Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ: những vấn đề đặt ra từ góc độ quản lý nhà nước

Developing concentrated specialized agricultural production areas in Phu Tho Province: issues from a state management perspective

TS. Nguyễn Xuân Hoản
Trường Đại học Đông Đô

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung là yêu cầu quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Phú Thọ. Những năm gần đây, tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung đối với chè, cây ăn quả có múi, lúa chất lượng cao, chăn nuôi và thủy sản. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn còn nhiều hạn chế liên quan đến quy mô sản xuất, liên kết chuỗi giá trị, hạ tầng và chuyển đổi số. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết làm rõ những vấn đề đặt ra từ góc độ quản lý nhà nước và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển vùng sản xuất chuyên canh tập trung tại tỉnh Phú Thọ.

Từ khóa: Vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung; quản lý nhà nước; chuỗi giá trị; nông nghiệp bền vững; Phú Thọ.

Abstract:  The development of concentrated specialized agricultural production zones is an important requirement in the process of agricultural restructuring and the development of market-oriented agriculture in Phu Tho Province. In recent years, the province has established several concentrated production zones for tea, citrus fruit trees, high-quality rice, livestock farming, and aquaculture. However, the development process still faces several limitations related to production scale, value chain linkages, infrastructure, and digital transformation. The article clarifies the issues from the perspective of state management. It proposes several solutions to enhance the effectiveness of efforts to develop concentrated, specialized agricultural production zones in Phu Tho Province.

Keywords: Concentrated agricultural production zones; state management; agricultural value chains; sustainable agriculture; Phu Tho Province.

1. Đặt vấn đề

Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung là xu hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp hiện nay. Việc hình thành các vùng sản xuất tập trung không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa và chuyển đổi số mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.

Tỉnh Phú Thọ có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển các vùng sản xuất chuyên canh chè, cây ăn quả có múi, lúa chất lượng cao, chăn nuôi và thủy sản. Những năm gần đây, tỉnh đã từng bước hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết sản xuất – tiêu thụ. Năm 2025, giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh đạt 44.500,8 tỷ đồng, chiếm khoảng 11,3% GRDP của toàn tỉnh. Bên cạnh đó, quá trình phát triển các vùng sản xuất chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ vẫn còn nhiều hạn chế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tích tụ đất đai chậm, liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững, hạ tầng và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Thực tiễn đó đang đặt ra nhiều yêu cầu đối với quản lý nhà nước trong quy hoạch vùng sản xuất, tổ chức sản xuất, phát triển thị trường và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp.

Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ, bài viết làm rõ những vấn đề đặt ra từ góc độ quản lý nhà nước và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung

 Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung là quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn đối với một hoặc một số sản phẩm chủ lực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản. Mô hình này tạo điều kiện thuận lợi cho ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số và phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.

Quá trình phát triển các vùng sản xuất chuyên canh tập trung không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và thị trường mà còn đòi hỏi vai trò quản lý nhà nước trong quy hoạch và định hướng vùng sản xuất, tổ chức thực hiện chính sách, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ tích tụ đất đai, ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Đồng thời, quản lý nhà nước còn giữ vai trò điều phối liên kết chuỗi giá trị, hỗ trợ phát triển thị trường, kiểm tra chất lượng, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững.

Trong những năm gần đây, nhiều địa phương ở Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tại Thanh Hóa, các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, rau an toàn và cây ăn quả tập trung đã được hình thành, gắn với cơ giới hóa và việc ứng dụng các quy trình sản xuất an toàn. Tại Hà Nội, nhiều vùng sản xuất lúa chất lượng cao, rau an toàn, hoa, cây cảnh và thủy sản tập trung tiếp tục được mở rộng theo hướng ứng dụng công nghệ cao và liên kết chuỗi giá trị. Đắk Lắk đã từng bước hình thành các vùng sản xuất cà phê, sầu riêng quy mô lớn gắn với phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Thực tiễn phát triển ở các địa phương cho thấy hiệu quả của các vùng sản xuất chuyên canh tập trung phụ thuộc lớn vào công tác quy hoạch, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và vai trò điều phối của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh Phú Thọ phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung phù hợp với điều kiện tự nhiên và định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực trạng phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ

3.1. Thực trạng về đất đai, khí hậu của tỉnh Phú Thọ

Tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 9.361,38 km²; trong đó, đất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 7.738,42 km², chiếm khoảng 82,66% tổng diện tích tự nhiên. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung đối với cây công nghiệp, cây ăn quả, lúa chất lượng cao, chăn nuôi và thủy sản.

Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Phú Thọ

ĐVT: ha

STTLoại đấtNăm 2021Năm 2022Năm 2023Năm 2024
 Nhóm đất NLTS777.370,0776.515,0776.775,0773.842,3
1Đất trồng cây hằng năm164.246,0163.931,0163.608,0162.856,9
2Đất trồng cây lâu năm100.130,0100.012,0100.046,0103.569,2
3Đất lâm nghiệp495.586,0495.167,0495.747,0489.501,2
4Đất nuôi trồng thủy sản15.365,015.312,015.273,015.801,7
5Đất nông nghiệp khác2.043,02.093,02.101,02.113,3
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2024), Số liệu kiểm kê đất đai năm 2024.

Số liệu trên cho thấy, quỹ đất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Phú Thọ tương đối lớn và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung theo từng nhóm sản phẩm chủ lực. Trong giai đoạn 2021 – 2024, diện tích đất trồng cây lâu năm tăng từ 100.130,0 ha lên 103.569,2 ha; diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng từ 15.365,0 ha lên 15.801,7 ha. Xu hướng này phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và mở rộng các ngành hàng có giá trị kinh tế cao.

Tuy nhiên, từ góc độ quản lý nhà nước, lợi thế về quỹ đất và điều kiện tự nhiên chưa đồng nghĩa với hiệu quả phát triển vùng chuyên canh tập trung. Thực tế cho thấy quá trình tổ chức sản xuất ở nhiều địa phương vẫn còn phân tán; tình trạng đất đai nhỏ lẻ, manh mún vẫn còn phổ biến; việc tích tụ, tập trung đất đai và đầu tư hạ tầng vùng sản xuất vẫn còn chậm. Điều này đặt ra yêu cầu đối với chính quyền địa phương trong việc quy hoạch không gian sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu và hoàn thiện cơ chế hỗ trợ phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung.

Phú Thọ có địa hình trung du, miền núi xen kẽ đồng bằng ven sông; khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình khoảng 23–24°C, lượng mưa trung bình trên 1.600 mm/năm cùng hệ thống sông Hồng, sông Lô và sông Đà. Những điều kiện này tạo thuận lợi cho việc phát triển các vùng chè, cây ăn quả có múi, lúa chất lượng cao, chăn nuôi và thủy sản tập trung, phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng địa phương.

3.2. Thực trạng phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung

Năm 2025, giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Phú Thọ đạt khoảng 44,5 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 11,3% GRDP của toàn tỉnh. Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất đã góp phần hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh tập trung đối với các sản phẩm chủ lực như chè, cây ăn quả có múi, lúa chất lượng cao, chăn nuôi và thủy sản.

Bảng 2: Diện tích, sản lượng các cây trồng chủ lực của tỉnh Phú Thọ

(ĐVT: ha)

Chỉ tiêuNăm
202120232025
Diện tích (ha)Sản lượng (tấn)Diện tích (ha)Sản lượng (tấn)Diện tích  (ha)Sản lượng (tấn)
1. Cây chè16.428,3192.962,014.973,7186.532,314.670,0183.340,0
2. Cây ăn quả có múi (cam, bưởi)15.203,2213.775,415.386,1254.478,614.832,6278.000,0
2.1. Cây Bưởi10.824,5111.751,811.137,3149.500,711.052,6182.700,0
2.2. Cây Cam4.378,7102.023,64.248,8104.977,93.780,095.300,0
3. Lúa152.269,8888.576,5149.322,6876.944,8147.521,2868.900,0
4. Rau các loại39.077,9681.520,038.748,3687.676,540.500,0696.600,0
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ các năm 2021–2025.

Số liệu cho thấy, cơ cấu cây trồng chủ lực của tỉnh đang được điều chỉnh theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và nâng cao giá trị sản xuất. Diện tích chè có xu hướng giảm từ 16.428,3 ha năm 2021 xuống 14.670,0 ha năm 2025; tuy nhiên, sản lượng vẫn duy trì ở mức cao, đạt khoảng 183,34 nghìn tấn. Điều này phản ánh xu hướng tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của vùng nguyên liệu chè, thay vì mở rộng diện tích sản xuất.

