Factors Influencing the Participation of Economics Students in Scientific Research in Hanoi
Nguyễn Thị Hồng Lam
Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS 26 để phân tích dữ liệu thu thập được từ mẫu khảo sát gồm 212 sinh viên đang theo học tại các trường kinh tế trên địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên là: môi trường nghiên cứu, động cơ nghiên cứu, năng lực của sinh viên và sự quan tâm của nhà trường. Trong đó, sự quan tâm của nhà trường tác động nhiều nhất đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các trường đại học có các giải pháp hiệu quả nhằm gia tăng hơn nữa việc tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu khoa học.
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học; sinh viên; động cơ; ý định; Việt Nam.
Abstract: This study examines the factors influencing students’ participation in scientific research by using SPSS 26 software to analyze data collected from a survey sample of 212 students currently enrolled at economics universities in Hanoi. The research findings reveal that four factors influence students’ participation in scientific research: the research environment, research motivation, students’ capabilities, and institutional support. Among these, institutional support has the greatest impact on students’ participation in scientific research. The research findings will help universities develop effective solutions to further increase student participation in scientific research activities and improve the quality of research outputs.
Keywords: Scientific research, students, motivation, intention, Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Các hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là vô cùng quan trọng và không thể thiếu, không chỉ đối với sinh viên để nâng cao kết quả học tập mà còn đối với các trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Năng lực tư duy phản biện, kỹ năng mềm và mối quan hệ xã hội đều được sinh viên phát triển thông qua nghiên cứu khoa học (Đặng Út Phượng và Nguyễn Thị Tuyết Trinh, 2023)1. Các nghiên cứu trước đây đều chứng minh rằng nghiên cứu khoa học của sinh viên đóng góp đáng kể vào sự phát triển nghề nghiệp của họ bằng cách cung cấp cho sinh viên cơ hội tiếp tục học tập và áp dụng kiến thức họ đã học vào môi trường công việc chuyên nghiệp (Bernadic và cộng sự, 20042; Lamanauskas & Augiene, 20143).
Trên thế giới, nhiều tổ chức giáo dục đã thực hiện các sáng kiến để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Nghiên cứu của Bhagavathula và cộng sự (2017)4 cho thấy, sinh viên dược có thái độ tốt đối với các hoạt động nghiên cứu. Họ tin rằng việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu sẽ tạo dấu ấn trong học thuật, cùng với sự tôn trọng từ các giảng viên. Tuy nhiên, việc sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu là một nhiệm vụ khó khăn, vì nhiều sinh viên cho rằng nghiên cứu khoa học rất khó và tốn nhiều thời gian. Một số nghiên cứu khác đã xác định những rào cản đối với việc sinh viên thiếu quan tâm đến nghiên cứu, bao gồm quản lý thời gian, không có hỗ trợ từ các khoa và sự thiếu hụt về mặt tài chính (Bovijn và cộng sự, 20175). Daly (2013)6 và Zier & Stagnaro-Green (2001)7 báo cáo rằng tiền thưởng là nguồn cảm hứng chính để tham gia nghiên cứu, sau đó là các lớp dạy bổ sung kiến thức và có đủ thời gian.
Tại Việt Nam, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình đào tạo của các trường đại học cũng đặt ra nhiều thách thức. Những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên được chú trọng nhiều hơn, thể hiện mục tiêu các trường đại học hướng tới là “Đào tạo trình độ đại học nhằm trang bị cho người học nền tảng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, năng lực cơ bản trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, thực hành nghề nghiệp”8. Hằng năm, có nhiều cuộc thi về nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, việc thu hút sinh viên nghiên cứu khoa học là một điều không dễ dàng; tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học còn chưa cao; động cơ tham gia nghiên cứu khoa học chưa rõ ràng, dẫn tới chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học chưa bảo đảm.
