The ontological foundations of state governance in Ho Chi Minh’s thought and their contemporary applicative value
TS. Dương Quốc Quân
Học viện Tài chính
(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý nhà nước là một hệ thống lý luận sâu sắc và toàn diện, bao gồm những nguyên lý nền tảng về bản chất, mục tiêu và chức năng của nhà nước. Cơ sở bản thể luận này được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp sáng tạo với truyền thống dân chủ của dân tộc Việt Nam. Những nguyên tắc cốt lõi, như: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, sự kết hợp giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, nguyên tắc phân quyền và kiểm soát lẫn nhau, tiêu chuẩn “vừa hồng vừa chuyên” cho cán bộ, và sự hòa hợp giữa pháp luật và đạo đức, không chỉ mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc mà còn có giá trị hướng dẫn quan trọng cho công cuộc cải cách bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; bản thể luận; nhà nước; công chức; quản lý.
Abstract: Ho Chi Minh’s ideology on state management is a profound and comprehensive system of theories, encompassing fundamental principles about the nature, objectives, and functions of the state. This ontological foundation is built upon Marxist-Leninist theory, creatively combined with Vietnam’s democratic traditions. Core principles such as “state of the people, by the people, for the people,” the combination of working-class nature with humanistic and national characteristics, principles of power distribution and mutual oversight, the standard of “both red and expert” cadres, and the harmony between law and ethics, not only have profound historical significance but also provide important guidance for the current reform of Vietnam’s state apparatus.
Keywords: Ho Chi Minh Thought; ontological foundations; the state; civil servants; state management.
1. Đặt vấn đề
Cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước được hiểu là hệ thống những quan niệm nền tảng về bản chất, nguồn gốc quyền lực, mục tiêu tồn tại, mối quan hệ giữa nhà nước và Nhân dân, cũng như các nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động quản lý nhà nước. Tiếp cận từ góc độ này cho phép làm rõ những nguyên lý nền tảng về nhà nước, điều mà các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào những nội dung riêng lẻ, như “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, quyền làm chủ của Nhân dân, hay sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng tới để bổ sung.
Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị vận dụng của những quan điểm này trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện Văn kiện Đại hội XIV về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp lý luận, phương pháp lịch sử – logic, căn cứ vào các tác phẩm của Hồ Chí Minh, Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng các công trình nghiên cứu khoa học liên quan.
2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý nhà nước
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam khủng hoảng sâu sắc trên mọi mặt. Đất nước bị thực dân Pháp chiếm đóng, kinh tế bị cướp phá, văn hóa bị áp bức, Nhân dân bị bóc lột tàn bạo. Các phong trào yêu nước Việt Nam trong thời kỳ này liên tiếp diễn ra nhưng cuối cùng đều thất bại. Từ phong trào Cần Vương, qua phong trào Duy Tân, cho đến phong trào Modernisation, tất cả đều không thể tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Lịch sử đặt ra cho dân tộc ta là phải tìm được đường lối cứu nước đúng đắn nhằm thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và xây dựng một xã hội mới.
Xuất phát từ tình hình đó với tấm lòng yêu nước thương dân, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) đã rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã bôn ba nhiều nước trên thế giới nhằm khảo sát, nghiên cứu và học tập kinh nghiệm của một số cuộc cách mạng. Từ năm 1912 – 1923, Người đi khắp các nước: Pháp, Anh, Liên Xô… tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn. Trong thời gian này, Người đã tiếp cận với nhiều lý thuyết chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa Cộng hòa, cho đến chủ nghĩa xã hội.
Qua việc theo dõi các sự kiện lịch sử trên thế giới, nhất là Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng. “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1. “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”2. Đây là một quyết định lịch sử vô cùng quan trọng, là mốc son trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam. Sự lựa chọn này hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật của thời đại mới. Thời đại này được mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, với định hướng rõ ràng: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tức là không thể tách rời nhau.
