Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập: thực trạng và giải pháp

Activities of the Vietnam fatherland front in Di Linh commune, Lam Dong province, following the merger: current status and solutions

ThS. Nguyễn Thị Xuân Quỳnh
Trường Đại học Đà Lạt

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh sau sáp nhập, tại vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát 240 đối tượng, gồm 180 người dân và 60 cán bộ mặt trận và các đoàn thể, kết hợp với phân tích, tổng hợp tài liệu. Kết quả cho thấy, Mặt trận đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện giám sát – phản biện xã hội và đại diện, bảo vệ quyền lợi của Nhân dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay.

Từ khóa: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng bào dân tộc thiểu số; xã Di Linh; sáp nhập đơn vị hành chính; đại đoàn kết toàn dân tộc.

Abstract: This article examines the current activities of the Vietnam Fatherland Front in Di Linh Commune, Lam Dong Province, in the context of post-administrative consolidation, with a particular focus on ethnic minority communities. The study is based on a survey of 240 respondents, including 180 residents and 60 officials from the Fatherland Front and affiliated mass organizations, combined with document analysis and synthesis. The findings reveal that the Vietnam Fatherland Front has achieved notable outcomes in communication and public mobilization, strengthening national unity, exercising social supervision and policy criticism, and representing and safeguarding the legitimate rights and interests of the people. However, in the new context, several challenges and limitations persist, affecting the effectiveness of its operations. Based on these findings, the article proposes several solutions to improve the effectiveness of the Front’s activities in ethnic minority areas, thereby contributing to the consolidation of national unity and meeting current development demands.

Keywords: Vietnam Fatherland Front; ethnic minority communities; Di Linh Commune; administrative consolidation; national unity.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng quản lý và phục vụ Nhân dân. Theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng được thành lập trên cơ sở sáp nhập thị trấn Di Linh với các xã Liên Đầm, Tân Châu, Gung Ré, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Trước khi sáp nhập, các đơn vị hành chính này đều thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Việc sáp nhập thành xã Di Linh đã hình thành một đơn vị hành chính mới với quy mô lớn hơn, dân cư đa dạng, qua đó đặt ra yêu cầu điều chỉnh tương ứng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Trong bối cảnh đó, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam giữ vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và là lực lượng nòng cốt trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận thực hiện các chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và tăng cường đồng thuận xã hội1. Sau sáp nhập, việc thực hiện các chức năng này cần được triển khai phù hợp với đặc điểm địa bàn, nhất là tại các khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, thực tiễn tại các địa bàn sau sáp nhập, đặc biệt ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số như xã Di Linh, cho thấy hoạt động của Mặt trận vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Sự chênh lệch về điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ dân trí, cùng với sự phân tán dân cư và đa dạng văn hóa, phong tục đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, cũng như việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện, đại diện và bảo vệ quyền lợi của Nhân dân. Xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, là đơn vị hành chính mới sau sáp nhập, có những đặc trưng điển hình của khu vực Tây Nguyên với dân cư đa dân tộc, địa bàn rộng và điều kiện phát triển không đồng đều. Những đặc điểm này tạo điều kiện để nhận diện rõ các vấn đề đặt ra đối với hoạt động của MTTQ trong bối cảnh mới, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn có giá trị tham chiếu cho các địa phương tương đồng.

Trên cơ sở đó, bài viết phân tích thực trạng hoạt động của MTTQ Việt Nam trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Di Linh sau sáp nhập, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn kết hợp với phân tích tài liệu, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của kết quả.