2. Tổng quan nghiên cứu
Theo Babbie (1989)9, nghiên cứu khoa học là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 202510 cũng quy định: “Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học sử dụng tri thức khoa học để tạo ra giải pháp phục vụ nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế – xã hội”. Như vậy, việc thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ giúp sinh viên rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, học tập phương pháp luận khoa học, làm quen và biết sử dụng các trang thiết bị hiện đại, hình thành năng lực hoạt động khoa học độc lập (Lê Thị Tố Nga và cộng sự, 202411). Năng lực nghiên cứu khoa học sẽ hỗ trợ sinh viên trong việc: giải thích các hiện tượng một cách khoa học; đánh giá và thiết kế cuộc điều tra khoa học; và diễn giải dữ liệu và bằng chứng một cách khoa học (OECD, 201612). Muốn vậy, họ phải có khả năng và kỹ năng để thực hiện nghiên cứu khoa học, biết cách lập luận một cách khoa học và giải quyết các vấn đề được đặt ra.
Đã có nhiều nghiên cứu thực hiện phân tích về các yếu tố tác động đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Sadler và McKinney (201013) tổng kết rằng, nguyện vọng nghề nghiệp, sự tự tin, bản chất của khoa học, phát triển trí tuệ, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghiên cứu đích thực quyết định sự tham gia nghiên cứu của sinh viên. Dữ liệu được thu thập về một số đặc điểm nhân khẩu học và 3 chủ đề kết quả chính: “sự tham gia nghiên cứu tự nguyện”, “năng lực nghiên cứu tự nhận thức” và “sự tham gia nghiên cứu trong tương lai”. Trong tất cả các biến số nhân khẩu học, ngành học, giới tính nam và kinh nghiệm học đại học trước đó về ngành khoa học có liên quan đáng kể đến sự tham gia nghiên cứu tự nguyện. Dân tộc và bối cảnh địa lý không liên quan đáng kể đến bất kỳ kết quả nào.
Ogeng’o và cộng sự (201014) cũng thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang 150 sinh viên y khoa tại Trường Y, Đại học Nairobi nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu của sinh viên. Các câu trả lời được phân tích theo năm học, thái độ, sự tham gia, các yếu tố thúc đẩy, các yếu tố cản trở và số lượng bài báo được công bố. Trong số những người trả lời, 81,6% bày tỏ sự quan tâm đến việc tham gia nghiên cứu, nhưng chỉ có 38,4% trong số họ đã tham gia nghiên cứu, với 13,7% tham gia viết bài báo nghiên cứu. Các yếu tố thúc đẩy bao gồm đóng góp vào sự tiến bộ của tri thức (54,1%) và hoàn thành các yêu cầu học thuật (51,4%). Các yếu tố cản trở chính là thiếu người hướng dẫn nghiên cứu (51,9%), thiếu kiến thức về phương pháp nghiên cứu (37,7%) và thiếu kinh phí (29,9%).
Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Minh Nho (2023)15 nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ nghiên cứu khoa học của sinh viên tại Trường Đại học Đà Nẵng và qua đó tác động đến ý định nghiên cứu khoa học. Kết quả phân tích trên 510 sinh viên khảo sát cho thấy, sự tác động tích cực của giảng viên và phương pháp học tập lên sự thỏa mãn nhu cầu năng lực và nhu cầu liên kết xã hội của sinh viên. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy ảnh hưởng tích cực của các yếu tố động cơ yêu thích nghiên cứu khoa học, yếu tố động cơ lợi ích và yếu tố động cơ ảnh hưởng lên ý định tham gia nghiên cứu khoa học, tuy có nhiều yếu tố khác nhau chi phối quá trình tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên, nhưng yếu tố quan trọng nhất chính là giảng viên.
