State management of science and technology enterprises after certification: an approach based on the post-audit model
ThS. Trần Anh Tuấn
NCS Đại học Thành Đô
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là chủ thể đặc thù trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, vừa thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa có năng lực tạo lập, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ. Do đó, hình thành, phát triển và quản lý hiệu quả loại hình doanh nghiệp này có ý nghĩa quan trọng đối với chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Bài viết phân tích yêu cầu chuyển sang hậu kiểm, làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý minh bạch, dữ liệu hóa, phân tầng rủi ro, tăng trách nhiệm giải trình.
Từ khóa: Doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hậu kiểm; tiền kiểm; quản lý nhà nước; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; quản lý rủi ro.
Abstract: Against the backdrop of the Fourth Industrial Revolution, science, technology, innovation, and digital transformation have become the central drivers of economic growth, labor productivity, and national competitiveness. Science and technology enterprises are unique entities within the innovation ecosystem, engaging in both production and business operations and capable of generating, applying, and commercializing the results of scientific research and technological development. Therefore, the formation, development, and effective management of this type of enterprise are of critical importance to Vietnam’s transition to a new growth model. This article analyzes the requirements for shifting to post-inspection, clarifies the current situation, and proposes solutions for transparent management, data-driven approaches, risk stratification, and increased accountability.
Keywords: Science and technology enterprises; post-inspection; pre-inspection; state management; innovation; digital transformation; risk management.
1. Đặt vấn đề
Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ là một nội dung quan trọng trong tiến trình xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Trong hệ thống chính sách đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được xác định là lực lượng trung gian giữa khu vực nghiên cứu và thị trường, có khả năng đưa kết quả khoa học và công nghệ ra khỏi phạm vi phòng thí nghiệm, biến tri thức thành sản phẩm, doanh thu, việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Để doanh nghiệp khoa học và công nghệ thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chính sách ưu đãi là chưa đủ. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng được phương thức quản lý nhà nước phù hợp với đặc điểm vận động nhanh, rủi ro cao và khó dự báo của hoạt động khoa học, công nghệ. Nếu quản lý quá chặt ở giai đoạn đầu, doanh nghiệp sẽ khó gia nhập hệ thống chính sách, khó tiếp cận ưu đãi và thiếu động lực đầu tư cho nghiên cứu, phát triển. Ngược lại, nếu sau khi cấp chứng nhận mà thiếu cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá, Nhà nước khó kiểm soát việc duy trì điều kiện của doanh nghiệp, khó phát hiện các trường hợp lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp khoa học và công nghệ để trục lợi chính sách, đồng thời, thiếu dữ liệu để điều chỉnh chính sách.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu hoàn thiện quản lý sau cấp chứng nhận càng cấp thiết. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học, bán dẫn, công nghệ tài chính, y tế số và nông nghiệp thông minh đang làm mờ ranh giới quản lý ngành. Do đó, cần hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo mô hình hậu kiểm dựa trên dữ liệu, quản lý rủi ro và kết quả, nhằm vừa tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, sử dụng đúng nguồn lực ưu đãi và bảo vệ lợi ích công cộng.
2. Khung khổ pháp lý và tư duy chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hình thành trên cơ sở kết hợp nhiều lĩnh vực pháp luật, bao gồm: pháp luật về khoa học và công nghệ, doanh nghiệp, đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và các quy định chuyên ngành khác. Trong đó, Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ là căn cứ pháp lý quan trọng để doanh nghiệp được xác lập tư cách đặc thù và tiếp cận các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận không phải là điểm kết thúc của quá trình quản lý mà chỉ là điểm khởi đầu. Sau khi được chứng nhận, doanh nghiệp vẫn phải duy trì điều kiện, thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh từ kết quả khoa học và công nghệ, kê khai doanh thu, thực hiện nghĩa vụ thuế, báo cáo định kỳ và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
Trong tư duy tiền kiểm, trọng tâm quản lý được đặt vào giai đoạn trước khi Nhà nước cho phép hoặc công nhận một chủ thể tham gia cơ chế pháp lý nhất định. Doanh nghiệp phải nộp nhiều loại tài liệu, chứng minh trước các điều kiện, chờ cơ quan nhà nước thẩm định, đánh giá rồi mới được cấp chứng nhận hoặc hưởng ưu đãi. Cách tiếp cận này có vai trò nhất định đối với những lĩnh vực có nguy cơ cao về an toàn, sức khỏe, môi trường hoặc an ninh. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, nếu tiền kiểm được áp dụng quá mức, nó có thể làm giảm tính linh hoạt của đổi mới sáng tạo. Nhiều sản phẩm công nghệ chưa thể chứng minh đầy đủ hiệu quả thương mại ngay từ đầu; nhiều kết quả nghiên cứu chỉ được hoàn thiện trong quá trình thử nghiệm thị trường; nhiều mô hình kinh doanh mới chưa có tiền lệ để cơ quan quản lý dễ dàng đánh giá bằng các tiêu chí truyền thống.