2. Cơ sở thực tiễn

Sau sáp nhập, xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, có diện tích tự nhiên 268,28 km² và dân số 64.179 người, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 22.733 người, tương đương 35,42% dân số toàn xã2.Tỷ lệ này phản ánh rõ đặc trưng của một địa bàn vùng dân tộc thiểu số điển hình ở khu vực Tây Nguyên, nơi yếu tố dân tộc và điều kiện phát triển có tác động trực tiếp đến đời sống xã hội và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Thành phần dân tộc trên địa bàn chủ yếu gồm các dân tộc bản địa, như: K’Ho, Mạ, Chu Ru…, sinh sống xen kẽ với dân tộc Kinh. Sự đa dạng về dân tộc kéo theo sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và tập quán sinh hoạt, đặt ra yêu cầu đối với MTTQ trong việc lựa chọn nội dung và phương thức tuyên truyền, vận động phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Địa bàn sau sáp nhập có diện tích rộng, dân cư phân bố không đồng đều giữa các khu vực, dẫn đến sự chênh lệch về điều kiện kinh tế – xã hội. Đặc điểm này làm gia tăng khó khăn trong việc tiếp cận, tập hợp và vận động Nhân dân, qua đó tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện các chức năng của MTTQ ở cơ sở.

Kết quả khảo sát 180 người dân cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc K’Ho chiếm 68,3%, dân tộc Mạ chiếm 30,0%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Phần lớn người dân có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống và sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Điều này phản ánh điều kiện kinh tế – xã hội còn hạn chế, đồng thời, tác động đến khả năng tiếp cận thông tin, mức độ tham gia đời sống chính trị – xã hội và hiệu quả tiếp nhận các hoạt động của MTTQ.

Như vậy, sự kết hợp giữa quy mô địa bàn lớn, cơ cấu dân cư đa dân tộc và điều kiện phát triển không đồng đều đã tạo ra những thách thức đặc thù đối với hoạt động của MTTQ tại xã Di Linh sau sáp nhập. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để phân tích sâu thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp, có tính khả thi đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã Di Linh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(1) Hoạt động tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia đời sống chính trị – xã hội

Hoạt động tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia đời sống chính trị – xã hội là một trong những chức năng cơ bản, giữ vai trò trung tâm trong công tác dân vận của MTTQ Việt Nam. Trên địa bàn xã Di Linh – một địa bàn có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, dân cư phân tán và đa dạng về văn hóa – hoạt động này càng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị – xã hội ở địa phương.

Thời gian qua, hoạt động tuyên truyền, vận động trên địa bàn xã được triển khai thông qua nhiều hình thức như sinh hoạt cộng đồng, họp thôn, hệ thống loa truyền thanh cơ sở và các kênh thông tin trong cộng đồng. Kết quả khảo sát cho thấy, cán bộ thôn/xã là kênh thông tin chủ yếu giúp người dân tiếp cận các nội dung tuyên truyền của Mặt trận, với 91,7% người được hỏi cho biết tiếp cận thông tin qua kênh này. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở trong công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi quan hệ cộng đồng, sự tin tưởng trực tiếp và giao tiếp gần gũi vẫn là những kênh thông tin chủ đạo. Bên cạnh đó, các mối quan hệ xã hội như người thân, họ hàng (56,1%) và bạn bè, hàng xóm (52,8%) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa thông tin trong cộng đồng. Ngoài ra, các phương tiện truyền thông như mạng xã hội (48,9%) và loa phát thanh (45%) cũng góp phần hỗ trợ truyền tải thông tin đến người dân.

Hình 1. Các kênh thông tin người dân tiếp cận hoạt động tuyên truyền, vận động
của Mặt trận Tổ quốc

Nguồn: Khảo sát của tác giả, năm 2026 (n = 180)

Về nội dung tuyên truyền, kết quả khảo sát cho thấy các hoạt động tập trung chủ yếu vào việc phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước (96,1%); củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc (84,4%); bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (81,1%); và hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo (78,3%). Kết quả hoạt động tuyên truyền của Mặt trận được triển khai tương đối toàn diện, gắn với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, phù hợp với yêu cầu của công tác Mặt trận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phù hợp với định hướng đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, hiệu quả, hướng về cơ sở, tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân3.