Kết quả từ nghiên cứu của nhóm tác giả Bùi Thị Lâm và Trần Thị Mai Loan (2022)16 đã chứng minh rằng, nghiên cứu khoa học giúp sinh viên trau dồi tri thức, rèn luyện tư duy sáng tạo và mở ra những cơ hội nghề nghiệp tốt. Kết quả khảo sát trên cơ sở số liệu được thu thập từ 350 sinh viên đang học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã chỉ ra bốn yếu tố cơ bản ảnh hưởng tích cực đến hoạt động này, bao gồm: thái độ của sinh viên, năng lực, sự khuyến khích của Học viện, Khoa chuyên môn, giảng viên và điều kiện thực hiện nghiên cứu khoa học. Trong đó, điều kiện thực hiện nghiên cứu khoa học có tác động mạnh mẽ nhất, tiếp đến lần lượt là thái độ và năng lực nghiên cứu của sinh viên. Ngoài ra, sinh viên có kết quả học tập tốt và tích lũy nhiều kiến thức chuyên ngành cũng có ý định tham gia nghiên cứu khoa học cao hơn.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Duyên và Nguyễn Minh Tôn (2022)17 phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên, trên cơ sở khảo sát 300 sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học, bao gồm: (1) quan tâm của trường, (2) năng lực sinh viên, (3) nhận thức đối với nghiên cứu khoa học và (4) giảng viên hướng dẫn. Trong đó, yếu tố Năng lực sinh viên có tác động nhiều nhất và yếu tố Quan tâm của trường có tác động ít nhất đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Hà Đức Sơn và Nông Thị Như Mai (2019)18 đã sử dụng phương pháp định lượng với mẫu khảo sát gồm 749 sinh viên đã và đang theo học tại Trường Đại học Tài chính – Marketing để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên là: môi trường nghiên cứu, động cơ, năng lực của sinh viên và sự khuyến khích của nhà trường, trong đó yếu tố môi trường nghiên cứu có ảnh hưởng mạnh nhất, còn sự khuyến khích của nhà trường có ảnh hưởng yếu nhất.
3. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Hiện nay, những nghiên cứu liên quan đến yếu tố ảnh hưởng đến tham gia nghiên cứu khoa học gần như chỉ sử dụng một khung lý thuyết chung là: Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior) (Ajzen, 199119), Thuyết tự quyết định (Self-Determination Theory) (E. L. Deci and R. M. Ryan, 201220).
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 199119) giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó. Xu hướng hành vi gồm ba nhân tố: (1) Yếu tố thái độ (nhận thức) được hiểu là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Ví dụ, sinh viên có những đánh giá tích cực về những lợi ích mà mình có được, chẳng hạn như tăng khả năng tư duy, sáng tạo hay kỹ năng mềm, có thêm nhiều mối quan hệ mới… thì ý định tham gia sẽ cao hơn. (2) Yếu tố chuẩn chủ quan: đề cập đến các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của người thực hiện nghiên cứu khoa học như chế độ chính sách, kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học (Jacob & Lefgren, 201121). (3) Yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận, phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực (thể hiện qua năng lực sinh viên) và các cơ hội để thực hiện hành vi (ví dụ như môi trường nghiên cứu).
Thuyết tự quyết định giải thích cách các cá nhân được thúc đẩy để theo đuổi các mục tiêu nhất định. Thuyết tự quyết định phân loại các động cơ thúc đẩy hành vi của con người thành hai nhóm, gồm động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong đề cập đến một loại động lực xuất phát từ bên trong một cá nhân, dựa trên các yếu tố bên trong như sở thích cá nhân, sự thích thú hoặc ý thức về mục đích, thúc đẩy họ thực hiện các hành vi. Động cơ bên ngoài đề cập đến một loại động cơ đến từ các yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên ngoài này thường không liên quan đến bản thân hoạt động hoặc hành vi, nhưng thay vào đó được sử dụng để khuyến khích các cá nhân tham gia vào một số hành vi nhất định hoặc để đạt được những kết quả nhất định mà họ có thể không có khuynh hướng theo đuổi một cách tự nhiên. Động lực bên ngoài có thể có nhiều hình thức như phần thưởng tài chính, điểm số hoặc sự công nhận từ người khác.
Dựa trên hai thuyết này, nhiều nghiên cứu đã chứng minh các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên như: sự quan tâm của khoa, trường; môi trường nghiên cứu; giảng viên hướng dẫn; nhận thức đối với nghiên cứu khoa học; năng lực của sinh viên…Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu (Hình 1) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên gồm năng lực của sinh viên, động cơ nghiên cứu, môi trường nghiên cứu và sự quan tâm của nhà trường.