Ngược lại, tư duy hậu kiểm dựa trên nguyên tắc doanh nghiệp được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, được tự kê khai, tự cam kết và tự chịu trách nhiệm; trong khi Nhà nước tập trung nguồn lực để kiểm tra việc tuân thủ trong quá trình hoạt động. Hậu kiểm không có nghĩa là bỏ qua điều kiện mà là thay đổi thời điểm và phương pháp kiểm soát. Thay vì yêu cầu chứng minh quá nhiều ngay từ đầu, Nhà nước cần xác định rõ tiêu chí, trách nhiệm, nghĩa vụ báo cáo, chế tài xử lý và cơ chế giám sát sau khi cấp chứng nhận. Doanh nghiệp tuân thủ tốt cần được giảm tần suất kiểm tra và được tạo thuận lợi trong tiếp cận chính sách; doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro, kê khai bất thường, vi phạm nghĩa vụ báo cáo hoặc sử dụng ưu đãi sai mục đích phải được đưa vào diện kiểm tra trọng điểm, thậm chí bị thu hồi giấy chứng nhận, truy thu ưu đãi và xử phạt theo quy định.
Sự chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm phản ánh xu hướng cải cách quản trị công hiện đại. Hiệu lực quản lý không còn được đo bằng số lượng giấy phép, hồ sơ thẩm định hay cuộc kiểm tra, mà bằng khả năng đạt mục tiêu chính sách với chi phí xã hội thấp nhất. Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, mục tiêu chính sách không chỉ là kiểm soát điều kiện chứng nhận mà còn là khuyến khích đổi mới sáng tạo, tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ, hình thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đóng góp vào tăng trưởng năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, mô hình quản lý cần được thiết kế sao cho không triệt tiêu động lực sáng tạo của doanh nghiệp.
Khung pháp lý hiện hành đã từng bước thể hiện tinh thần chuyển đổi này thông qua xu hướng đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý, mở rộng phạm vi kết quả khoa học và công nghệ được xem xét; đồng thời, tăng trách nhiệm tự kê khai và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để tư duy hậu kiểm vận hành thực chất, cần có các điều kiện đi kèm: quy định rõ trách nhiệm báo cáo; cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; tiêu chí phân loại rủi ro; quy trình thanh tra, kiểm tra thống nhất; chế tài đủ mạnh và đội ngũ cán bộ có khả năng đánh giá đúng bản chất công nghệ, doanh thu, hoạt động thương mại hóa của doanh nghiệp.
Hậu kiểm đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ không thể chỉ được hiểu là thanh tra, kiểm tra sau cấp chứng nhận. Nếu đồng nhất hậu kiểm với thanh tra truyền thống, mô hình này có nguy cơ trở thành một hình thức kiểm soát hành chính mới, thậm chí gây phiền hà cho doanh nghiệp. Hậu kiểm hiện đại phải bao gồm nhiều tầng nấc: theo dõi tự động qua dữ liệu, phân tích báo cáo định kỳ, đối chiếu thông tin giữa các cơ sở dữ liệu, cảnh báo sớm dấu hiệu bất thường, kiểm tra từ xa, kiểm tra tại chỗ khi cần thiết, đánh giá kết quả sau kiểm tra, hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục sai sót và xử lý nghiêm hành vi gian lận cố ý.