Cùng với việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng luôn luôn trăn trở về xây dựng một nhà nước kiểu mới. Người đã nghiên cứu ba cuộc cách mạng điển hình ở Mỹ, Pháp, Nga và đi tới nhận định: “Tư bản dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi…”3. Ngược lại, Người khẳng định: “Chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi”4. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không lấy nguyên bản kiểu nhà nước Xô viết để xây dựng ở Việt Nam mà đã sáng tạo, cải biến cho phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng này được thể hiện rõ ràng qua Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5/1941): “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”5. Sự sáng tạo này chứng tỏ tầm nhìn sâu rộng và khả năng vận dụng linh hoạt của Hồ Chí Minh. Người không cắt xén bị động mà biết lấy những ưu điểm của mô hình Xô viết, kết hợp với truyền thống dân chủ của dân tộc Việt Nam, để xây dựng một nhà nước kiểu mới phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.
3. Những nội dung cơ bản trong cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ nhất, Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Khái niệm “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” là biểu hiện đặc sắc nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Khái niệm này có ý chí đặc biệt sâu sắc: khẳng định rằng, Nhà nước không phải là của một giai cấp, một nhóm nhân sĩ hay một bộ tộc mà là của toàn thể nhân dân. Đây là một sự lật ngược hoàn toàn quan hệ truyền thống giữa nhà nước và Nhân dân trong các chế độ thực dân và phong kiến, nơi Nhân dân phải phục tùng nhà nước, làm máy móc trong tay những người cầm quyền.”Làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”6.
Quan điểm trên phản ánh một hiểu biết sâu sắc về bản chất quyền lực: quyền lực tập trung vào tay một bọn ít người sẽ dẫn đến chuyên quyền, thoái hóa, và cuối cùng xâm hại lợi ích của nhân dân. Cách duy nhất để tránh điều này là phải phân quyền rộng rãi, giao quyền lực cho “dân chúng số nhiều”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân”7. Câu nói này là biểu hiện tập trung nhất của giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó khẳng định rằng mọi hoạt động của nhà nước, mọi chính sách, mọi quyết sách đều phải hướng tới một mục tiêu duy nhất: ấm no, hạnh phúc, phát triển toàn diện của Nhân dân. Không có lợi ích nào cao hơn lợi ích của Nhân dân, không có mục tiêu nào quan trọng hơn phục vụ Nhân dân.
Thứ hai, sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước.
Một nguyên lý quan trọng khác trong bản thể luận quản lý nhà nước của Hồ Chí Minh là khẳng định bản chất giai cấp công nhân của nhà nước. Trong Lời nói đầu của bản Hiến pháp năm 1959, đã khẳng định: “Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”8.
Bản chất giai cấp công nhân được thể hiện ở chỗ toàn bộ hoạt động của nhà nước, từ pháp luật, cơ chế, chính sách đến những nguyên tắc tổ chức và hoạt động, đều phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hồ Chí Minh không hiểu bản chất giai cấp công nhân là hẹp hay độc quyền, mà là bao hàm tính nhân dân rộng lớn. Tính nhân dân thể hiện ở việc nhà nước phục vụ toàn thể nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của mọi người. Tính dân tộc thể hiện ở việc nhà nước phục vụ lợi ích độc lập, thống nhất và thịnh vượng của toàn dân tộc. Đây là sự hòa hợp độc đáo giữa khái niệm Mác – Lênin về nhà nước với truyền thống dân chủ của dân tộc Việt Nam, phản ánh sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, nguyên tắc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước.
Để thực hiện được nguyên tắc nhà nước của dân, do dân, vì dân, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những yêu cầu cụ thể về tổ chức bộ máy nhà nước. Một nguyên lý cốt lõi là khẳng định rõ ràng nguồn gốc và chủ thể của quyền lực. Quyền lực không phải bắt nguồn từ bất kỳ lực lượng ngoài Nhân dân nào, mà bắt nguồn từ chính Nhân dân: “Cán bộ là đày tớ của Nhân dân, chỗ nào Nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ”9; “Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân”10; “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”11; “Chính phủ, từ Hồ Chủ tịch cho đến các vị uỷ ban đây, rồi các bộ trưởng, đến các cán bộ thôn, xã, gọi là chính quyền, gọi là Chính phủ, đều là đày tớ của Nhân dân”12.