Các giả thuyết của mô hình bao gồm:
H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực của sinh viên và sự tham gia nghiên cứu khoa học
H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa động cơ nghiên cứu và sự tham gia nghiên cứu khoa học
H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự quan tâm của nhà trường và sự tham gia nghiên cứu khoa học
H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa môi trường nghiên cứu và sự tham gia nghiên cứu khoa học
Các thang đo của các biến trong mô hình được diễn giải cụ thể trong Bảng 1.
Bảng 1. Thang đo của các biến trong mô hình nghiên cứu
| Biến | Thang đo | Mã hóa |
| Năng lực của sinh viên | Khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn chuyên sâu để giải quyết các vấn đề thực tiễn. | NL1 |
| Kỹ năng thiết kế nghiên cứu và xử lý dữ liệu theo phương pháp luận khoa học | NL2 | |
| Khả năng điều phối nhóm và quản trị thời gian trong quá trình thực hiện đề tài | NL3 | |
| Tư duy phản biện và thái độ kiên trì trong việc theo đuổi các ý tưởng nghiên cứu mới | NL4 | |
| Khả năng sáng tạo và đề xuất các phương pháp/giải pháp mới mang tính đột phá. | NL5 | |
| Động cơ nghiên cứu | Tham gia nghiên cứu khoa học để cải thiện kết quả học tập | DC1 |
| Khát vọng đạt được các giải thưởng và sự công nhận về mặt học thuật | DC2 | |
| Mong muốn trải nghiệm quy trình nghiên cứu chuyên nghiệp để chuẩn bị cho sự nghiệp | DC3 | |
| Cơ hội kết nối và mở rộng mạng lưới quan hệ với chuyên gia, giảng viên và doanh nghiệp | DC4 | |
| Nâng cao kỹ năng làm chủ các công cụ công nghệ và phần mềm phân tích dữ liệu hiện đại (SPSS, Stata, Python) | DC5 | |
| Sự quan tâm của nhà trường | Tính thỏa đáng và kịp thời của kinh phí hỗ trợ triển khai nghiên cứu | QT1 |
| Chế độ khen thưởng hấp dẫn đối với các công trình đạt giải hoặc có công bố quốc tế | QT2 | |
| Tần suất và chất lượng các hoạt động truyền cảm hứng, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên | QT3 | |
| Sự nhiệt tình, năng lực chuyên môn và định hướng sát sao của đội ngũ giảng viên hướng dẫn | QT4 | |
| Mức độ hiện đại của cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghiên cứu (thư viện, hệ thống máy tính, hệ thống phòng nghiên cứu,…) | QT5 | |
| Môi trường nghiên cứu | Sự thuận lợi từ các cơ chế, chính sách và quy định quản lý nghiên cứu khoa học của Nhà nước/Nhà trường | MT1 |
| Tính thực tiễn và phù hợp của danh mục các hướng nghiên cứu gợi ý | MT2 | |
| Sự tương tác, hỗ trợ và tinh thần cộng tác giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu | MT3 | |
| Hiệu quả điều hành và dẫn dắt của trưởng nhóm nghiên cứu. | MT4 | |
| Tác động từ sự ủng hộ của gia đình, bạn bè và các cá nhân có uy tín về học thuật | MT5 | |
| Việc tham gia nghiên cứu khoa học | Tôi tham gia nghiên cứu khoa học để thể hiện năng lực của bản thân. | TG1 |
| Tham gia nghiên cứu khoa học mang lại cho tôi nhiều kỹ năng | TG2 | |
| Tham gia nghiên cứu khoa học mang lại cho tôi nhiều kiến thức | TG3 | |
| Tham gia nghiên cứu khoa học giúp tôi thỏa mãn đam mê nghiên cứu | TG4 | |
| Tôi tham gia nghiên cứu khoa học để nâng cao thương hiệu cho bản thân và nhà trường. | TG5 |
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế bảng hỏi và chọn mẫu
Để khắc phục các vấn đề về ngôn ngữ dịch thuật và kiểm tra sự phù hợp của thang đo, tác giả đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia thuộc một số trường đại học. Sau khi được hiệu chỉnh, bảng hỏi được thiết kế chính thức gồm hai phần: Phần đầu tiên sử dụng thang đo định danh và thứ bậc để thu thập các dữ liệu liên quan đến thông tin cá nhân của người được hỏi (giới tính, năm học của SV, trường đại học). Phần thứ hai bao gồm 24 câu hỏi theo thang đo Likert (từ 1 = “rất không đồng ý” đến 5 = “rất đồng ý”).
