mỗi quân nhân.
Xét về nội dung, ý thức thực hành dân chủ của quân nhân trước hết được thể hiện ở nhận thức về quyền và trách nhiệm làm chủ. Quân nhân không chỉ chấp hành mệnh lệnh mà còn là chủ thể trực tiếp xây dựng đơn vị, vì vậy, họ phải hiểu đầy đủ quyền được tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến và trách nhiệm gắn bó với tập thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Bộ đội ta toàn là con em nhân dân, cho nên việc gì cũng phải dựa vào lực lượng và sáng kiến của chiến sĩ”4. Điều đó khẳng định, ý thức làm chủ không phải khẩu hiệu, mà là nền tảng để người lính phát huy trách nhiệm và tinh thần tích cực, tự giác trong thực hiện nhiệm vụ.
Trên phương diện cơ chế, ý thức thực hành dân chủ thể hiện ở sự hiểu biết đúng đắn về cơ chế và giới hạn của dân chủ trong quân đội. Đây là loại dân chủ có tổ chức, vận hành trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định gắn với đặc thù từng đơn vị, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Dân chủ không đối lập với kỷ luật; trái lại, chỉ khi dân chủ được thực hiện đúng thì kỷ luật tự giác mới được hình thành. V.I.Lênin khẳng định, tự do chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ tổ chức và kỷ luật của người cách mạng. Điều đó cho thấy dân chủ trong quân đội phải là dân chủ gắn với trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, với sự tập trung, thống nhất, không phải sự tùy tiện hay tự do vô nguyên tắc.
Trong đời sống hằng ngày, ý thức thực hành dân chủ còn được bộc lộ qua năng lực và thói quen vận dụng dân chủ vào các mối quan hệ và hoạt động cụ thể: sự mạnh dạn, thẳng thắn trong sinh hoạt, học tập hằng ngày, trong phát biểu ý kiến; tinh thần giám sát và phản biện có trách nhiệm; sự nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình; thái độ hợp tác trong quan hệ đồng chí, đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Phê bình cốt để giúp nhau tiến bộ”5. Khi tự phê bình và phê bình được thực hiện đúng, nó tạo nên môi trường dân chủ lành mạnh, giúp quân nhân trưởng thành cả về bản lĩnh và phương pháp, tác phong công tác.
Từ ba phương diện trên có thể thấy, ý thức thực hành dân chủ của quân nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Đây là sự thống nhất giữa nhận thức làm chủ, hiểu biết về cơ chế dân chủ – kỷ luật và năng lực thực hành trong thực tiễn. Nó không chỉ quyết định chất lượng chính trị, tinh thần của bộ đội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy và kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.
Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và những biến động nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc, phân mảnh và phân tuyến mạnh của thế giới, môi trường hoạt động quân sự sẽ tiếp tục đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với bản lĩnh, trí tuệ và tính chủ động của mỗi quân nhân; đồng thời, các thế lực thù địch gia tăng chống phá, tác động vào nhận thức, tư tưởng, kỷ luật và sự thống nhất nội bộ quân đội. Trước yêu cầu đó, ý thức thực hành dân chủ của quân nhân không chỉ giữ vai trò quan trọng mà còn trở thành nhân tố nội sinh quyết định sức mạnh tổng hợp và khả năng thích ứng của quân đội, biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất, ý thức thực hành dân chủ của quân nhân là cơ sở để hiện thực hóa nguyên tắc “tập trung dân chủ”, tạo nên sức mạnh thống nhất. Một quân đội hiện đại phải có sự thống nhất cao về ý chí và hành động, nhưng sự thống nhất đó chỉ vững chắc khi được xây dựng trên nền tảng dân chủ thực chất. Dân chủ giúp huy động trí tuệ tập thể, tiếp nhận mọi ý kiến, kể cả ý kiến khác biệt để hình thành quyết định đúng đắn, khách quan của người chỉ huy. Khi quân nhân cảm nhận rằng tiếng nói của mình được lắng nghe và tôn trọng, họ sẽ chủ động, tự giác chấp hành mệnh lệnh và chính sự tự giác đó mới tạo nên kỷ luật bền vững nhất. Như V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng không có sự thống nhất ý chí thì không thể có hành động thống nhất. Kỷ luật của quân đội ta là “tự giác, nghiêm minh” chứ không phải gò ép theo kiểu quân thần thời phong kiến, đó là bản chất của kỷ luật trong quân đội chính quy, hiện đại, tạo nên phẩm chất cao quý, điểm tựa vững chắc trong xây dựng môi trường hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, ý thức thực hành dân chủ góp phần khơi thông và phát huy nguồn lực trí tuệ, sáng tạo của toàn quân. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, sức mạnh quân sự không chỉ dựa vào vũ khí trang bị mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực tư duy, sáng tạo và khả năng thích ứng của người lính. Môi trường dân chủ lành mạnh tạo điều kiện để những sáng kiến, ý tưởng cải tiến được hình thành từ thực tiễn chiến đấu và công tác, từ chính những quân nhân trực tiếp vận hành trang bị, khí tài.