Trong thực thi công vụ, cơ quan quản lý cần phân biệt giữa sai sót hành chính thông thường và hành vi gian lận chính sách. Một số doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có thể chưa quen với yêu cầu báo cáo, chưa có bộ phận pháp chế hoặc kế toán đủ mạnh, dẫn đến chậm nộp báo cáo, kê khai chưa đúng biểu mẫu hoặc chưa phân tách rõ doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ với doanh thu khác. Những trường hợp này cần được hướng dẫn, cảnh báo, hỗ trợ khắc phục trước khi xử lý nặng. Ngược lại, các hành vi cố ý khai khống kết quả khoa học và công nghệ, hợp thức hóa hồ sơ, chuyển doanh thu không liên quan thành doanh thu được hưởng ưu đãi hoặc sử dụng giấy chứng nhận để trục lợi phải bị xử lý nghiêm.
Một nội dung quan trọng khác của hậu kiểm là quản lý dựa trên rủi ro. Trong điều kiện nguồn lực quản lý có hạn, không thể kiểm tra mọi doanh nghiệp với cùng tần suất và mức độ. Do đó, cần phân tầng rủi ro: doanh nghiệp tuân thủ tốt, báo cáo đầy đủ, dữ liệu tài chính minh bạch và hoạt động trong lĩnh vực rủi ro thấp có thể được giảm kiểm tra; doanh nghiệp mới được chứng nhận, có biến động lớn về doanh thu ưu đãi, nhiều lần chậm báo cáo hoặc hoạt động trong lĩnh vực tác động lớn đến sức khỏe, môi trường, dữ liệu và quyền lợi người tiêu dùng cần được giám sát chặt hơn.
Chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm cũng gắn liền với chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Hậu kiểm khó hiệu quả nếu vẫn dựa vào hồ sơ giấy, báo cáo thủ công và dữ liệu phân tán. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu số về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, kết nối với cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Khi dữ liệu được liên thông, hậu kiểm mới chuyển từ phản ứng bị động sang giám sát chủ động. Vì vậy, tư duy quản lý cần chuyển từ “cấp xong là xong” sang “cấp chứng nhận là bắt đầu quá trình đồng hành, theo dõi và đánh giá”.
3. Thực trạng quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ sau cấp chứng nhận
Trong thời gian qua, hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể cả về số lượng, lĩnh vực hoạt động và mức độ quan tâm của các địa phương. Nhiều doanh nghiệp đã thương mại hóa thành công kết quả nghiên cứu, tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ, từng bước khẳng định năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, hỗ trợ sở hữu trí tuệ, thương mại hóa và tham gia các chương trình khoa học và công nghệ của Nhà nước đã góp phần tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý sau cấp chứng nhận vẫn còn nhiều hạn chế, như:
Một là, nhận thức về hậu kiểm chưa thật sự thống nhất giữa các cơ quan quản lý và địa phương. Có nơi vẫn coi trọng khâu thẩm định ban đầu hơn theo dõi sau chứng nhận; có nơi hiểu hậu kiểm chủ yếu là tổ chức các đoàn kiểm tra định kỳ; có nơi do thiếu nguồn lực nên chỉ yêu cầu doanh nghiệp gửi báo cáo mà chưa phân tích, đối chiếu và đánh giá sâu. Sự khác biệt này làm cho việc thực thi chưa thống nhất trên phạm vi cả nước.
Hai là, cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn phân tán, chưa liên thông đầy đủ với các hệ thống dữ liệu khác. Thông tin về cấp giấy chứng nhận do cơ quan Khoa học và công nghệ quản lý; thông tin đăng ký doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh quản lý; thông tin về doanh thu, thuế và ưu đãi thuế do cơ quan thuế quản lý; còn thông tin về đất đai, tín dụng, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng lại thuộc các cơ quan khác nhau. Khi dữ liệu chưa được kết nối tự động, cơ quan quản lý khó có bức tranh đầy đủ về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể đã thay đổi ngành nghề, địa chỉ, tạm ngừng hoạt động, giải thể, sáp nhập hoặc không còn duy trì hoạt động thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ, nhưng thông tin không được cập nhật kịp thời đến cơ quan cấp chứng nhận, làm giảm hiệu quả hậu kiểm.