Về mẫu nghiên cứu, tất cả các sinh viên đang học tại các trường đại học khối ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội đều thuộc nhóm đối tượng điều tra khảo sát. Do việc điều tra tổng thể tốn kém và bất khả thi, nghiên cứu này chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Dựa trên công thức xác định cỡ mẫu tối thiểu của Hair và cộng sự (2010)22, Tabachnick và Fidell (2007)23 đối với phân tích hồi quy đa biến, cỡ mẫu tối thiểu cần đảm bảo cho nghiên cứu là 150.
3.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 12/2025 đến tháng 2/2026. Tổng số phiếu gửi qua email và Google Form trong nghiên cứu là 250 phiếu và số phiếu hợp lệ là 212 phiếu (chiếm 84,8%). Dữ liệu sau khi được làm sạch sẽ được sử dụng cho phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tham gia nghiên cứu khoa học bằng phần mềm SPSS 26.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kết quả nhân khẩu học
Theo kết quả thống kê mô tả biến giới tính từ phần mềm SPSS 26.0, với tổng 212 sinh viên tham gia khảo sát, có 107 người giới tính nam, chiếm 50.47%; 105 người giới tính nữ, chiếm 49.53%. Số lượng nam nữ được điều tra cho thấy sinh viên nam nhiều hơn nữ; tuy nhiên, sự chênh lệch phần trăm cho thấy cũng không đáng kể. Điều này thể hiện sự cân bằng về giới tính của mẫu điều tra. Kết quả về biến năm học của sinh viên cũng cho thấy có 107 sinh viên năm hai (50.47%), 97 sinh viên năm ba (45.75%), 5 sinh viên năm nhất (2.4%), 3 sinh viên năm tư (1.42%). Về trường đại học, có 44 sinh viên Đại học Ngoại thương (20.75%), 43 sinh viên Học viện Ngân hàng (20.26%), 40 sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân (18.87%), 39 sinh viên Đại học Thương mại (18.40%), 30 sinh viên Học viện Tài chính (14.15%) và 16 sinh viên khác (7.55%).
4.2. Kết quả phân tích mô hình
Đầu tiên, nghiên cứu thực hiện phân tích độ tin cậy của các biến trong mô hình qua hệ số Cronbach’s alpha. Kết quả ở Bảng 2 cho thấy giá trị của các biến độc lập và biến phụ thuộc trong thang đo có độ tin cậy cao với hệ số tương quan biến tổng > 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha ≥ 0,6. Do đó, các mục đo lường các biến được coi là chấp nhận được và các công cụ được chấp nhận để kiểm tra độ tin cậy.
Bảng 2. Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
| Thang đo | Cronbach’s Alpha | Số biến quan sát |
| Năng lực của sinh viên (NL) Động cơ nghiên cứu (DC) Sự quan tâm của nhà trường (QT) Môi trường nghiên cứu (MT) | 0,911 0,872 0,953 0,947 | 4 5 5 4 |
| Việc tham gia nghiên cứu khoa học (TG) | 0,939 | 5 |
Sau đó, nghiên cứu thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm đánh giá giá trị của thang đo. Bảng 3 cho thấy, kết quả kiểm định với hệ số KMO bằng 0,5 < 0,921 < 1,0, chứng tỏ sự phù hợp của mô hình EFA; giá trị của kiểm định Bartlett có ý nghĩa đối với Sig. = 0,000 chỉ ra rằng các biến quan sát có tương quan với tổng số quan sát.
Bảng 3. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s của biến độc lập
| Hệ số KMO | 0,921 | |
| Giá trị kiểm định Bartlett | Approx. Chi-Square | 3645,730 |
| df | 171 | |
| Sig. | 0,000 | |
Tiếp tục thực hiện phân tích phương sai trích của các yếu tố, kết quả chỉ ra tổng phương sai trích là 78,435% > 50%, đạt tiêu chuẩn, nghĩa là 78,43% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 4 yếu tố. Tất cả các biến độc lập đều có hệ số tải > 0,5, do đó các biến đều quan trọng trong 4 yếu tố được trích xuất.