Những câu nói của Người đã lật ngược hoàn toàn quan hệ truyền thống giữa Nhà nước và Nhân dân. Thay vì Nhân dân là công dân phục tùng nhà nước, Hồ Chí Minh khẳng định Nhân dân là chủ, Nhà nước là đầy tớ. Đây là một sự coi trọng Nhân dân chưa từng có trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng, Nhân dân có quyền giám sát nhà nước: “Chính phủ ta là Chính phủ của Nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của Nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là: người đày tớ trung thành tận tụy của Nhân dân.”13; “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của Nhân dân đối với đại biểu của mình”14.
“Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi. Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên còn có nhiều khuyết điểm. Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia. Từ một năm nay, nội hoạn, ngoại xâm không lúc nào không có, nên còn nhiều việc đáng làm mà Chính phủ trung ương không làm được. Có nhiều cái biết là hay, nhưng còn việc gấp phải làm gấp cái đã. Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ. Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”15.
Thứ tư, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong quản lý nhà nước.
Một khía cạnh quan trọng khác của bản thể luận quản lý nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về vai trò của cán bộ, công chức. Người không xem cán bộ đơn thuần như những công cụ hành chính mà là những con người có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của các chủ trương, chính sách: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”16; “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”17. Tiêu chuẩn “vừa hồng, vừa chuyên” có nghĩa là: vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có trình độ chuyên môn cao. Đức là gốc, là nền tảng, giữ vai trò quyết định sự thành bại của công việc. Một cán bộ không có đức nhưng chỉ có tài có thể trở thành kẻ lạc hướng, sử dụng năng lực của mình để phục vụ lợi ích riêng, dẫn đến tham nhũng, lãng phí, làm tổn hại đến nhà nước và nhân dân.
Thứ năm, kết hợp pháp luật với đạo đức trong quản lý nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có một cách tiếp cận độc đáo và khoa học về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội. Đây không phải là sự lựa chọn giữa pháp luật hoặc đạo đức, mà là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này, một cách tiếp cận tổng hợp:“Hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng. Vì vậy, cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”18. Quan điểm này phản ánh một hiểu biết tinh tế: pháp luật cần phải có nền tảng đạo đức, phải phản ánh các chuẩn mực đạo đức tiến bộ của xã hội. Ngược lại, đạo đức cần phải được cụ thể hóa, được bảo vệ bằng pháp luật. Pháp luật không thể một mình giải quyết hết tất cả vấn đề xã hội; nó cần sự hỗ trợ của những chuẩn mực đạo đức.
Thứ sáu, thực tiễn hiện thực hóa tư tưởng quản lý nhà nước của Hồ Chí Minh.
Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ lý thuyết hóa các nguyên tắc về nhà nước mà còn tiến hành thực hiện chúng một cách cụ thể. Chỉ sau một ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp Chính phủ đề ra nhiệm vụ cấp bách. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3/9/1945, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó nhiệm vụ thứ ba là tổ chức cuộc tổng tuyển cử. “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”19. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được tổ chức thắng lợi vào ngày 6/01/1946, trong điều kiện cả nước đang chuẩn bị kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng bộ máy Nhà nước đủ sức mạnh để vừa thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, vừa xây dựng cuộc sống mới. Điều đó được khẳng định rõ ràng trong việc xây dựng Hiến pháp 1946 và hoàn thiện hơn trong Hiến pháp 1959.
4. Giá trị vận dụng trong xây dựng và quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn giữ nguyên giá trị định hướng đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, những nguyên tắc nền tảng về nhà nước của dân, do dân, vì dân; kiểm soát quyền lực; xây dựng đội ngũ cán bộ; và kết hợp giữa pháp luật với đạo đức tiếp tục là những luận điểm có giá trị chỉ dẫn quan trọng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”20. Đây chính là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và mục tiêu của nhà nước.
