Phát triển quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Indonesia trong bối cảnh mới

Developing Vietnam – Indonesia economic cooperation in the new context

TS. Lê Bá Tâm
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Bảo Trang
Đại học Kinh tế Quốc dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày 30/12/2025, đánh dấu 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Indonesia. Bài viết phân tích bối cảnh địa kinh tế mới, điểm lại thành tựu hợp tác thương mại – đầu tư, nhận diện những nút thắt và đề xuất định hướng chính sách nhằm đưa hợp tác kinh tế song phương bứt phá đến năm 2030, tầm nhìn 2045, tận dụng các khuôn khổ ASEAN, RCEP và các chiến lược phát triển quốc gia của mỗi nước.

Từ khóa: Việt Nam; Indonesia; chuỗi cung ứng; kinh tế xanh; kinh tế số; đầu tư; thương mại.

Abstract: December 30, 2025 marks the 70th anniversary of the establishment of diplomatic relations between Vietnam and Indonesia. The article analyzes the new geo-economic context, reviews achievements in trade and investment cooperation, identifies existing bottlenecks, and proposes policy orientations to promote breakthroughs in bilateral economic cooperation toward 2030, with a vision to 2045, while taking advantage of ASEAN frameworks, RCEP, and each country’s national development strategies.

Keywords: Vietnam, Indonesia; supply chain; green economy; digital economy; investment; trade.

1. Đặt vấn đề

Năm 2025 mang ý nghĩa biểu tượng đối với quan hệ Việt Nam – Indonesia: 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1955 – 2025) và đặc biệt là việc hai nước vừa nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện (ngày 10/3/2025). Về phía đối ngoại nhân dân, các cơ quan đại diện và tổ chức hữu nghị hai nước đồng loạt triển khai chuỗi hoạt động kỷ niệm 70 năm. Trong bối cảnh địa kinh tế toàn cầu nhiều biến động – cạnh tranh công nghệ, chuyển dịch chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh – chuyển đổi số, cùng các rủi ro địa chính trị, hợp tác kinh tế song phương giữa hai nền kinh tế trụ cột của ASEAN có ý nghĩa không chỉ ở bình diện song phương mà còn đối với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Về quy mô, ASEAN có dân số khoảng 700 triệu người (năm 2025) và GDP khoảng 3,9 nghìn tỷ USD1. Indonesia là nền kinh tế lớn nhất ASEAN, còn Việt Nam thuộc nhóm tăng trưởng nhanh trong khu vực.

Bài viết hướng tới các mục tiêu chính: (1) Phân tích bối cảnh mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Indonesia; (2) Cập nhật thực trạng hợp tác thương mại và đầu tư dựa trên các số liệu mới nhất; nhận diện những trở lực chủ yếu; (3) Đề xuất các chính sách khả thi cho giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Hợp tác kinh tế Việt Nam – Indonesia trong bối cảnh mới

2.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

Quan hệ kinh tế song phương Việt Nam – Indonesia không tồn tại một cách biệt lập, mà vận hành trong một cấu trúc khu vực rộng lớn, được định hình bởi tầm nhìn “ASEAN trung tâm”. Vị thế này giúp ASEAN, trong đó Việt Nam và Indonesia là hai nền kinh tế lớn, vừa trở thành điểm đến sản xuất – thương mại, vừa đóng vai trò kiến tạo luật chơi cho khu vực. Một minh chứng điển hình là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), chính thức có hiệu lực với Indonesia từ năm 20232, mở ra khuôn khổ tự do hóa thương mại và đầu tư sâu rộng, đặt hợp tác song phương Việt Nam – Indonesia vào dòng chảy hội nhập mới. Trong kỷ nguyên mới, hợp tác Việt Nam – Indonesia được đặt trong một bức tranh quốc tế – khu vực nhiều biến động:

Một là, bối cảnh quốc tế.

Các chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ để quản trị rủi ro địa chính trị. Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng sản xuất hàng hóa khiến các tập đoàn đa quốc gia chủ động đa dạng hóa bạn hàng, tránh phụ thuộc vào một trung tâm duy nhất. Khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Indonesia và Việt Nam nổi lên như hai điểm đến hấp dẫn cho làn sóng dịch chuyển sản xuất. Cả hai nước đều được hưởng lợi từ dòng vốn và đơn hàng dịch chuyển khỏi Trung Quốc, nhất là trong điện tử, dệt may và sản xuất xanh.