Về mức độ hiệu quả, kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người dân đánh giá hoạt động tuyên truyền của Mặt trận đạt hiệu quả tích cực. Cụ thể, 61,1% số người được hỏi cho rằng hoạt động tuyên truyền hiệu quả và 13,9% đánh giá hoàn toàn hiệu quả, nâng tổng tỷ lệ đánh giá tích cực lên 75,0%. Kết quả này phản ánh bước đầu hoạt động tuyên truyền của Mặt trận đã phát huy vai trò trong việc nâng cao nhận thức và vận động người dân tham gia đời sống chính trị – xã hội, đồng thời phù hợp với đặc điểm địa bàn khi các hình thức tuyên truyền chủ yếu mang tính trực tiếp, gần dân và dựa trên các mối quan hệ trong cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn 24,4% số người được khảo sát đánh giá hoạt động tuyên truyền ở mức bình thường và một tỷ lệ rất nhỏ (0,6%) cho rằng, hoạt động này không hiệu quả. Điều này phản ánh những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận thông tin và tổ chức hoạt động tuyên truyền, đặc biệt trong bối cảnh địa bàn rộng, dân cư phân tán và sự khác biệt về ngôn ngữ, trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền, vận động vẫn còn một số hạn chế như mức độ tiếp cận thông tin chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư, đặc biệt ở các khu vực xa trung tâm như địa bàn Gung Ré, Liên Đầm, một số thôn của Tân Châu; nội dung và hình thức tuyên truyền chưa thực sự phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của từng dân tộc; khả năng tiếp nhận thông tin của một bộ phận người dân còn hạn chế do trình độ học vấn thấp. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù của địa bàn sau sáp nhập, với diện tích rộng, dân cư phân tán, đa dạng về dân tộc; cũng như hoạt động của Mặt trận trong giai đoạn đầu sau sáp nhập còn mang tính kế thừa, chưa kịp thời đổi mới phương thức tiếp cận cho phù hợp với bối cảnh mới.

(2) Hoạt động xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những chức năng trung tâm, xuyên suốt trong hoạt động của MTTQ Việt Nam, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Trên địa bàn xã Di Linh – nơi có sự đa dạng về thành phần dân tộc, văn hóa và sự phân bố dân cư không đồng đều sau sáp nhập – hoạt động này không chỉ góp phần tăng cường sự gắn kết cộng đồng mà còn tạo nền tảng ổn định về chính trị – xã hội ở cơ sở.

Thực tiễn cho thấy, MTTQ đã triển khai nhiều phong trào, cuộc vận động nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thu hút sự tham gia của người dân. Kết quả khảo sát cho thấy các phong trào do Mặt trận phát động có mức độ nhận biết rất cao trong cộng đồng dân cư. Trong đó, phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và chương trình xây dựng nông thôn mới có tỷ lệ người dân biết đến cao nhất (98,3% và 97,8%). Bên cạnh đó, các phong trào như “Cả nước chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và các hoạt động hỗ trợ trong thiên tai, dịch bệnh cũng có mức độ nhận biết cao (96,6%).

Ngoài ra, các hoạt động như “Ngày vì người nghèo”“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đạt tỷ lệ nhận biết 95,0%, trong khi một số phong trào như “Đoàn kết sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế”“Đền ơn đáp nghĩa” có tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn ở mức khá (87,7% và 85,5%). Điều này cho thấy, các hoạt động của Mặt trận đã được triển khai tương đối đồng bộ và lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng dân cư, góp phần tăng cường sự gắn kết xã hội, đặc biệt ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

Xét về mức độ tham gia, kết quả khảo sát cho thấy, người dân tham gia khá thường xuyên vào các phong trào do Mặt trận triển khai, với điểm trung bình đều trên 3,5 theo thang đo Likert 5 mức. Trong đó, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” có mức độ tham gia cao nhất (cùng đạt 3,81 điểm), phản ánh đây là những hoạt động gắn chặt với đời sống cộng đồng và mang tính thiết thực cao đối với người dân. Bên cạnh đó, các hoạt động như “Các chương trình hỗ trợ trong thiên tai, dịch bệnh” (3,75 điểm) và “Ngày vì người nghèo” (3,67 điểm) cũng thu hút sự tham gia tích cực, cho thấy vai trò của Mặt trận trong việc huy động nguồn lực xã hội và phát huy tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng. Ngược lại, phong trào “Đoàn kết sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả” có mức điểm thấp hơn (3,61 điểm), phản ánh mức độ quan tâm và khả năng tham gia của người dân còn hạn chế đối với các hoạt động mang tính chuyên sâu hoặc ít gắn trực tiếp với lợi ích trước mắt.