Đối với cây ăn quả có múi, mặc dù diện tích không tăng nhiều nhưng sản lượng tăng khá nhanh, đặc biệt là cây bưởi tăng từ 111.751,8 tấn năm 2021 lên 182.700,0 tấn năm 2025. Xu hướng này cho thấy vai trò ngày càng lớn của các vùng cây ăn quả tập trung trong phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh. Trong khi đó, diện tích lúa có xu hướng giảm nhẹ nhưng tỉnh vẫn duy trì được các vùng sản xuất lúa chất lượng cao gắn với cơ giới hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Từ góc độ quản lý nhà nước, quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và hình thành các vùng sản xuất tập trung đã cho thấy hiệu quả bước đầu của công tác quy hoạch và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, quy mô sản xuất ở nhiều nơi vẫn còn phân tán; liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ chưa thật sự bền vững; việc tổ chức vùng nguyên liệu và ứng dụng khoa học công nghệ còn chưa đồng đều giữa các địa phương.

(1) Vùng chuyên canh chè

Chè là cây công nghiệp lâu năm chủ lực của tỉnh Phú Thọ. Diện tích chè toàn tỉnh hiện nay đạt khoảng 14,67 nghìn ha, tổng sản lượng đạt 183,34 nghìn tấn, xếp thứ tư về diện tích và thứ ba về sản lượng trên cả nước. Với điều kiện sinh thái phù hợp, nhiều địa phương như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và Đoan Hùng đã hình thành các vùng chè tập trung quy mô lớn. Nhiều vùng chè đã áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và công nghệ tưới tiết kiệm nước; công tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu chè ngày càng được quan tâm. Hệ thống cơ sở chế biến chè phát triển với sản lượng chế biến bình quân khoảng 60 nghìn tấn/năm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Việc phát triển vùng chè chuyên canh đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa các khâu chăm sóc, thu hoạch và tổ chức vùng nguyên liệu phục vụ chế biến. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp chế biến chè đã đầu tư nâng cấp dây chuyền công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm. Tuy nhiên, từ góc độ quản lý nhà nước, sản xuất chè vẫn còn một số hạn chế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ; quy trình sản xuất chưa đồng nhất nên chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều; tỷ lệ chế biến sâu còn thấp; thị trường xuất khẩu chưa ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển ngành chè của tỉnh.

Theo Quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021–2030, tỉnh định hướng phát triển các vùng chè tập trung tại một số địa phương có lợi thế về điều kiện sinh thái và vùng nguyên liệu.

(2) Vùng chuyên canh cây ăn quả có múi

Trong những năm gần đây, tỉnh Phú Thọ đã chú trọng mở rộng diện tích trồng bưởi theo hướng chuyên canh tập trung gắn với xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý. Diện tích trồng bưởi tăng từ 10.824,5 ha năm 2021 lên 11.052,6 ha năm 2025. Nhiều vùng bưởi tập trung được hình thành tại Đoan Hùng, Thanh Ba, Phù Ninh, Hạ Hòa và Tân Lạc. Đối với cây cam, diện tích giảm nhẹ từ 4.378,7 ha năm 2021 xuống 3.780,0 ha năm 2025 do chuyển đổi sang các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn. Các vùng sản xuất cam tập trung chủ yếu tại Cao Phong, Thung Nai và một số địa phương khác.

Các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao ngày càng được mở rộng. Một số hợp tác xã đã xây dựng được chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ với doanh nghiệp và hệ thống siêu thị. Một số sản phẩm cây ăn quả có múi chủ lực của tỉnh đã đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn và từng bước tham gia thị trường xuất khẩu, như: Hoa Kỳ, EU, Anh Quốc và Malaysia. Việc phát triển các vùng chuyên canh bưởi, cam đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các loại cây trồng truyền thống, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, từ góc độ quản lý nhà nước, các vùng trồng bưởi và cam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn như sâu bệnh, thoái hóa đất và giống cây trồng; quy trình sản xuất chưa đồng bộ; cơ sở hạ tầng, sơ chế và chế biến sâu còn hạn chế; chất lượng sản phẩm chưa đồng đều và thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm, quy hoạch vùng trồng và tăng cường liên kết chuỗi giá trị đối với ngành cây ăn quả có múi của tỉnh.

Quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050, tỉnh tiếp tục phát triển vùng bưởi Đoan Hùng và mở rộng các vùng cây có múi tập trung gắn với lợi thế sinh thái, xây dựng thương hiệu và tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm.