ASEAN vẫn duy trì vị thế là một trung tâm tăng trưởng toàn cầu. Năm 2024, GDP danh nghĩa của ASEAN đạt khoảng 3,8 – 3,9 nghìn tỷ USD, đưa khu vực trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới3. Điều này tạo nền tảng để Việt Nam và Indonesia thúc đẩy liên kết sản xuất – thương mại nội khối, giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, như: Mỹ, Trung Quốc hay EU. Bên cạnh đó, “luật chơi” mới trong thương mại quốc tế đang hình thành. Không chỉ các FTA thế hệ mới, như: RCEP, CPTPP mà còn các tiêu chuẩn môi trường, lao động và quy tắc xuất xứ ngày càng khắt khe. Những biện pháp siết chống lẩn tránh thuế của Mỹ và EU, đặc biệt liên quan đến xuất xứ hàng hóa từ Trung Quốc, có thể ảnh hưởng gián tiếp tới dòng thương mại qua Đông Nam Á, bao gồm: Việt Nam và Indonesia. Trong bối cảnh đó, việc hai nước phối hợp để nâng cao tính minh bạch, đáp ứng tiêu chuẩn chuyển đổi xanh – chuyển đổi số, sẽ là chìa khóa duy trì tăng trưởng thương mại.

Hai là, bối cảnh trong nước.

Đối với Việt Nam, mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam đã được thể chế hóa đồng bộ qua các văn kiện lớn của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ). Để hiện thực hóa cam kết đưa mức phát thải ròng về 0 vào năm 2050 tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch điện VIII (Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023), đặt ra lộ trình cụ thể nhằm nâng tổng công suất lắp đặt nguồn điện lên khoảng 150 GW vào năm 2030, đồng thời ưu tiên tối đa cho việc chuyển dịch năng lượng xanh…”. Với định hướng này, Việt Nam không chỉ muốn trở thành công xưởng sản xuất, mà còn là trung tâm công nghệ xanh – kinh tế số trong khu vực.

Đối với Indonesia, “Tầm nhìn 2045” đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển đúng dịp kỷ niệm 100 năm độc lập. Chiến lược này dựa trên ba trụ cột: (1) Công nghiệp hóa dựa vào tài nguyên, đặc biệt là nickel, bauxite, than; (2) Nội địa hóa chuỗi giá trị pin – xe điện, qua đó trở thành trung tâm sản xuất EV toàn cầu và (3) Nâng cấp hạ tầng logistics – kinh tế số để kết nối vững chắc 17.000 quần đảo. Điều này cho thấy, Indonesia đang ưu tiên thu hút FDI chất lượng cao, gắn với chuyển đổi số và năng lượng tái tạo.

Như vậy, Việt Nam và Indonesia đều đang định vị lại vai trò kinh tế trong bối cảnh khu vực và toàn cầu. Điểm gặp nhau nổi bật nhất chính là khát vọng trở thành các trung tâm sản xuất xanh, kinh tế số và bền vững, từ đó mở ra dư địa hợp tác kinh tế song phương không chỉ ở cấp độ thương mại mà còn ở tầm vóc chiến lược dài hạn.

2.2. Thực trạng hợp tác kinh tế Việt Nam – Indonesia

Thứ nhất, một số kết quả đạt được.

(1) Về thương mại hàng hóa: sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, quan hệ thương mại Việt Nam – Indonesia tăng tốc rõ nét. Năm 2024, tổng kim ngạch hai chiều đạt khoảng 16,7 tỷ USD, tăng 21,1% so với năm 2023; cán cân nghiêng về Indonesia, khi Việt Nam nhập siêu khoảng 4,33 tỷ USD. Năm 2025, theo số liệu thống kê chính thức từ Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Indonesia đã đạt mức kỷ lục 17,2 tỷ USD, tăng khoảng 3% so với năm 2024. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đạt hơn 5,73 tỷ USD; nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia đạt 11,5 tỷ USD4. Xét về cán cân thương mại, Việt Nam nhập siêu từ Indonesia khoảng 5,77 tỷ USD, phản ánh nhu cầu đầu vào sản xuất của Việt Nam và vai trò ngày càng rõ của Indonesia như một nguồn cung năng lượng – nguyên liệu trung gian trong khu vực.