Ba là, chế độ báo cáo của doanh nghiệp khoa học và công nghệ tuy đã được quy định nhưng thực hiện chưa đồng đều. Một bộ phận doanh nghiệp báo cáo chưa đầy đủ, chậm thời hạn hoặc mang tính hình thức. Nguyên nhân có thể đến từ quy mô nhỏ, thiếu nhân sự pháp lý, kế toán, quản trị tuân thủ; chưa có hệ thống phân tách doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ với doanh thu từ hoạt động khác; hoặc chưa nhận thức đầy đủ rằng báo cáo là điều kiện quan trọng để tiếp tục được hưởng chính sách. Về phía cơ quan quản lý, biểu mẫu báo cáo chưa thật sự thuận tiện, chưa số hóa toàn diện, thiếu cơ chế nhắc hạn, cảnh báo tự động và phản hồi nhanh cho doanh nghiệp.
Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra sau cấp chứng nhận cũng có nguy cơ chồng chéo với các hoạt động kiểm tra chuyên ngành khác. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ thường hoạt động trong các lĩnh vực liên ngành. Một doanh nghiệp sản xuất thiết bị y tế ứng dụng công nghệ mới có thể chịu sự quản lý của ngành khoa học và công nghệ, y tế, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thuế, hải quan và sở hữu trí tuệ; doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao có thể liên quan đến khoa học và công nghệ, nông nghiệp, môi trường, an toàn thực phẩm, đất đai và thương mại. Nếu thiếu kế hoạch phối hợp, doanh nghiệp có thể phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra trong cùng một năm, với nội dung trùng lặp, làm tăng chi phí tuân thủ và tạo tâm lý e ngại.
Năm là, năng lực đánh giá thực chất hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản phẩm, dịch vụ còn chưa đồng đều. Không phải cán bộ quản lý nào cũng có đủ kiến thức chuyên sâu để đánh giá các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, bán dẫn, dữ liệu lớn, nền tảng số hoặc công nghệ tài chính. Trong khi đó, hồ sơ và báo cáo của doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều thuật ngữ kỹ thuật phức tạp. Nếu thiếu công cụ đánh giá, chuyên gia hỗ trợ và dữ liệu đối chiếu, hậu kiểm dễ rơi vào hai thái cực: kiểm tra hình thức trên giấy tờ hoặc yêu cầu giải trình nhiều lần nhưng vẫn khó kết luận chính xác.
Sáu là, cơ chế đánh giá hiệu quả của chính sách sau chứng nhận chưa được chú trọng đúng mức. Hậu kiểm không chỉ nhằm phát hiện vi phạm mà còn phải trả lời các câu hỏi chính sách: doanh nghiệp sau chứng nhận có phát triển tốt hơn không; ưu đãi thuế có thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển không; doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ có tăng không; doanh nghiệp có mở rộng thị trường, tạo việc làm chất lượng cao và nâng cao năng lực công nghệ hay không. Nếu chỉ tập trung vào việc doanh nghiệp có nộp đủ báo cáo hay không, Nhà nước sẽ thiếu cơ sở điều chỉnh chính sách ưu đãi và hỗ trợ.
Bảy là, nguy cơ lợi dụng chính sách ưu đãi. Khi doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng hoặc danh tiếng, có thể xuất hiện động cơ xin chứng nhận không nhằm đổi mới sáng tạo thực chất mà để tiếp cận lợi ích chính sách. Nếu hậu kiểm không chặt chẽ, doanh nghiệp có thể kê khai sai doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ, hợp thức hóa kết quả nghiên cứu không còn phù hợp hoặc sử dụng giấy chứng nhận để tham gia chương trình hỗ trợ mà không duy trì năng lực công nghệ tương xứng.
Từ những vấn đề trên có thể thấy, thách thức của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ sau cấp chứng nhận không nằm ở một khâu riêng lẻ, mà ở toàn bộ hệ thống quản trị: tư duy quản lý, pháp luật, dữ liệu, phối hợp liên ngành, năng lực cán bộ, chế tài xử lý và văn hóa tuân thủ. Mô hình hậu kiểm chỉ phát huy hiệu quả khi được xây dựng đồng bộ, dựa trên dữ liệu, phân tầng rủi ro và gắn với mục tiêu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thực chất.
4. Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hậu kiểm ở Việt Nam
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ sau cấp chứng nhận theo mô hình hậu kiểm, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Các giải pháp này phải hướng tới mục tiêu kép: một mặt, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, giảm chi phí tuân thủ và khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu; mặt khác, vẫn bảo đảm quản lý chặt chẽ, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng và hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi. Vì vậy, hậu kiểm không nên hiểu như một biện pháp kiểm tra đơn lẻ, mà cần được coi là một cấu phần quan trọng của cải cách quản trị công trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ nhất, cần hoàn thiện thể chế về quản lý sau cấp chứng nhận theo hướng rõ trách nhiệm, rõ tiêu chí, rõ quy trình và rõ chế tài.
Cơ quan có thẩm quyền cần rà soát toàn bộ các quy định liên quan đến doanh nghiệp khoa học và công nghệ, bao gồm: điều kiện chứng nhận, chế độ báo cáo, duy trì điều kiện, hưởng ưu đãi, thu hồi giấy chứng nhận, xử lý vi phạm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Việc rà soát không chỉ nhằm cắt giảm các thủ tục tiền kiểm không cần thiết mà còn nhằm bổ sung những quy định còn thiếu về hậu kiểm. Cần quy định cụ thể doanh nghiệp sau khi được cấp chứng nhận phải báo cáo những nội dung gì, theo kỳ hạn nào, bằng phương thức nào, cơ quan nào tiếp nhận, cơ quan nào phân tích và trong trường hợp nào doanh nghiệp bị đưa vào diện kiểm tra.
Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa quy trình hậu kiểm để tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện theo một cách khác nhau. Quy trình này nên bao gồm các bước cơ bản, như: tiếp nhận và cập nhật dữ liệu doanh nghiệp; phân loại rủi ro; lựa chọn đối tượng kiểm tra; thông báo kiểm tra đối với trường hợp kiểm tra định kỳ; tiến hành kiểm tra; lập biên bản; yêu cầu khắc phục; theo dõi sau kiểm tra; cập nhật kết quả vào cơ sở dữ liệu; và xử lý vi phạm nếu có. Đối với kiểm tra đột xuất, cần quy định rõ các căn cứ kích hoạt, như: phản ánh của cơ quan thuế, dữ liệu doanh thu bất thường, doanh nghiệp nhiều lần không nộp báo cáo, có khiếu nại của người tiêu dùng hoặc có dấu hiệu sử dụng ưu đãi sai mục đích.
Thứ hai, cần xây dựng bộ tiêu chí phân loại rủi ro đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Đây là công cụ trung tâm của mô hình hậu kiểm hiện đại, giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những đối tượng có nguy cơ cao thay vì kiểm tra dàn trải. Bộ tiêu chí cần kết hợp giữa tiêu chí định lượng và định tính. Các tiêu chí định lượng có thể bao gồm số năm hoạt động, số lần chậm báo cáo, số lần bị xử phạt, mức doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ, mức ưu đãi thuế đã hưởng, mức biến động doanh thu qua các năm, số lượng sản phẩm được công nhận, số lượng lao động nghiên cứu và phát triển, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển trên doanh thu. Các tiêu chí định tính có thể bao gồm: lĩnh vực công nghệ, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường, an toàn dữ liệu, quyền lợi người tiêu dùng, tính phức tạp của chuỗi cung ứng và mức độ phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu được kê khai.
Thứ ba, cần đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Hậu kiểm dựa trên dữ liệu là điều kiện tiên quyết để giảm kiểm tra thủ công và nâng cao hiệu quả quản lý. Cần xây dựng một hệ thống dữ liệu thống nhất, trong đó mỗi doanh nghiệp khoa học và công nghệ có một hồ sơ số cập nhật theo thời gian. Hồ sơ này cần bao gồm thông tin pháp lý, giấy chứng nhận, kết quả khoa học và công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, doanh thu liên quan, ưu đãi đã hưởng, báo cáo định kỳ, lịch sử kiểm tra, kết quả xử lý, tình trạng hoạt động và mức xếp hạng rủi ro. Khi dữ liệu được liên thông, cơ quan quản lý có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, chẳng hạn, như: doanh nghiệp báo cáo doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ tăng đột biến nhưng dữ liệu hóa đơn không tương ứng; doanh nghiệp được cấp chứng nhận nhưng nhiều năm không phát sinh doanh thu từ sản phẩm liên quan; doanh nghiệp thay đổi ngành nghề chính nhưng không cập nhật với cơ quan khoa học và công nghệ; hoặc doanh nghiệp đã tạm ngừng hoạt động nhưng vẫn nằm trong danh sách thụ hưởng chính sách.