Tư tưởng Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”6. Chính tinh thần ấy, qua các kỳ đại hội, Đảng ta đều nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong quân đội, “dân” ở đây chính là cán bộ, chiến sĩ, những chủ thể tham gia trực tiếp vào mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, và khi ý thức dân chủ được phát huy, trí tuệ tập thể sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự đổi mới, tiến bộ và sáng tạo trong toàn quân.
Thứ ba, ý thức thực hành dân chủ góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân đội hiện đại, đoàn kết, tin cậy, công bằng. Không thể xây dựng quân đội hiện đại trong một môi trường văn hóa thiếu dân chủ, nơi cán bộ và chiến sĩ thiếu niềm tin, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Ý thức thực hành dân chủ góp phần hình thành bầu không khí cởi mở, công khai và minh bạch trong sinh hoạt, học tập, công tác; làm cho mỗi quân nhân cảm thấy mình thực sự là một phần của tập thể. Khi các mặt công tác, đặc biệt là công tác cán bộ, thi đua – khen thưởng, kỷ luật được thực hiện minh bạch, công bằng, niềm tin nội bộ sẽ được củng cố. Sự tin cậy giữa cán bộ và chiến sĩ chính là yếu tố căn bản của “sức mạnh tâm lý – xã hội” trong quân đội, như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”7. Một đơn vị đoàn kết là một đơn vị mạnh, và dân chủ chính là con đường để củng cố tinh thần đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội.
Thứ tư, ý thức thực hành dân chủ giúp tăng cường sức đề kháng, phòng chống tiêu cực, bảo vệ sự trong sáng của người quân nhân cách mạng, “Bộ đội Cụ Hồ”. Dân chủ thực chất có vai trò như một cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ, hạn chế các biểu hiện tiêu cực như quan liêu, cửa quyền, tham nhũng hay lợi ích nhóm. Khi mỗi quân nhân có ý thức giám sát và dũng khí đấu tranh với sai trái, tổ chức đảng và chỉ huy sẽ được củng cố từ bên trong. Cơ chế dân chủ giúp phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm, đồng thời tạo môi trường an toàn để quân nhân dám nói thẳng, nói thật, dám trình bày chính kiến của mình. Đây chính là “lá chắn mềm” nhưng hiệu quả nhất để bảo vệ sự trong sáng của quân đội cách mạng, là điều kiện có tính nguyên tắc trong bối cảnh quân đội phải đối mặt với chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch.
Thứ năm, ý thức thực hành dân chủ góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Quân đội không chỉ là lực lượng chiến đấu mà còn là một môi trường giáo dục, rèn luyện con người, là trường học lý tưởng của thanh niên Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng. Quá trình thực hành dân chủ giúp quân nhân rèn luyện kỹ năng lắng nghe, thuyết trình, hợp tác, phản biện, làm việc nhóm, tạo ra những năng lực quan trọng đối với nguồn nhân lực hiện đại. Khi hoàn thành nghĩa vụ hoặc chuyển về địa phương, họ trở thành những công dân có trách nhiệm, có tác phong khoa học, có năng lực làm chủ bản thân và làm chủ cộng đồng, góp phần xây dựng quê hương giàu mạnh, dân chủ, văn minh và hiện đại.