Bảng 1. Thống kê kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Indonesia 5 năm
(2020 – 2025)

Đơn vị tính: Tỷ USD

NămXuất khẩu của Việt NamNhập khẩu từ IndonesiaTổng kim ngạch hai chiềuCán cân thương mại (Việt Nam)
20202,825,258,07Nhập siêu 2,43
20213,927,5911,51Nhập siêu 3,67
20224,539,6014,13Nhập siêu 5,07
20235,018,7913,80Nhập siêu 3,78
20246,0110,6516,66Nhập siêu 4,64
20255,7311,5017,20Nhập siêu 5,77
Nguồn: Số liệu báo cáo định kỳ hàng năm của Hải quan Việt Nam và Thương vụ Việt Nam tại Indonesia

Bảng 1 cho thấy, trong vòng 5 năm, mối quan hệ thương mại giữa hai nước chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc, gần như gấp đôi quy mô chỉ sau nửa thập kỷ nhờ việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược bền chặt. Về tốc độ tăng trưởng, bất chấp giai đoạn dịch bệnh COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu, kim ngạch thương mại liên tục bứt phá từ mốc hơn 8 tỷ USD (2020) lên vượt mốc 17 tỷ USD (2025). Hiện tại, hai nước đang tích cực triển khai Chương trình hành động giai đoạn 2024 – 2028 nhằm hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương cán mốc 18 tỷ USD vào năm 2028, đi cùng các hợp tác mới về an ninh lương thực và chuỗi cung ứng nông nghiệp bền vững. Trong nhập khẩu từ ASEAN, tầm quan trọng của Indonesia với Việt Nam nổi lên thấy rõ, mức độ gắn kết sản xuất – thương mại song phương đang được củng cố theo hướng trung gian đầu vào cho công nghiệp chế biến, chế tạo.

Cơ cấu mặt hàng giữa hai nước hiện đang phản ánh đúng “điểm mạnh – nhu cầu” của mỗi bên. Ở chiều Việt Nam nhập từ Indonesia, nổi bật là nhiên liệu – năng lượng như than, xăng dầu, hóa chất, nguyên liệu nhựa, phân bón, thép và một số hàng tiêu dùng. Chiều ngược lại, điện thoại linh kiện, máy móc, dệt may, nông thủy sản chế biến, vật liệu xây dựng là các nhóm Việt Nam xuất sang Indonesia với tỷ trọng đáng kể. Hiện nay, Indonesia là nhà cung cấp chủ lực than đá cho Việt Nam, năm 2024 đạt 34,7 triệu tấn5.

Về chất lượng tăng trưởng, dư địa lớn nằm ở sản phẩm trung gian công nghiệp như linh kiện, vật liệu, đồ điện – điện tử, và thiết bị phục vụ chuyển dịch năng lượng như thiết bị gió – mặt trời, thiết bị lưu trữ, lưới điện thông minh… Cơ hội còn đến từ các quy tắc xuất xứ RCEP có hiệu lực từ năm 2023 giúp tối ưu hóa tích lũy xuất xứ trong chuỗi giá trị khu vực, giảm chi phí giao dịch và thời gian thông quan nếu doanh nghiệp tận dụng tốt chứng từ và chuẩn hóa nhà cung ứng. Tuy nhiên, bối cảnh thương mại toàn cầu đang biến động. Mỹ đã siết chặt giám sát trung chuyển và quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa có liên hệ chuỗi cung ứng Trung Quốc, các doanh nghiệp ở Đông Nam Á đã phải chịu áp lực tuân thủ cao hơn. Nhiều mặt hàng đã bị áp mức thuế cao và yêu cầu minh bạch hóa nguồn gốc, truy xuất và dữ liệu chuỗi cung ứng.

(2) Về đầu tư trực tiếp nước ngoài: khác với hoạt động thương mại song phương phát triển bùng nổ, so với quy mô hai nền kinh tế, FDI song phương còn khiêm tốn, nhưng động lực mới đang hình thành theo hướng công nghiệp – hạ tầng – kinh tế số.