Thứ tư, cần tăng cường phối hợp liên ngành và giảm chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra.
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ thường chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau, như cơ quan khoa học và công nghệ, thuế, đăng ký kinh doanh, tài chính, đất đai, hải quan, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và các cơ quan chuyên ngành. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế phối hợp ngay từ khâu lập kế hoạch kiểm tra hằng năm để tránh tình trạng nhiều cơ quan kiểm tra cùng một nội dung trong cùng một thời điểm. Đồng thời, nên xây dựng cơ chế “một kế hoạch kiểm tra liên thông”, trong đó các cơ quan chia sẻ danh sách doanh nghiệp dự kiến kiểm tra, nội dung kiểm tra, thời gian kiểm tra và kết quả kiểm tra trên một nền tảng chung. Nếu một nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và kết luận, cơ quan khác không nên kiểm tra lại, trừ khi có dấu hiệu mới. Đối với doanh nghiệp có rủi ro cao, có thể tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành để xử lý đồng bộ, thay vì nhiều đoàn riêng lẻ.
Thứ năm, cần phân cấp mạnh hơn cho địa phương nhưng phải đi kèm chuẩn hóa và giám sát từ trung ương.
Sở Khoa học và Công nghệ có vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại địa phương, bởi đây là cơ quan gần doanh nghiệp, nắm rõ tình hình hoạt động, môi trường kinh doanh, đặc điểm ngành nghề và khó khăn cụ thể của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu phân cấp mà thiếu hướng dẫn thống nhất, có thể dẫn đến tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động đa địa bàn. Do đó, trung ương cần ban hành hướng dẫn chung về tiêu chí rủi ro, quy trình hậu kiểm, biểu mẫu báo cáo, chế độ cập nhật dữ liệu, nguyên tắc xử lý vi phạm và cơ chế phối hợp. Đồng thời, cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ địa phương về đánh giá kết quả khoa học và công nghệ, phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro và kỹ năng làm việc với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thứ sáu, cần triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các lĩnh vực công nghệ mới.
Đối với những lĩnh vực chưa có quy định đầy đủ hoặc phát triển nhanh, như: trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính, xe tự hành, thiết bị bay không người lái, y tế số, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học và công nghệ năng lượng mới, cơ chế quản lý truyền thống có thể không còn phù hợp. Nếu chờ đến khi có đầy đủ quy định mới cho phép doanh nghiệp hoạt động, cơ hội đổi mới có thể bị bỏ lỡ; nhưng nếu cho phép hoạt động hoàn toàn tự do, rủi ro đối với xã hội có thể gia tăng. Vì vậy, sandbox là công cụ cần thiết. Cơ chế này cần xác định rõ mục tiêu thử nghiệm, phạm vi địa lý, thời gian, số lượng người dùng, tiêu chí an toàn, nghĩa vụ báo cáo, trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng, cơ chế dừng thử nghiệm và phương án xử lý rủi ro.
Thứ bảy, cần hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm theo hướng phân hóa và đủ sức răn đe.
Đối với sai sót lần đầu, không nghiêm trọng và có thể khắc phục nên áp dụng cảnh báo, hướng dẫn, yêu cầu bổ sung báo cáo hoặc điều chỉnh thông tin. Đối với vi phạm lặp lại, chậm khắc phục hoặc ảnh hưởng đến việc thụ hưởng chính sách, cần xử phạt hành chính, tạm dừng ưu đãi hoặc đưa vào diện giám sát tăng cường. Đối với gian lận cố ý, khai sai để hưởng ưu đãi, sử dụng giấy chứng nhận sai mục đích, không còn duy trì điều kiện nhưng vẫn thụ hưởng chính sách, cần thu hồi giấy chứng nhận, truy thu ưu đãi, công khai vi phạm và xử lý theo quy định pháp luật.
Thứ tám, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hậu kiểm.