Thực tiễn, công tác giáo dục và thực hành dân chủ trong Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, củng cố đoàn kết nội bộ, nâng cao trách nhiệm cá nhân và phát huy trí tuệ tập thể trong xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu”. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai rộng rãi, từng bước đi vào nền nếp, tạo không khí cởi mở trong sinh hoạt và công tác, giúp quân nhân cảm nhận rõ hơn quyền và trách nhiệm làm chủ của mình. Nhiều đơn vị đã tổ chức tốt các diễn đàn dân chủ, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ bày tỏ tâm tư, kiến nghị, góp ý xây dựng đơn vị; qua đó, tăng cường tính minh bạch và đồng thuận trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Tuy nhiên, quá trình thực hành dân chủ vẫn còn những hạn chế nhất định cần nhìn nhận nghiêm túc: Một số ít cán bộ, chỉ huy, quản lý còn có tư duy gia trưởng, áp đặt, tiếp thu ý kiến cấp dưới còn hình thức, chưa phát huy trí tuệ tập thể theo nguyên tắc “tập trung dân chủ”; kinh nghiệm tổ chức và hoạt động dân chủ còn hạn chế. Hoạt động sinh hoạt dân chủ ở một số đơn vị còn đơn điệu, cứng nhắc, chưa tạo được môi trường dân chủ thực sự, chưa phát huy được vai trò của quân nhân dẫn đến tình trạng “ngại nói thẳng, sợ nói thật”, “có hội nghị nhưng không có ý kiến”, làm giảm hiệu quả cơ chế thực hành dân chủ và kìm hãm sự phát triển. Bên cạnh đó, một bộ phận quân nhân nhận thức chưa đầy đủ, hiểu sai dân chủ, thiếu chủ động thực hành dân chủ, ngại phát biểu, sợ va chạm, nể nang, né tránh dẫn đến thụ động trong xây dựng tập thể, hay có trường hợp phát ngôn tự do, tùy tiện, dân chủ quá trớn, vi phạm kỷ luật, ảnh hưởng đến tính thống nhất và chính quy của đơn vị.
3. Một số giải pháp
Một là, đổi mới căn bản công tác giáo dục, tuyên truyền về dân chủ.
Khi quân nhân hiểu đúng bản chất dân chủ trong quân đội, đó là dân chủ có tổ chức, có lãnh đạo và gắn liền với kỷ luật thì họ mới có khả năng thực hành dân chủ một cách tự giác và hiệu quả. Công tác giáo dục, tuyên truyền cần thường xuyên đổi mới, linh hoạt, sáng tạo, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, qua đó giúp bộ đội thấy rõ quyền làm chủ đi đôi với trách nhiệm làm chủ, dân chủ là điều kiện để nâng cao chất lượng huấn luyện, công tác và xây dựng đơn vị. Do vậy, các đơn vị cần chuyển phương thức giáo dục, tuyên truyền từ truyền đạt một chiều sang đối thoại, sân khấu hóa, trao đổi, phân tích, tạo tình huống; tổ chức diễn đàn dân chủ, tọa đàm “cán bộ với chiến sĩ”, khảo sát ẩn danh nhu cầu và tâm tư bộ đội; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục để tăng tính hấp dẫn, trực quan. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ chính trị phải thường xuyên nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư, tình cảm của quân nhân, giải đáp kịp thời vướng mắc nhằm củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh và tạo môi trường nhận thức tích cực, lành mạnh cho sự phát triển của ý thức dân chủ trong mỗi quân nhân.
Hai là, hoàn thiện thể chế và bảo đảm thực thi nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Nếu nền tảng thể chế không rõ ràng hoặc thực thi không nghiêm, dân chủ rất dễ bị biến dạng thành hình thức hoặc bị lợi dụng. Nội dung trọng tâm của giải pháp là cụ thể hóa quyền tham gia, quyền phản ánh, quyền giám sát của quân nhân; minh bạch hóa các lĩnh vực nhạy cảm như công tác cán bộ, tài chính, các chế độ, tiêu chuẩn đời sống của bộ đội và quy định cơ chế phản hồi bắt buộc đối với mọi kiến nghị của bộ đội. Để triển khai hiệu quả, đơn vị cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ cả thường xuyên và đột xuất; áp dụng hệ thống góp ý ẩn danh, hòm thư điện tử, khảo sát nội bộ; bảo vệ người dám nói thẳng, không để xảy ra tình trạng trù dập, định kiến; đồng thời xử lý nghiêm hành vi lợi dụng dân chủ gây chia rẽ hoặc xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Quân đội. Chỉ khi thể chế đầy đủ và có cơ chế bảo vệ thực chất, dân chủ mới phát huy sức mạnh nội sinh, nền tảng tinh thần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Ba là, đội ngũ cán bộ, chỉ huy thực sự gương mẫu trong thực hành dân chủ theo phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”.