Hình 2. Mức độ tham gia của người dân vào một số phong trào tiêu biểu
do Mặt trận Tổ quốc triển khai

Nguồn: Khảo sát của tác giả, 2026 (n = 180)

Nhìn chung, các phong trào, cuộc vận động do MTTQ triển khai đã thu hút sự tham gia tương đối rộng rãi của người dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại địa phương. Kết quả này phù hợp với đặc điểm của xã Di Linh, nơi các mối quan hệ cộng đồng, dòng họ và dân tộc đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lan tỏa và duy trì các phong trào mang tính cộng đồng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn một số hạn chế. Sự tham gia của người dân chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng và các khu vực, đặc biệt là tại những địa bàn xa trung tâm hoặc có điều kiện kinh tế khó khăn. Một số phong trào chưa thực sự phù hợp với đặc điểm sản xuất, sinh kế và trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số, dẫn đến mức độ tham gia chưa cao. Ngoài ra, sự khác biệt về văn hóa, phong tục và ngôn ngữ giữa các dân tộc cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức và khả năng lan tỏa của các hoạt động.

(3) Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Giám sát và phản biện xã hội là một trong những chức năng quan trọng của MTTQ Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Trong bối cảnh xã Di Linh được hình thành sau sáp nhập với địa bàn rộng, dân cư phân tán và có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, việc thực hiện chức năng này càng có ý nghĩa quan trọng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình triển khai.

Kết quả khảo sát đối với cán bộ cho thấy, phần lớn ý kiến đánh giá tích cực về hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội của MTTQ trên địa bàn. Cụ thể, có 38/60 cán bộ được hỏi (63,3%) cho rằng hoạt động này đạt hiệu quả và 3 người (5,0%) đánh giá hoàn toàn hiệu quả, nâng tổng tỷ lệ đánh giá tích cực lên 68,3%. Điều này cho thấy, công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận đã bước đầu phát huy vai trò trong việc tham gia góp ý xây dựng chính sách và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách tại địa phương.

Bên cạnh đó, vẫn còn 31,7% cán bộ cho rằng hiệu quả hoạt động ở mức bình thường, phản ánh thực tế rằng công tác giám sát và phản biện xã hội chưa thực sự tạo ra tác động rõ rệt trong quá trình triển khai. Nguyên nhân có thể xuất phát từ đặc thù của địa bàn sau sáp nhập với quy mô rộng, dân cư phân tán, gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động giám sát; đồng thời, sự khác biệt về trình độ dân trí, nhận thức và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số cũng ảnh hưởng đến khả năng tham gia và tiếp nhận các hoạt động phản biện xã hội. Ngoài ra, cơ chế phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền và các tổ chức liên quan trong một số trường hợp vẫn chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả giám sát chưa cao.

Đáng chú ý, không có ý kiến nào đánh giá hoạt động ở mức không hiệu quả, cho thấy nhìn chung công tác giám sát và phản biện xã hội của MTTQ đã được triển khai tương đối ổn định và được cán bộ ghi nhận. Tuy nhiên, điều này cũng phản ánh rằng hoạt động mới dừng lại ở mức “đạt yêu cầu”, chưa tạo ra những chuyển biến rõ nét hoặc tác động sâu rộng trong thực tiễn.