Hiện nay, dòng vốn FDI từ Indonesia vào Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là còn khá khiêm tốn, chủ yếu phân bổ vào các dự án quy mô vừa và nhỏ hoặc thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần (M&A). Indonesia đầu tư vào Việt Nam các dự án bán lẻ – tiêu dùng, vật liệu xây dựng, nông nghiệp – thủy sản, dịch vụ và bắt đầu dịch chuyển sang chế biến – chế tạo và hạ tầng logistics. Dòng vốn mới bị chi phối bởi chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng và dịch chuyển công đoạn sản xuất để gần thị trường. Bức tranh FDI vào Indonesia cũng cho thấy, môi trường cạnh tranh thu hút vốn trong khu vực rất quyết liệt. Năm 2025, tổng số vốn FDI vào Indonesia cũng giảm khoảng 6 – 7% so với cùng kỳ, phản ánh các điều chỉnh chu kỳ và thay đổi chính sách toàn cầu. Đây là điều mà Việt Nam cần lưu ý khi hợp tác đầu tư6.

Bảng 2. Số liệu FDI của Indonesia vào Việt Nam (2020 2025)

Đơn vị tính: Triệu USD

NămSố dự án cấp mớiVốn đăng ký cấp mớiVốn điều chỉnh & Góp vốn mua cổ phầnTổng vốn đăng ký trong năm
202042,743,416,15
202135,1012,3217,42
202258,9015,2024,10
2023712,4018,7531,15
202469,8016,5026,30
2025814,5021,3035,80
Lũy kếTính đến hết 2025, Indonesia có khoảng 120 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt ~662,5 triệu USD, đứng thứ 30/140 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.
Nguồn: Báo cáo thường niên “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư – nay là Bộ Tài chính).

Ở chiều ngược lại, dòng vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Indonesia giai đoạn 2020 – 2025 ghi nhận một sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt. Nếu như trong các năm 2020 – 2023, dòng vốn này ở mức rất khiêm tốn thì đến giai đoạn 2024 – 2025, làn sóng các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và xe điện… đã tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ. Năm 2024, FDI của Việt Nam sang Indonesia là 137,6 triệu USD, đưa Indonesia vươn lên trở thành quốc gia thu hút vốn đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm tới 20,7% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của cả nước, tăng gấp 227 lần so với năm 2023. Năm 2025, lượng vốn FDI từ Việt Nam vào Indonesia là khoảng 150 triệu USD, tiếp tục duy trì ổn định, chủ yếu qua việc giải ngân, nâng vốn cho các siêu dự án sản xuất công nghiệp kỹ thuật cao và mở rộng hạ tầng mạng lưới7.

Trường hợp điển hình là Công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh VinFast đã công bố kế hoạch đầu tư dài hạn khoảng 1,2 tỷ USD, trong đó khoảng 200 triệu USD cho nhà máy lắp ráp dự kiến vận hành trong năm nay (năm 2026); đồng thời, thảo luận triển khai hệ thống trạm sạc quy mô lớn để phát triển hệ sinh thái xe điện. Dù tiến độ thị trường còn biến động, định hướng này gợi mở một trục hợp tác mới: xe điện – pin – sạc, kết nối lợi thế tài nguyên niken và nền công nghiệp pin của Indonesia với năng lực sản xuất – phần mềm – dịch vụ đang lên của doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, các tên tuổi lớn, như: FPT, Thế giới di động (thông qua liên doanh với Erajaya) hay các dự án khai khoáng, nông nghiệp kỹ thuật cao tiếp tục tăng tốc rót vốn.

An ninh lương thực và nông nghiệp công nghệ cao cũng nổi lên trong lĩnh vực FDI tiềm năng. Tháng 7/2025, hai nước nhấn mạnh hợp tác chuỗi cung ứng lương thực bền vững khi đặt mục tiêu thương mại 18 tỷ USD vào năm 2028, phù hợp xu hướng tiêu dùng và tiêu chuẩn bền vững.