Một là, vận dụng nguyên tắc “nhà nước của dân, do dân, vì dân” trong cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; mọi hoạt động của bộ máy công quyền đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân và phục vụ nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, nguyên tắc đó được thể hiện thông qua việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Văn kiện Đại hội XIV không chỉ khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”21, mà còn nhấn mạnh yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”22. Những quan điểm này thể hiện sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát triển chính phủ số, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước không chỉ là yêu cầu của quản trị hiện đại mà còn là sự hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.
Hai là, vận dụng tư tưởng kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và phải được đặt dưới sự giám sát của nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện thông qua việc hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính”23. Điều này cho thấy, sự tương đồng sâu sắc với tư tưởng Hồ Chí Minh về việc ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước luôn được vận hành trong khuôn khổ pháp luật và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
Ba là, vận dụng quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong nền công vụ hiện đại.
Quan điểm “vừa hồng, vừa chuyên” của Hồ Chí Minh vẫn là yêu cầu có ý nghĩa thời sự đối với quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ cần có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn phải có năng lực chuyên môn, kỹ năng quản trị hiện đại và khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIV xác định nhiệm vụ xây dựng nền công vụ “chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”; đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch và trách nhiệm giải trình cao24. Đây chính là sự phát triển mới của tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ cán bộ trong điều kiện xây dựng nền hành chính hiện đại.
Bốn là, vận dụng tư tưởng kết hợp giữa pháp luật và đạo đức trong quản trị quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội hiệu quả phải dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức. Trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình chuyển đổi số và toàn cầu hóa làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn phải chú trọng xây dựng văn hóa pháp quyền, nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ và đạo đức xã hội. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng xã hội “lành mạnh về đạo đức, kỷ cương về pháp luật, văn minh trong quản trị” và xây dựng đội ngũ cán bộ “liêm chính, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”25. Điều đó cho thấy giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa “phép nước” và “lòng dân”, giữa quản lý bằng pháp luật và giáo dục bằng đạo đức.
Như vậy, những nguyên tắc nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý nhà nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Việc vận dụng sáng tạo những tư tưởng đó không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo cơ sở để xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, dân chủ, minh bạch và phát triển bền vững.
5. Kết luận
Cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những nguyên tắc nền tảng, những khái niệm cốt lõi, những giá trị hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động và cải cách bộ máy nhà nước. Nhà nước của dân, do dân, vì dân vẫn là kim chỉ nam không thể thay thế; bản chất giai cấp công nhân kết hợp với tính nhân dân, tính dân tộc vẫn là hướng dẫn cho sự xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phân công, phân quyền, kiểm soát lẫn nhau vẫn là nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước; cán bộ, công chức “vừa hồng, vừa chuyên” vẫn là yêu cầu không thể thay thế; sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức vẫn là cách tiếp cận khoa học, tổng hợp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước không những có giá trị to lớn về lịch sử mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với việc cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, đặc biệt là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Theo Văn kiện Đại hội XIV, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính, là điều kiện tiên quyết để Đảng và Nhà nước có thể lãnh đạo, quản lý hiệu quả đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay là làm sao để vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa những nguyên tắc nền tảng này trong bối cảnh của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi số và những thay đổi sâu sắc trong kết cấu xã hội. Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng thành công Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân, đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại, mang lại hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân, đưa đất nước phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Chú thích:
1, 2, 9, 14. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 30, 563, 212, 375.
3, 4, 6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 296, 304, 292.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 127.
7, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 453, 571-572.
8. Báo Nhân Dân (2014). Hiến pháp năm 2013 – Sự kết tinh ý chí và trí tuệ của toàn dân tộc. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 80.
10. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 262.
11. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 64 – 65.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81.
15, 16, 17, 18, 19. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 74-75, 280, 309, 324, 153.
20, 21, 22, 23, 24, 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 28, 28, 29, 29, 29, 35.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (dành cho bậc đại học, hệ chuyên ngành Lý luận chính trị). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí (2004). Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2007). Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Nguyễn Hữu Vượng (2016). Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến, số 11, tháng 5/2016, tr. 5–8.