Hình 3. Đánh giá của cán bộ về hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc

Nguồn: Khảo sát của tác giả, 2026 (n = 60)

(4) Hoạt động đại diện, bảo vệ quyền lợi Nhân dân và phối hợp trong hệ thống chính trị

Thực tiễn cho thấy, MTTQ đã thực hiện vai trò đại diện thông qua việc tiếp nhận, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân và phối hợp với chính quyền giải quyết các vấn đề dân sinh. Kết quả khảo sát cho thấy, 82,8% người dân mong muốn Mặt trận chú trọng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; các lĩnh vực khác cũng được quan tâm, như: phát triển kinh tế, giảm nghèo (76,1%), giáo dục, y tế, an sinh xã hội (75,0%), xây dựng cơ sở hạ tầng (71,7%) và an ninh trật tự, môi trường (61,7%). Điều này phản ánh rõ nhu cầu thiết thực của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời kỳ vọng của người dân đối với vai trò đại diện, kiến nghị và bảo vệ quyền lợi của Mặt trận. Hoạt động phối hợp giữa MTTQ với chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội được duy trì tương đối thường xuyên (76,7% đánh giá thường xuyên; 6,7% đánh giá rất thường xuyên), góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động và triển khai các chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, sự phối hợp chưa đồng đều; một số hoạt động còn mang tính hình thức do cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, phân công chưa cụ thể và năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa bàn còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh địa bàn sau sáp nhập có quy mô lớn và đa dạng về dân cư.

Nhìn chung, hoạt động đại diện, bảo vệ quyền lợi Nhân dân và phối hợp trong hệ thống chính trị của MTTQ tại xã Di Linh đã đạt được những kết quả bước đầu, song cần tiếp tục được tăng cường nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

4. Những vấn đề đặt ra trong xây dựng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tại xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay

Thứ nhất, vấn đề nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động trong điều kiện đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Mặc dù công tác tuyên truyền đã được triển khai với nhiều hình thức đa dạng, song mức độ tiếp cận và hiệu quả vẫn chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư. Kết quả khảo sát cho thấy, vẫn còn 24,4% người dân đánh giá hoạt động tuyên truyền ở mức bình thường và 0,6% cho rằng hoạt động này không hiệu quả. Một bộ phận người dân vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận thông tin, chưa thực sự hiểu rõ vai trò của MTTQ, dẫn đến mức độ tham gia chưa cao. Đặc biệt, các rào cản về ngôn ngữ, trình độ dân trí và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác vận động quần chúng. Trong bối cảnh sau sáp nhập, những khó khăn này càng trở nên rõ nét, đặt ra yêu cầu phải đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền theo hướng phù hợp hơn với đặc điểm của từng nhóm đối tượng.

Thứ hai, vấn đề thu hút và duy trì sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Mặt trận.

Mặc dù người dân có mức độ nhận biết cao đối với các phong trào, nhưng mức độ tham gia chưa thật sự đồng đều giữa các nhóm hoạt động. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ điều kiện sinh kế, khi phần lớn người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, tập trung vào sản xuất nông nghiệp nên ít có điều kiện tham gia thường xuyên các hoạt động cộng đồng. Bên cạnh đó, yếu tố địa bàn rộng, dân cư phân tán và giao thông khó khăn sau sáp nhập cũng hạn chế khả năng tập hợp quần chúng. Điều này đặt ra yêu cầu cần tổ chức các hoạt động phù hợp hơn với điều kiện thực tế, gắn với nhu cầu thiết thực của người dân nhằm nâng cao mức độ tham gia.

Thứ ba, vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội.

Mặc dù hoạt động giám sát và phản biện xã hội đã được triển khai, song hiệu quả chưa thực sự đồng đều và chưa tạo ra tác động rõ rệt. Kết quả khảo sát cho thấy có tới 31,7% cán bộ đánh giá hiệu quả hoạt động ở mức bình thường. Điều này cho thấy hoạt động này chưa phát huy đầy đủ vai trò trong hệ thống chính trị cơ sở. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, nội dung giám sát chưa sát với thực tiễn đời sống người dân, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, giảm nghèo và an sinh xã hội, những vấn đề mà người dân quan tâm nhiều nhất. Trong bối cảnh địa bàn rộng và đa dạng dân tộc, việc tổ chức giám sát cũng gặp nhiều khó khăn do phạm vi và phương thức triển khai còn hạn chế.