Sử dụng ma trận xoay cho thấy sự phân bố 24 biến quan sát thành 04 nhóm yếu tố: Năng lực của sinh viên; Động cơ nghiên cứu; Sự quan tâm của nhà trường; Môi trường nghiên cứu.
Sau khi phân tích EFA, nghiên cứu đã sử dụng hệ số tương quan Pearson để kiểm tra mối tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. Kết quả cho thấy giá trị Sig. Giá trị giữa mỗi biến độc lập và biến phụ thuộc nhỏ hơn 0,05, nên không loại bỏ bất kỳ loại yếu tố nào. Nói cách khác, tất cả các biến độc lập đều có mối quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc.
Cuối cùng, để xem xét tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, nghiên cứu thực hiện phân tích hồi quy đa biến. Kết quả phân tích cho thấy R Square = 0,59; F-test (ANOVA) = 0,000; do đó, mô hình hồi quy là phù hợp; khoảng 59% sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình, còn lại là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Bảng 4 trình bày kết quả hồi quy đa biến như sau: Các biến độc lập đều có tác động đến biến phụ thuộc vì giá trị Sig nhỏ hơn 0,05; gần như không có hiện tượng đa cộng tuyến vì hệ số VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 2 (Hair và cộng sự, 2010)22.
Bảng 4. Kết quả mô hình hồi quy đa biến
| Coefficientsa | ||||||||
| Model | Unstandardized Coefficients | Standardized Coefficients | t | Sig. | Collinearity Statistics | |||
| B | Std. Error | Beta | Tolerance | VIF | ||||
| 1 | (Constant) | -0,003 | 0,205 | -0,013 | 0,989 | |||
| Năng lực của sinh viên | 0,282 | 0,054 | 0,290 | 5,240 | 0,000 | 0,645 | 1,551 | |
| Động cơ nghiên cứu | 0,213 | 0,062 | 0,193 | 3,441 | 0,001 | 0,630 | 1,587 | |
| Sự quan tâm của nhà trường | 0,273 | 0,056 | 0,294 | 4,851 | 0,000 | 0,540 | 1,853 | |
| Môi trường nghiên cứu | 0,183 | 0,061 | 0,178 | 3,016 | 0,003 | 0,567 | 1,763 | |
| a. Dependent Variable: Sự tham gia nghiên cứu khoa học | ||||||||
Như vậy, qua các phân tích trên, có thể đưa ra kết luận:
(1) Cả 4 giả thuyết đều được chấp nhận.
(2) Mô hình hồi quy (dạng chuẩn hóa) được xác định như sau:
TG = 0,29 NL + 0,193 DC – 0,294 QT + 0,178 MT
Kết quả này cho thấy, sự tác động của các yếu tố xếp theo thứ tự giảm dần: Yếu tố “Sự quan tâm của nhà trường” tác động mạnh nhất (β = 0.294); thứ hai là Yếu tố “Năng lực của sinh viên” (β = 0.290); thứ ba là Yếu tố “Động cơ nghiên cứu” (β = 0.193) và yếu nhất là Yếu tố “Môi trường nghiên cứu” (β = 0.178). Kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt với các nghiên cứu trước đó, khi các nghiên cứu đều cho rằng, yếu tố môi trường nghiên cứu mới là yếu tố có tác động mạnh nhất. Điều này có thể được lý giải bởi các lý do sau:
(1) Các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam được thực hiện trong giai đoạn các trường đại học Việt Nam vẫn đang vận hành theo mô hình truyền thống, nơi nghiên cứu khoa học của sinh viên đôi khi chỉ mang tính phong trào. Nhưng hiện nay, việc các trường đại học phải thực hiện việc xếp hạng đại học và tự chủ tài chính sẽ khiến nhà trường quan tâm đầu tư ngân sách lớn vào các quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học, khen thưởng nghiên cứu khoa học và đầu tư cơ sở vật chất. Khi nhà trường tạo ra “cú hích” mạnh bằng cơ chế (điểm thưởng, học bổng, kinh phí), sinh viên sẽ tích cực nghiên cứu hơn.