(3) Vùng sản xuất lúa chất lượng cao

Tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì diện tích trồng lúa khoảng 147–148 nghìn ha, trong đó có khoảng 87 nghìn ha lúa chất lượng cao với năng suất bình quân đạt 59–60 tạ/ha. Nhiều địa phương đã hình thành vùng sản xuất lúa tập trung gắn với cơ giới hóa và liên kết tiêu thụ như Đà Bắc, Đức Nhàn, Cao Sơn, Phùng Nguyên, Bản Nguyên, Cự Đồng, Yên Sơn và Hương Cần. Tuy nhiên, quy mô sản xuất vẫn còn manh mún; tỷ lệ áp dụng VietGAP, GlobalGAP và sản xuất hữu cơ chưa cao; hiệu quả kinh tế và giá trị gia tăng của sản xuất lúa còn thấp so với nhiều loại cây trồng khác.

Quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, tỉnh định hướng phát triển các vùng sản xuất lúa tập trung như vùng sản xuất gạo J02, lúa nếp Quạ đen và các vùng sản xuất lúa theo hướng hữu cơ tại một số địa phương có điều kiện phù hợp.

 (4) Vùng chăn nuôi tập trung

Chăn nuôi lợn và gia cầm của tỉnh Phú Thọ đã có bước phát triển khá nhanh trong những năm gần đây. Nhiều vùng chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, công nghiệp và an toàn sinh học đã được hình thành.

Bảng 3: Số lượng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2025

ĐVT: 1.000 con

Chỉ tiêuNăm
20212022202320242025
1. Lợn1.689,81.809,71.847,41.861,71.820,3
2. Gia Cầm35.670,336.522,835.612,336.172,737.594,0
3. Trâu186,8186,6176,9165,8161,8
4. Bò284,0280,4268,9253,5247,3
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ các năm 2021–2025.

Số liệu cho thấy, chăn nuôi của tỉnh Phú Thọ tiếp tục phát triển theo hướng quy mô lớn và tập trung hơn. Năm 2025, tổng đàn lợn đạt khoảng 1.820,3 nghìn con; tổng đàn gia cầm đạt khoảng 37.594,0 nghìn con. Trong khi đó, tổng đàn trâu và bò có xu hướng giảm nhẹ, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi hàng hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Chăn nuôi lợn đã hình thành các vùng sản xuất tập trung tại Vĩnh Tường, Yên Lạc (Vĩnh Phúc cũ); Tam Nông, Lâm Thao (Phú Thọ cũ); Lạc Sơn, Kim Bôi (Hòa Bình cũ). Nhiều trang trại quy mô từ 500 đến 2.000 con đã được hình thành; xuất hiện các tổ hợp sản xuất khép kín từ giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ. Chăn nuôi gia cầm tập trung phát triển tại Yên Lạc (Vĩnh Phúc), Đoan Hùng, Cẩm Khê (Phú Thọ cũ), Lương Sơn, Lạc Thủy (Hòa Bình cũ). Chăn nuôi đại gia súc phát triển chủ yếu tại Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập (Phú Thọ), Mai Châu và Đà Bắc (Hòa Bình). Một số doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào chăn nuôi công nghệ cao và chế biến thực phẩm; mô hình liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – hộ nông dân trong chăn nuôi ngày càng phổ biến.

Từ góc độ quản lý nhà nước, các vùng chăn nuôi tập trung vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn như chăn nuôi nông hộ còn chiếm tỷ trọng lớn, tạo áp lực về môi trường và kiểm soát dịch bệnh; cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi chưa đồng bộ; ứng dụng cơ giới hóa còn hạn chế; chi phí thức ăn chăn nuôi và con giống ở mức cao; liên kết tiêu thụ sản phẩm thiếu bền vững và thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, tăng cường kiểm soát môi trường và dịch bệnh, đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết chuỗi giá trị trong phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh.

Quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050, tỉnh định hướng phát triển các vùng chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, an toàn sinh học và gắn với chế biến thực phẩm. Trong đó, các vùng chăn nuôi lợn, gia cầm và bò sữa tiếp tục được quy hoạch tại nhiều địa phương có điều kiện phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và phát triển chuỗi liên kết trong chăn nuôi.

(5) Vùng nuôi trồng thủy sản tập trung

Tỉnh Phú Thọ có hệ thống ao hồ, sông ngòi khá phong phú, thuận lợi cho phát triển thủy sản nước ngọt. Theo số liệu thống kê đến hết năm 2025, tổng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh đạt 19,88 nghìn ha; số lượng cá lồng trên sông và hồ chứa đạt 6.443 lồng; tổng sản lượng thủy sản đạt 85,8 nghìn tấn. Một số vùng nuôi cá lồng tập trung đã được hình thành trên hồ Hòa Bình, sông Đà, sông Lô và sông Hồng. Nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản đã áp dụng các quy trình VietGAP, GlobalGAP và phát triển thương hiệu cá sông Đà, cá lăng Phú Thọ.