(3) Về liên kết chính sách và khuôn khổ hợp tác: năm 2025, khung thể chế song phương giữa Việt Nam và Indonesia đã được tăng cường. Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn. Hai bên nhất trí tập trung gỡ bỏ rào cản thương mại và thúc đẩy đầu tư trong các lĩnh vực mới, như: kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển dịch năng lượng, hệ sinh thái xe điện, logistics thông minh, thanh toán số và sản phẩm cho người theo đạo Hồi. Đồng thời, mục tiêu đạt 18 tỷ USD thương mại vào năm 2028 được khẳng định, theo hướng cân bằng và bền vững hơn8. Hiệp định RCEP đang tạo khuôn khổ thuận lợi cho việc hài hòa quy tắc xuất xứ, giảm thuế quan theo lộ trình và thúc đẩy thương mại trong các chuỗi cung ứng khu vực. Đây là yếu tố đặc biệt hữu ích đối với các ngành công nghiệp trung gian cũng như điện – điện tử, nơi Việt Nam và Indonesia có thể phát huy tính bổ sung thay vì cạnh tranh trực tiếp.

Một bước tiến quan trọng khác là ở lĩnh vực pháp lý biển. Tháng 5/2025, Quốc hội Indonesia thúc đẩy tiến trình phê chuẩn thỏa thuận phân định EEZ Việt Nam – Indonesia ký năm 2022. Thỏa thuận này không chỉ củng cố nền tảng ổn định pháp lý trên biển mà còn mở đường cho hợp tác trong các lĩnh vực, như: khai thác hải sản bền vững, dịch vụ dầu khí cũng như logistics biển.

Thứ hai, những hạn chế và thách thức.

Thực tế hiện nay rào cản kỹ thuật và thủ tục vẫn là một điểm nghẽn lớn. Việc chuẩn hóa tiêu chuẩn và quy chuẩn, kiểm dịch, thủ tục hải quan hay chứng nhận xuất xứ khiến chi phí giao dịch gia tăng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thị trường các nước phát triển siết chặt quy tắc xuất xứ và giám sát trung chuyển, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc số hóa, dữ liệu lô hàng hay hóa đơn điện tử xuyên biên giới ngày càng khắt khe.

Hạn chế về kết nối logistics và vận tải cũng nổi lên rõ rệt. Năng lực vận tải biển, cảng biển và hệ thống kho lạnh kết nối trực tiếp giữa các trung tâm công nghiệp và tiêu dùng của hai nước, như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai với Jakarta, Java, Batam/Bintan cùng với vận tải hàng không, vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện. Sự thiếu hụt này làm cho thời gian và chi phí giao hàng cao hơn so với các trục đã hoàn thiện như Singapore hay Malaysia, từ đó giảm lợi thế cạnh tranh thương mại hàng hóa.

Cạnh tranh trực tiếp trong một số ngành, như: thủy sản, dệt may hay nông sản cơ bản có nguy cơ kích hoạt các biện pháp phòng vệ thương mại nếu thiếu cơ chế tham vấn sớm và cảnh báo kịp thời. Trong bối cảnh đó, cách tiếp cận – vừa hợp tác vừa cạnh tranh – trở thành chìa khóa, giúp xác định phân khúc để tránh chồng chéo lẫn nhau, đồng thời, phối hợp về tiêu chuẩn và truy xuất nhằm mở rộng sang các thị trường thứ ba.

Rủi ro chính sách toàn cầu cũng đặt ra thách thức không nhỏ. Xu hướng tăng thuế và siết rào cản tại các thị trường lớn như Mỹ và EU đang khiến yêu cầu tuân thủ chuỗi cung ứng và quản trị rủi ro xuất xứ trở nên khắt khe hơn. Nhiều phân tích gần đây chỉ ra khả năng áp thuế cao hoặc biện pháp chống lẩn tránh, buộc doanh nghiệp ASEAN phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng, giảm phụ thuộc và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong khu vực.

Quá trình chuyển dịch năng lượng đặt ra những yêu cầu hết sức lớn lao. Để nắm bắt “làn sóng xanh”, cả Việt Nam và Indonesia đều cần nguồn lực tài chính và công nghệ đáng kể cho điện gió, điện mặt trời, lưới điện linh hoạt, lưu trữ năng lượng và công nghiệp hỗ trợ. Việt Nam hiện đang điều chỉnh quy hoạch năng lượng, bổ sung điện hạt nhân hay hydrogen như một lựa chọn trung và dài hạn, cho thấy chính sách năng lượng vẫn còn nhiều biến động. Nếu tiến độ chuyển dịch chậm, hợp tác song phương trong các dự án năng lượng tái tạo, sản xuất thiết bị, vật liệu hay dịch vụ kỹ thuật sẽ khó đạt được bước tiến mạnh mẽ9.