(2) Nghiên cứu khoa học kinh tế hiện đại đòi hỏi việc tiếp cận dữ liệu và các phần mềm bản quyền (Stata, SPSS, Amos) mà chỉ có “Sự quan tâm của nhà trường” mới cung cấp được. Nếu trường không hỗ trợ hạ tầng dữ liệu này, năng lực hay động cơ cá nhân của sinh viên cũng khó lòng triển khai được các nghiên cứu chất lượng.
(3) Đối tượng khảo sát chính của nghiên cứu này là sinh viên năm thứ 2-3 thuộc nhóm Gen Z – nhóm đối tượng có năng lực tự học và tiếp cận thông tin rất cao; họ cũng là thế hệ “thực dụng” hơn. Động cơ tự thân đôi khi bị xao nhãng bởi các cơ hội làm thêm hoặc khởi nghiệp. Do đó, chỉ khi nhà trường có những chính sách đủ hấp dẫn, năng lực tiềm tàng của họ mới được kích hoạt để chuyển thành hành động tham gia nghiên cứu khoa học. Cuối cùng, nhóm trường khảo sát đều tại Hà Nội, nơi có sự giao thoa thông tin giữa các trường đại học rất lớn. Các hội thảo, câu lạc bộ nghiên cứu phát triển mạnh. Khi “Môi trường” đã trở thành một điều kiện cần sẵn có và bão hòa, nó không còn tạo ra sự đột biến trong quyết định tham gia của sinh viên bằng những chính sách hỗ trợ trực tiếp từ phía nhà trường chủ quản.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự dẫn dắt của các yếu tố “Sự quan tâm của nhà trường” và “Năng lực của sinh viên”. Do đó, các nhà quản lý giáo dục cần tập trung vào các nhóm giải pháp sau:
(1) Chuyển đổi từ “Khuyến khích” sang “Đầu tư chiến lược”: Các nhà trường cần xây dựng cơ chế tài chính đột phá như xây dựng quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học sinh viên với định mức chi trả thực tế hơn (hỗ trợ phí mua dữ liệu, phí đăng bài quốc tế, phí khảo sát); cung cấp quyền truy cập miễn phí vào các cơ sở dữ liệu tài chính lớn và các phần mềm bản quyền (Stata, SPSS).
(2) Nâng cao năng lực chuyên môn gắn liền với công nghệ: Năng lực của sinh viên là yếu tố quan trọng thứ hai. Tuy nhiên, năng lực này cần được định hướng theo chuẩn quốc tế thông qua việc tích hợp kỹ năng nghiên cứu vào chương trình chính khóa; tổ chức các workshop chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu định lượng, viết bài báo quốc tế và sử dụng AI trong tổng quan tài liệu.
(3) Khơi thông động cơ thông qua lộ trình nghề nghiệp: Dù thấp hơn nhưng “Động cơ” là chìa khóa để duy trì sự bền vững. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên nên gắn kết với thực tiễn doanh nghiệp bằng việc tổ chức các cuộc thi nghiên cứu khoa học có sự đồng hành của các tập đoàn hoặc các công ty kiểm toán Big 4. Khi sinh viên thấy nghiên cứu khoa học giúp làm đẹp CV và mở rộng cơ hội việc làm, động cơ sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ.
Nghiên cứu này đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng so với các nghiên cứu trước đây, khi vai trò của quản trị đại học hiện đại trở thành “cú hích” quyết định thay vì chỉ dựa vào động cơ cá nhân hay môi trường học thuật chung. Qua đó, cung cấp một cái nhìn thực tiễn, giúp các nhà quản lý giáo dục điều chỉnh chiến lược đầu tư nhằm tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng nghiên cứu trong bối cảnh tự chủ đại học. Nghiên cứu có hạn chế là mới chỉ tập trung vào khối ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội và chưa tính đến tác động của đặc điểm cá nhân và điểm trung bình học của sinh viên đến việc tham gia nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng quy mô ra các khu vực khác hoặc đi sâu vào phân tích sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên và bổ sung yếu tố về đặc điểm cá nhân để có cái nhìn đa chiều hơn.