Đây là giải pháp mang tính quyết định, bởi cán bộ chính là người định hướng, tổ chức và lan tỏa tinh thần dân chủ trong đơn vị. Ý thức dân chủ của chiến sĩ phụ thuộc rất lớn vào phong cách lãnh đạo và năng lực lắng nghe của người chỉ huy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Cán bộ là gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu”8, do vậy cán bộ quân đội phải thật sự hiểu, gần gũi và tin yêu bộ đội, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến cấp dưới, khuyến khích phản biện, tiếp thu góp ý, thực hiện tự phê bình nghiêm túc và không né tránh trách nhiệm. Nội dung trọng tâm là đưa tiêu chí “thực hành dân chủ” vào đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm và xem xét khi bổ nhiệm, quy hoạch, đề bạt. Các đơn vị cần thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức sinh hoạt chuyên đề; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện và kiên quyết xử lý nghiêm các biểu hiện gia trưởng, độc đoán hoặc làm việc theo cảm tính. Khi cán bộ gương mẫu, dân chủ mới đi vào thực chất, tạo được sự tin tưởng và khích lệ tinh thần chủ động, sáng tạo của mọi quân nhân trong mọi hoạt động của đơn vị.
Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa phát huy dân chủ với tăng cường kỷ luật.
Dân chủ đúng đắn sẽ hình thành kỷ luật tự giác, còn kỷ luật nghiêm giúp dân chủ không bị lệch lạc, tùy tiện. Nội dung cốt lõi là làm cho quân nhân hiểu rõ tính biện chứng giữa dân chủ và kỷ luật; khắc phục biểu hiện nhầm lẫn dân chủ với tự do vô nguyên tắc hoặc coi kỷ luật chỉ là cưỡng chế đơn thuần. Để thực hiện, đơn vị cần thường xuyên đưa nội dung “dân chủ – kỷ luật” vào sinh hoạt Đảng, sinh hoạt đơn vị; tổ chức hội nghị dân chủ trước khi thống nhất các quyết định chung; kết hợp xây dựng chính quy với tạo điều kiện để quân nhân phát biểu ý kiến trước khi hành động thống nhất. Việc xử lý vi phạm kỷ luật phải đúng nguyên tắc, công khai, minh bạch, tránh thái độ áp đặt, cảm tính. Khi dân chủ và kỷ luật được vận hành hài hòa, đơn vị sẽ ổn định, có nền nếp chính quy, đoàn kết, thống nhất cao về ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp vượt trội.
Năm là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, văn minh, hiện đại. Giải pháp này có tác động sâu xa và lâu dài nhất đối với việc hình thành ý thức dân chủ của quân nhân. Môi trường văn hóa chính là “không gian tinh thần” nuôi dưỡng thói quen dân chủ, tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm và sự tôn trọng lẫn nhau. Do vậy, cần xây dựng bầu không khí cởi mở, tin cậy, công bằng; thực hiện minh bạch trong quan hệ công tác; khuyến khích giao tiếp thẳng thắn, xây dựng văn hóa giao tiếp, ứng xử nhân văn giữa cán bộ và chiến sĩ thông qua các buổi diễn đàn dân chủ, sinh hoạt văn hóa tư tưởng, tọa đàm, giao lưu đồng đội; phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong thực hành dân chủ; xây dựng bộ tiêu chí “đơn vị có môi trường văn hóa dân chủ tốt”; phát huy vai trò của các tổ chức đảng, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân trong duy trì môi trường văn hóa lành mạnh. Khi môi trường văn hóa tích cực được hình thành, dân chủ không chỉ là quy định mà trở thành giá trị sống, văn hóa nhân văn, thấm sâu vào nhận thức và hành vi của mỗi quân nhân.
4. Kết luận
Ý thức thực hành dân chủ của quân nhân là một trong những nhân tố quyết định đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Khi dân chủ được thực hiện đúng bản chất và gắn chặt với kỷ luật tự giác, nó trở thành nguồn sức mạnh nội sinh, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, tinh thần trách nhiệm và sự đoàn kết trong đơn vị. Trong bối cảnh quân đội đang chuyển mạnh sang hiện đại hóa, việc bồi dưỡng và phát huy ý thức thực hành dân chủ cho mọi quân nhân càng có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Các giải pháp được triển khai đồng bộ, kiên trì và có tính đột phá sẽ tạo nền tảng vững chắc để dân chủ trở thành động lực phát triển, qua đó xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, giàu tính kỷ luật, chủ động và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Chú thích:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 5.
2, 8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 296, 269.
3. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 385.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 171.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 243.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 292.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 609.