3. Triển vọng và định hướng hợp tác kinh tế Việt Nam – Indonesia trong kỷ nguyên mới

Hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện (tháng 3/2025) cùng với hiệu lực của RCEP và tiến trình phê chuẩn phân định EEZ đã tạo nền tảng chính trị – thể chế vững chắc, mở ra chu kỳ hợp tác mới hướng tới mục tiêu thương mại 18 tỷ USD vào năm 2028; đồng thời, mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số, công nghệ cao và kinh tế biển bền vững.

Một là, thúc đẩy thương mại hai chiều theo hướng cân bằng, bền vững, mở rộng sang các ngành công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế số.

Ưu tiên trước mắt là giảm độ lệch cán cân thông qua cơ cấu lại giỏ hàng: Việt Nam có thể gia tăng xuất khẩu sản phẩm trung gian công nghiệp (linh kiện, bảng mạch, vật liệu mới), thiết bị phục vụ chuyển dịch năng lượng (máy biến tần, tấm pin, thiết bị lưới) và dịch vụ số (phần mềm, gia công). Về phía Indonesia, nhu cầu ổn định đối với nhiên liệu – khoáng sản chế biến sâu và nguyên liệu trung gian vẫn hiện hữu, song cần gắn với chuẩn bền vững và truy xuất nguồn gốc để đáp ứng các thị trường phát triển. RCEP cho phép hai bên tăng hàm lượng giá trị khu vực qua tích lũy xuất xứ, đồng thời tận dụng thủ tục hải quan số hóa để rút ngắn thời gian thông quan.

Một hướng mở quan trọng là chuỗi giá trị xe điện (EV): Việt Nam có năng lực lắp ráp và phần mềm, còn Indonesia sở hữu nguồn niken và chính sách hạ nguồn pin-EV; các kế hoạch đầu tư của VinFast vào Indonesia (quy mô dài hạn khoảng 1,2 tỷ USD, nhà máy mục tiêu vận hành từ năm 2026) cho thấy, động lực hình thành cụm liên kết sản xuất – dịch vụ EV giữa hai nước. Cần đưa ra quy tắc xuất xứ RCEP theo lộ trình để tối đa hóa tỷ lệ nội địa khu vực cho bộ pin, động cơ điện và hệ thống điều khiển. Tiếp tục theo dõi sát biến động chính sách lương thực. Nửa đầu 2025, Indonesia giảm nhập khẩu gạo do tồn kho cao, hai bên đã thống nhất chuẩn bị ký thỏa thuận thương mại gạo mới nhằm ổn định nguồn cung dài hạn và cải thiện khả năng dự báo cho doanh nghiệp. Điều này giúp tránh các “cú sốc” ngắn hạn và hỗ trợ mục tiêu cân bằng cán cân thương mại.

Hai là, tăng cường đầu tư trực tiếp song phương, khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ, khởi nghiệp sáng tạo.

FDI hai chiều còn khiêm tốn so với tiềm năng thị trường hơn 370 triệu người tiêu dùng. Để “kéo” dòng vốn mới, nên ưu tiên cụm dự án công nghiệp – hạ tầng – kinh tế số: (1) EV-pin-sạc; (2) Thiết bị năng lượng tái tạo và lưới điện thông minh; (3) Logistics lạnh và cảng-hậu cần gắn với các tuyến biển trực tiếp; (iv) Dịch vụ số – trung tâm dữ liệu – thanh toán số. Cơ chế đồng bộ hóa ưu đãi đầu tư theo dự án liên kết (project-linked incentives) giữa hai cơ quan xúc tiến đầu tư sẽ giảm chi phí giao dịch và rủi ro “kẹp” chính sách. Cần một quỹ đồng đầu tư Việt – Indonesia (co-investment fund) tập trung SME và startup kinh tế xanh – kinh tế số, ưu tiên các mảng agritech, aquatech, logistics tech, fintech thanh toán xuyên biên giới. Nền tảng QR xuyên biên giới ASEAN đang được thúc đẩy, và Việt Nam đã công bố lộ trình mở rộng kết nối QR với đối tác trong và ngoài ASEAN, tạo hạ tầng thanh toán bán lẻ thuận tiện cho doanh nghiệp nhỏ khi thâm nhập thị trường.