Chú thích:
1. Đặng Út Phượng, Nguyễn Thị Tuyết Trinh (2023). Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành mầm non tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, 70(3),100-107.
2. Bernadic M., Mladosievicova B., and Traubner P. (2004). Students’ research and scientific activity at the Faculty of Medicine, Comenius University in Bratislava. Bratislavske lekarske listy, 105(7-8), 281-284.
3. Lamanauskas, V., & Augienė, D. (2015). Development of scientific research activity in the university: A position of the experts. Procedia-Social and Behavioral Sciences, 167, 131–140.
4. Bhagavathula A. S., Bandari D. K., Tefera Y. G., Jamshed S. Q., Elnour A. A., and Shehab A. (2017). The attitude of medical and pharmacy students towards research activities: a multicenter approach. Pharmacy, 5(4), 55-64.
5. Bovijn J., Kajee N., Esterhuizen T. M. and Van Schalkwyk S. C. (2017). Research involvement among undergraduate health sciences students: a cross-sectional study. BMC Medical Education (2017) 17:186 DOI 10.1186/s12909-017-1025-x
6. Daly, C. (2013). Encouraging community pharmacists to become more involved in research. Pharmaceutical Journal, Vol 291 (7770/7771), 159-160.
7. Zier, K., & Stagnaro-Green, A. (2001). A multifaceted program to encourage medical students’ research. Medicine, 76 (7), 743–747.
8. Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học năm 2025
9. Babbie, E. R. (1989). The practice of social research. Wadsworth Publishing Company.
10. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
11. Lê Thị Tố Nga, Hồ Khánh Linh, Nguyễn Thanh Thảo (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Phân hiệu Học viện Hành chính Quốc gia tại tỉnh Quảng Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/16/cac-nhan-to-anh-huong-den-nang-luc-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-sinh-vien-phan-hieu-hoc-vien-hanh-chinh-quoc-gia-tai-tinh-quang-nam/
12. OECD (2016). Global competency for an inclusive world: Program for the International Student Assessment. Paris: OECD, 2016. https://www.oecd.org/education/Global competency-for-an-inclusive-world.pdf
13. Sadler, T. D., & McKinney, L. (2010). Scientific research for undergraduate students: A review of the literature. Journal of College Science Teaching, 39(5), 43.
14. Ogeng’o J.A., Mwachaka P.M., Bundi P.K., (2010). Factors influencing research activity among medical students at the University of Nairobi – The Annals of African Surgery, Volume 6, July.
15. Võ Thị Minh Nho (2023). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Tạp chí khoa học và công nghệ – Đại học Đà Nẵng, Vol. 21, No. 4, 27-31
16. Bùi Thị Lâm và Trần Mai Loan (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2022, 20(11): 1550-1560
17. Nguyễn Thị Mỹ Duyên, Nguyễn Minh Tôn (2022). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phan-tich-cac-yeu-to-anh-huong-den-dong-luc-tham-gia-nghien-cuu-khoa hoc-cua-sinh-vien-truong-dai-hoc-nong-lam-thanh-pho-ho-chi-minh-99872.htm
18. Hà Đức Sơn, Nông Thị Như Mai (2019). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên – nghiên cứu trường hợp Đại học Tài chính – Marketing. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019
19. Ajzen, I. (1991). Theory of Planned Behavior. Organization Behavior and Human Decision. Massachusetts: University of Massachusetts Amherst.
20. E. L. Deci and R. M. Ryan. Self-determination theory. Handbook of theories of social psychology, 1, 2012, 416 – 437.
21. Jacob, B. A., & Lefgren, L. (2011). The impact of research grant funding on scientific productivity. Journal of Public Economics (95(9)), 168-1177.
22. Hair, J., Black, W., Babin, B., & Anderson, R. (2010). Multivariate Data Analysis: A Global Perspective.
23. Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S. (2007). Using multivariate statistics (5th ed.). Pearson Education.