Cán bộ quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ không chỉ cần hiểu pháp luật mà còn phải có kiến thức về công nghệ, tài chính doanh nghiệp, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và quản lý rủi ro. Ngoài đào tạo nội bộ, cần huy động mạng lưới chuyên gia độc lập, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội ngành nghề tham gia hỗ trợ đánh giá công nghệ trong các trường hợp phức tạp. Mặt khác, cần thúc đẩy văn hóa tuân thủ và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần hiểu rằng, giấy chứng nhận không phải là danh hiệu cố định, mà là tư cách pháp lý phải được duy trì bằng hoạt động thực chất, báo cáo minh bạch và tuân thủ pháp luật. Đối với doanh nghiệp nhỏ và khởi nghiệp sáng tạo, cần có công cụ hỗ trợ đơn giản, như cổng báo cáo điện tử, hướng dẫn phân loại doanh thu, bộ câu hỏi tự đánh giá tuân thủ, mẫu hồ sơ số và kênh tư vấn trực tuyến.
Thứ chín, cần gắn hậu kiểm với đánh giá hiệu quả chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Dữ liệu hậu kiểm phải được coi là nguồn thông tin quan trọng để xác định chính sách ưu đãi nào phát huy hiệu quả, lĩnh vực nào có nhiều doanh nghiệp thực chất, địa phương nào triển khai tốt, nhóm doanh nghiệp nào gặp khó khăn và rủi ro gian lận nằm ở đâu. Việc đánh giá hiệu quả chính sách cần vượt ra ngoài số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận, hướng tới các chỉ tiêu như doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển, số lượng sản phẩm mới, sáng chế, lao động kỹ thuật cao, khả năng xuất khẩu, mức độ thụ hưởng ưu đãi và tác động đến năng suất. Chỉ khi đo lường được những kết quả này, Nhà nước mới có cơ sở khẳng định chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ có đóng góp thực sự cho đổi mới mô hình tăng trưởng.
5. Kết luận
Chuyển đổi từ mô hình quản lý nặng về tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cải cách thể chế. Đây không chỉ là sự thay đổi về thủ tục hành chính mà còn là chuyển đổi về triết lý quản trị: từ kiểm soát điều kiện ngay từ đầu sang thiết lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, đề cao trách nhiệm tự chịu trách nhiệm và tăng cường giám sát dựa trên dữ liệu, quản lý rủi ro, thanh tra có trọng tâm, trọng điểm.
Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hậu kiểm phù hợp hơn với đặc điểm của hoạt động đổi mới sáng tạo, nơi sản phẩm công nghệ, mô hình kinh doanh và kết quả nghiên cứu thường thay đổi nhanh, cần được kiểm chứng qua thị trường và cần không gian thử nghiệm. Nếu quản lý quá nặng về tiền kiểm, quá trình thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ có thể bị chậm lại; ngược lại, nếu buông lỏng hậu kiểm, chính sách ưu đãi có thể bị lợi dụng, nguồn lực công bị phân bổ sai và môi trường cạnh tranh bị méo mó.
Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã có bước tiến trong việc đơn giản hóa thủ tục chứng nhận và mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhưng công tác hậu kiểm vẫn còn hạn chế về dữ liệu, phối hợp liên ngành, phân tầng rủi ro, năng lực cán bộ, chế độ báo cáo và đánh giá hiệu quả của chính sách. Vì vậy, cần đồng bộ nhiều giải pháp. Khi cân bằng được giữa kiến tạo và kỷ cương, hậu kiểm sẽ góp phần nâng cao chất lượng chính sách và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2017). Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
3. Chính phủ (2021). Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp.
4. Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
5. OECD (2021). Báo cáo về các thách thức trong quản lý trong bối cảnh đổi mới sáng tạo.
6. Dữ liệu họp báo thường kỳ tháng 4/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ. https://mst.gov.vn/tai-lieu-hop-bao-thuong-ky-thang-4-nam-2026-197260429120502292.htm, ngày 29/4/2026.
7. Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong tiến trình xây dựng nền kinh tế số bền vững tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/24/phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-trong-tien-trinh-xay-dung-kinh-te-so-ben-vung-tai-viet-nam.
8. Lê Mạnh Hùng (chủ biên) (2026). Quản trị biến động và khủng hoảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.