Ba là, đẩy mạnh hợp tác biển và hải đảo, nhất là kinh tế biển xanh, phát triển bền vững thủy sản, an ninh năng lượng.

Việc thúc đẩy phê chuẩn phân định EEZ tạo khung pháp lý cho hợp tác kinh tế biển theo hướng bền vững. Hai bên có thể mở rộng đánh bắt, nuôi trồng có kiểm soát, truy xuất số hóa và chống IUU, cùng phát triển chuỗi lạnh từ ngư trường tới cảng và thị trường nội địa. Trên bình diện năng lượng, Việt Nam và Indonesia có thể hợp tác điện gió ngoài khơi (dịch vụ khảo sát, hậu cần lắp đặt, vận hành – bảo dưỡng) và hạ tầng nhiên liệu chuyển tiếp như LNG, song cần đặt trong tổng thể chuyển dịch năng lượng. Các thỏa thuận gần đây về hợp tác thủy sản, tôm hùm giống, cá ngừ, rong biển cho thấy, các mô hình cụ thể đã hình thành, thuận lợi để nhân rộng10.

Bốn là, tham gia chủ động các sáng kiến khu vực và toàn cầu.

RCEP được xem là đường băng thể chế để Việt Nam và Indonesia cất cánh xa hơn trong chuỗi giá trị khu vực, song để hiện thực hóa lợi ích này, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tuân thủ về tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và quản trị dữ liệu chuỗi cung ứng. Trên phương diện chuyển dịch năng lượng, Quy hoạch điện VIII của Việt Nam đặt mục tiêu đạt 150 GW công suất lắp đặt vào năm 2030, đồng thời, gắn với JETP nhằm hướng tới tỷ trọng cao hơn của năng lượng tái tạo và giới hạn phát thải tối đa của ngành điện ở mức 170 MtCO₂eq vào năm 2030. Khối lượng đầu tư cho hạ tầng phát điện và truyền tải ước tính rất lớn, qua đó mở cửa cho các dự án FDI và PPP chất lượng cao. Trong bối cảnh đó, hai nước có thể đồng phát triển các tiêu chuẩn công nghệ, như: tiêu chuẩn sạc EV, chứng chỉ REC hay hệ thống đo, đếm, xác minh phát thải, đồng thời xây dựng chỉ số rủi ro chuỗi cung ứng dùng chung. Đây sẽ là công cụ giúp nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu mới từ các thị trường Mỹ, EU và Đông Bắc Á.

Năm là, xây dựng cơ chế đối thoại kinh tế cấp cao, kết nối cộng đồng doanh nghiệp và diễn đàn hợp tác định kỳ.

Để tránh đứt quãng chính sách, Việt Nam và Indonesia nên thiết lập Đối thoại kinh tế cấp cao thường niên do bộ trưởng phụ trách kinh tế hai nước đồng chủ trì, kèm theo nhóm công tác kỹ thuật về các lĩnh vực trọng điểm gồm SPS/TBT và quy tắc xuất xứ trong khuôn khổ RCEP, logistics, chuyển dịch năng lượng – công nghiệp hỗ trợ, kinh tế số – thanh toán xuyên biên giới, cũng như hợp tác kinh tế biển xanh. Song song, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Indonesia có thể được tổ chức định kỳ bên lề các hội chợ chuyên ngành, gắn với cơ chế cảnh báo sớm phòng vệ thương mại để giảm rủi ro tranh chấp. Trong các ngành chiến lược như xe điện và pin, hai bên nên khuyến khích liên minh công nghiệp giữa doanh nghiệp hai nước, bao gồm cả OEM và nhà cung ứng nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa và chuẩn hóa dữ liệu chuỗi cung ứng.