Thứ tư, vấn đề hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc với chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội.

Hoạt động phối hợp tuy được duy trì khá thường xuyên (76,7% cán bộ đánh giá thường xuyên), nhưng vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa phát huy hết vai trò của từng chủ thể. Một số hoạt động vẫn còn mang tính hình thức, thiếu sự phân công trách nhiệm rõ ràng. Trong bối cảnh xã Di Linh mới được thành lập, việc tổ chức lại bộ máy và thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị càng trở nên cấp thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong triển khai nhiệm vụ.

Thứ năm, vấn đề về nguồn lực, đội ngũ cán bộ và điều kiện bảo đảm cho hoạt động của Mặt trận.

Kết quả khảo sát cho thấy, các yếu tố về kinh tế, nguồn lực và đội ngũ cán bộ đều được đánh giá là có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của Mặt trận, với tỷ lệ lựa chọn từ 96,7% đến 100%. Nguồn kinh phí còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, cùng với việc đội ngũ cán bộ ở một số nơi còn thiếu kỹ năng, đặc biệt là khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc và am hiểu phong tục tập quán, đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai các hoạt động. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động của Mặt trận ở cơ sở.

Thứ sáu, vấn đề thích ứng với bối cảnh mới sau sáp nhập đơn vị hành chính.

Xã Di Linh được thành lập trên cơ sở sáp nhập nhiều đơn vị hành chính với đặc điểm khác nhau về kinh tế – xã hội và cơ cấu dân cư. Sự chênh lệch giữa khu vực thị trấn trước đây và các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã gây khó khăn cho việc triển khai đồng bộ các hoạt động của Mặt trận. Địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông khó khăn, cùng với sự khác biệt về ngôn ngữ và phong tục tập quán tiếp tục là những rào cản trong việc tổ chức hoạt động một cách hiệu quả. Trong giai đoạn đầu sau sáp nhập, bộ máy tổ chức và cơ chế phối hợp chưa hoàn toàn ổn định, dẫn đến hoạt động của Mặt trận vẫn mang tính kế thừa, chưa thật sự đồng bộ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhanh chóng kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động và xây dựng cơ chế phối hợp phù hợp với đặc điểm địa bàn mới, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

5. Một số giải pháp

Trên cơ sở các chức năng của MTTQ Việt Nam và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn hoạt động tại xã Di Linh trong bối cảnh sau sáp nhập, việc nâng cao hiệu quả hoạt động cần được triển khai đồng bộ, gắn với đặc điểm địa bàn và các điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn. Các giải pháp không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế hiện nay mà còn hướng tới xây dựng Mặt trận hoạt động thực chất, hiệu quả “hướng về cơ sở, gần dân, sát dân”4 theo các chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Một là, đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền, vận động theo hướng phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số.

Kết quả khảo sát cho thấy, vẫn còn 24,4% người dân đánh giá hoạt động tuyên truyền ở mức bình thường, phản ánh những hạn chế nhất định về hiệu quả tiếp cận thông tin và mức độ phù hợp của phương thức tuyên truyền hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cần chuyển từ cách tiếp cận tuyên truyền một chiều sang phương thức tương tác, linh hoạt và phân hóa theo từng nhóm đối tượng.

Trên địa bàn có đặc điểm đa dân tộc, cần tăng cường sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong truyền thông, đồng thời phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, người có uy tín như những “chủ thể trung gian” có khả năng lan tỏa thông tin, thông điệp hiệu quả trong cộng đồng. Bên cạnh đó, việc lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các hoạt động văn hóa cộng đồng, lễ hội truyền thống cần được chú trọng nhằm nâng cao tính gần gũi và khả năng tiếp nhận của người dân.

Về nội dung, cần ưu tiên các vấn đề thiết thực gắn với đời sống như giảm nghèo, phát triển sinh kế, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, những lĩnh vực được trên 75% người dân quan tâm theo kết quả khảo sát. Định hướng này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ hiện nay, về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, hiệu quả, bám sát cơ sở và phát huy vai trò của các lực lượng nòng cốt trong cộng đồng, nhất là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số4.