Với bộ ba trụ cột CSP – RCEP – EEZ, kết hợp định hướng chuyển dịch xanh, chuyển đổi số và hội nhập tài chính bán lẻ, Việt Nam và Indonesia có cơ hội nâng hợp tác từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng. Trọng tâm giai đoạn 2025 – 2030 cần là cân bằng thương mại qua sản phẩm trung gian và thiết bị xanh, hình thành cụm FDI song phương trong các lĩnh vực xe điện, năng lượng và logistics số, đồng thời xây dựng cơ chế đối thoại và chuẩn hóa dữ liệu để doanh nghiệp thực sự đồng hành trong chuỗi giá trị khu vực.

4. Kết luận

Hợp tác kinh tế tiếp tục khẳng định vị trí là một trong những trụ cột quan trọng nhất trong quan hệ Việt Nam – Indonesia, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai và làm sâu sắc hơn khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện. Ý nghĩa của mối quan hệ này không chỉ dừng lại ở việc gia tăng thương mại và đầu tư song phương, mà còn nằm ở khả năng gắn kết với những mục tiêu dài hạn như phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, thúc đẩy chuyển đổi số và bảo đảm an ninh khu vực.

Trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh và yêu cầu hội nhập ngày càng khắt khe, hai nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý hợp tác, đồng thời thúc đẩy kết nối hạ tầng, nâng cao năng lực hỗ trợ cho doanh nghiệp và tăng cường cơ chế phối hợp đa phương trong ASEAN cũng như các diễn đàn quốc tế. Những bước đi này không chỉ giúp Việt Nam và Indonesia khai thác tối đa tiềm năng bổ sung lẫn nhau mà còn góp phần củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực.

Chú thích:
1. ASEAN Secretariat (2020 – 2025). ASEAN Annual Report. https://asean.org/serialparent/asean-annual-report/
2. ASEAN (2023), RCEP Agreement enters into force for Indonesia, https://asean.org/rcep-agreement-enters-into-force-for-indonesia
3. ASEANstats (2020 – 2025). ASEAN Key Figures. https://data.aseanstats.org/
4. Tổng cục Hải quan Việt Nam (2020 – 2025). Báo cáo Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam (2020, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Hà Nội.
5. Thương vụ Việt Nam tại Indonesia (2020 – 2025). Báo cáo tổng kết tình hình thị trường và quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Indonesia (2020, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025), Jakarta.
6. Indonesia’s FDI drops 6.95% y/y in Q2, biggest fall since 2020. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/indonesias-fdi-drops-695-yy-q2-biggest-fall-since-2020-2025-07-29
7. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) (2020 – 2025). Báo cáo Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2020, 2021, 2022, 2023,2024, 2025. Hà Nội.
8. Vietnam, Indonesia elevate ties to comprehensive strategic partnership, https://vietnamlawmagazine.vn/vietnam-indonesia-elevate-ties-to-comprehensive-strategic-partnership-73703
9. Viet Nam, Indonesia eye US$18 bln in bilateral trade by 2028, https://en.baochinhphu.vn/viet-nam-indonesia-eye-us18-bln-in-bilateral-trade-by-2028-111240914091409449
10. Vietnam and Indonesia promote cooperation on aquaculture and legal fishing, https://en.mae.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin-Eng.aspx? ItemID =8770
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
2. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
3. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
4. Foreign investment inflows rise to $21.5 billion in the first half of 2025. https://vietnamnews.vn/economy/1720872/foreign-investment-inflows-rise-to-21-5-billion-in-the-first-half-of-2025
5. Indonesia has prepared investment credits to cover 5% of interest from loans for labour intensive industries. https://www.reuters.com/markets/asia/indonesia-has-prepared-investment-credits-cover-5-interest-loans-labour-2025-03-19
6. Vietnam, Indonesia target 18 bln USD trade by 2028 with food security push. https://en.vietnamplus.vn/vietnam-indonesia-target-18-bln-usd-trade-by-2028-with-food-security-push-post324396.vnp
7. Vietnam, Indonesia Upgrade Ties to Comprehensive Strategic Partnership: Prospects of Future Economic Collaborations. https://www.vietnam-briefing.com/news/vietnam-indonesia-upgrade-ties-comprehensive-strategic-partnership-prospects-economic-collaborations
8. Đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở địa phương. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/06/17/doi-moi-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-kinh-te-tu-nhan-o-dia-phuong/