Hai là, nâng cao hiệu quả thu hút và duy trì sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Mặt trận.

Thực tiễn cho thấy, mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động của Mặt trận chưa đồng đều giữa các nhóm hoạt động, chịu tác động bởi đặc điểm sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp và điều kiện địa bàn rộng, dân cư phân tán. Điều này đặt ra yêu cầu cần điều chỉnh cách thức tổ chức hoạt động theo hướng linh hoạt, thiết thực và gắn với lợi ích trực tiếp của người dân. Cần chú trọng tổ chức các hoạt động phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia; đồng thời gắn các phong trào, cuộc vận động với hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo và nâng cao đời sống, qua đó tăng tính hấp dẫn và tính bền vững của việc tham gia. Bên cạnh đó, việc phát triển các mô hình “tự quản cộng đồng” tại thôn, buôn cần được đẩy mạnh nhằm phát huy vai trò của người dân như chủ thể trong quản lý và tổ chức đời sống cộng đồng. Đồng thời, phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân… trong việc vận động, tập hợp hội viên, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng. Giải pháp này phù hợp với vai trò của Mặt trận được xác định là “liên minh chính trị, tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”5.

Ba là, nâng cao chất lượng và tính thực chất của hoạt động giám sát và phản biện xã hội.

Kết quả khảo sát cho thấy, có 31,7% cán bộ đánh giá hoạt động giám sát ở mức trung bình, phản ánh những hạn chế nhất định về hiệu quả và tính thực chất trong quá trình triển khai. Điều này đặt ra yêu cầu cần chuyển từ hình thức giám sát mang tính thủ tục sang giám sát có trọng tâm, trọng điểm, gắn trực tiếp với quyền và lợi ích thiết thực của người dân. Theo đó, cần ưu tiên giám sát các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số như chính sách dân tộc, giảm nghèo và an sinh xã hội; đồng thời tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình giám sát nhằm nâng cao tính khách quan và tính đại diện.

Việc công khai kết quả giám sát cũng cần được chú trọng để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan liên quan. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của Nhân dân theo hướng kịp thời, hiệu quả, qua đó củng cố niềm tin và khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân, phù hợp với chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân6.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội.

Kết quả khảo sát cho thấy ,vẫn còn 16,7% cán bộ đánh giá hoạt động phối hợp chưa thường xuyên, phản ánh những hạn chế nhất định trong cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Điều này đặt ra yêu cầu cần xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, đồng bộ, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả triển khai các nhiệm vụ chung.

Cần quy định cụ thể trách nhiệm của từng tổ chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp; thiết lập cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin thường xuyên giữa Mặt trận với chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành trong triển khai các chương trình, phong trào tại địa phương. Trong quá trình đó, Mặt trận cần phát huy vai trò trung tâm trong việc điều phối, tập hợp và phối hợp hành động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, phù hợp với “chức năng tham mưu, hướng dẫn và phối hợp hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội”7.

Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và bảo đảm nguồn lực cho hoạt động của Mặt trận.

Kết quả khảo sát cho thấy, từ 96,7% đến 100% ý kiến đánh giá, yếu tố con người và nguồn lực có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động của Mặt trận. Điều này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đồng thời bảo đảm các điều kiện nguồn lực nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Theo đó, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng dân vận, tuyên truyền, vận động quần chúng cho đội ngũ cán bộ Mặt trận nhất là cán bộ Mặt trận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời tăng cường trang bị kiến thức về văn hóa, phong tục, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và tương tác với người dân.

Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, quản lý và kết nối cộng đồng cũng cần được quan tâm, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số hiện nay. Song song với yếu tố con người, việc bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động, đặc biệt tại các khu vực khó khăn, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận ở cơ sở8.

Sáu là, kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động trong bối cảnh sau sáp nhập gắn với chuyển đổi số.

Trong bối cảnh xã Di Linh sau sáp nhập có địa bàn rộng, dân cư phân tán và điều kiện tiếp cận không đồng đều giữa các khu vực, việc kiện toàn tổ chức Mặt trận theo hướng tinh gọn, hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn là yêu cầu cấp thiết. Cùng với đó, đổi mới phương thức hoạt động cần được triển khai đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tập hợp và kết nối Nhân dân trong điều kiện mới. Một trong những hướng đi quan trọng là đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của MTTQ hiện nay. Theo đó, Mặt trận cần khai thác hiệu quả các nền tảng truyền thông số, như: zalo cộng đồng, mạng xã hội để tăng cường tương tác và truyền tải thông tin; xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trực tuyến nhằm rút ngắn khoảng cách giữa Mặt trận và người dân; đồng thời, ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động.

Việc thúc đẩy chuyển đổi số không chỉ góp phần khắc phục hạn chế về không gian địa lý mà còn nâng cao khả năng tiếp cận, đặc biệt đối với nhóm dân cư trẻ và những đối tượng có điều kiện hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ. Đáp ứng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác dân vận”9, nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, mở rộng truyền thông và xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành ở cơ sở. Đồng thời, việc kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động cũng gắn với định hướng tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống Mặt trận trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại bộ máy hiện nay.

  • 6. Kết luận

Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và đổi mới tổ chức hệ thống chính trị ở cơ sở, hoạt động của MTTQ Việt Nam tại xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, đang đứng trước những yêu cầu mới về nội dung và phương thức hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau sáp nhập, Mặt trận đã phát huy vai trò trong tuyên truyền, vận động, củng cố khối đại đoàn kết và tham gia giám sát, phản biện xã hội; tuy nhiên, hiệu quả hoạt động chưa đồng đều, vẫn còn những hạn chế về mức độ tiếp cận thông tin, sự tham gia của người dân, chất lượng giám sát và cơ chế phối hợp. Bài viết đề xuất các nhóm giải pháp theo hướng đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường tính thiết thực và khả năng thích ứng với đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm rõ thực tiễn hoạt động của Mặt trận trong bối cảnh sau sáp nhập mà còn cung cấp cơ sở tham khảo để hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận tại các địa bàn tương đồng.

Chú thích:
1. Quốc hội (2025). Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2025.
2. UBND tỉnh Lâm Đồng (2025). Tóm tắt đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của huyện Di Linh, ngày 18/4/2025.
3, 9. Tỉnh ủy Lâm Đồng (2026). Kế hoạch số 60-KH/TU ngày 15/4/2026 về việc thực hiện Kết luận số 236-KL/TW của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
4. Kết luận số 167-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. https://m.mattran.org.vn/tin-tuc/ket-luan-so-167kltw-cua-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-dua-vao-hoat-dong-dong-thoi-cap-tinh-cap-xa-tu-ngay-172025-64101.html
5. Từ ngày 01/7 MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội hoạt động theo mô hình mới. https://baochinhphu.vn/tu-ngay-1-7-mttq-va-cac-to-chuc-chinh-tri-xa-hoi-hoat-dong-theo-mo-hinh-moi-1022506141646186.htm
6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-mat-tran-to-quoc-viet-nam-luat-cong-doan-luat-thanh-nien-luat-thuc-hien-dan-chu-o-co-so-119250717074438643.htm
7. Quyết định số 304-QĐ/TW ngày 10/6/2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. https://mattran.org.vn/hoat-dong/quyet-dinh-so-304qdtw-cua-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ve-chuc-nang-nhiem-vu-to-chuc-bo-may-co-quan-uy-ban-trung-uong-mat-tran-to-quoc-viet-nam-64110.html
8. Hướng dẫn sắp xếp tổ chức bộ máy MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cấp tỉnh, cấp xã, truy cập tại: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/huong-dan-sap-xep-to-chuc-bo-may-mttq-viet-nam-cac-to-chuc-chinh-tri-xa-hoi-cap-tinh-cap-xa-119250603162745875.htm