Số liệu cho thấy, diện tích nuôi thủy sản của tỉnh có xu hướng giảm nhẹ, nhưng sản lượng vẫn tăng qua các năm. Điều này phản ánh xu hướng chuyển dịch từ việc mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản. Trong đó, sản lượng cá tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thủy sản của tỉnh; diện tích và sản lượng nuôi tôm, thủy sản khác có xu hướng tăng.

Tại các vùng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh đã và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống nuôi; tỷ lệ cá giống đặc sản tăng lên; nhiều mô hình ứng dụng khoa học công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản từng bước được triển khai. Tuy nhiên, từ góc độ quản lý nhà nước, phát triển vùng nuôi trồng thủy sản tập trung vẫn còn một số hạn chế như quy mô nuôi còn nhỏ lẻ; công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch chưa phát triển; cơ sở hạ tầng đầu tư còn hạn chế; sản phẩm tiêu thụ thông qua chuỗi giá trị chưa nhiều; giá vật tư đầu vào cao; thiên tai và dịch bệnh thủy sản diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ chưa ổn định và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn hạn chế.

Quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, tỉnh quy hoạch phát triển các vùng nuôi cá lồng tập trung trên sông Đà, sông Lô, hồ Hòa Bình và một số hồ chứa lớn; phát triển vùng nuôi thủy sản nước lạnh như cá tầm, cá hồi tại một số địa phương có điều kiện phù hợp; đồng thời mở rộng các vùng nuôi thủy sản trên các ao hồ nội địa. Việc phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ không chỉ là yêu cầu về tổ chức sản xuất mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong quy hoạch, điều phối liên kết, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số và phát triển thị trường nông sản trong giai đoạn hiện nay.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung ở tỉnh Phú Thọ

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và tổ chức phát triển vùng sản xuất chuyên canh tập trung.

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung theo hướng đồng bộ, phù hợp với điều kiện sinh thái và lợi thế sản xuất của từng địa phương. Quy hoạch cần gắn với sản phẩm chủ lực, vùng nguyên liệu, chế biến sâu, logistics nông sản, thị trường tiêu thụ và chuỗi giá trị nông sản. Đồng thời, cần tăng cường vai trò điều phối của chính quyền địa phương trong tổ chức không gian sản xuất, phát triển các vùng chè chất lượng cao, vùng bưởi đặc sản, vùng cam chất lượng cao, vùng lúa chất lượng cao, vùng chăn nuôi tập trung và vùng nuôi trồng thủy sản công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hạn chế tình trạng sản xuất phân tán, manh mún.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tích tụ đất đai và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị.

Hoàn thiện cơ chế quản lý và hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai; tạo điều kiện cho việc cho thuê, chuyển nhượng và góp quyền sử dụng đất phục vụ phát triển vùng sản xuất quy mô lớn. Đồng thời, chính quyền địa phương cần hỗ trợ phát triển các hình thức tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò điều phối vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất – tiêu thụ và áp dụng thống nhất quy trình kỹ thuật trong các vùng chuyên canh tập trung. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và khắc phục tình trạng vùng sản xuất tập trung nhưng thiếu liên kết thực chất giữa các chủ thể tham gia sản xuất.

Thứ ba, tăng cường đầu tư hạ tầng, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý vùng sản xuất.

Ưu tiên đầu tư hệ thống giao thông nội đồng, thủy lợi, điện sản xuất, kho lạnh, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến sau thu hoạch tại các vùng chuyên canh trọng điểm. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản – chế biến, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu số nhằm phục vụ công tác quản lý vùng sản xuất. Việc ứng dụng công nghệ số cần được triển khai trong quản lý sản lượng, chất lượng, thị trường tiêu thụ và kết nối chuỗi giá trị nông sản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng thích ứng của ngành nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nông sản và phát triển thị trường tiêu thụ.

Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát chất lượng nông sản, quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP và sản xuất hữu cơ. Đồng thời, cần chú trọng xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và sản phẩm OCOP cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh như chè, bưởi, cam, gạo đặc sản, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản. Chính quyền địa phương cần phát huy vai trò kết nối giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất; hỗ trợ xúc tiến thương mại, ký kết hợp đồng tiêu thụ ổn định, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu; gắn sản xuất với chế biến sâu và logistics nông sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tính bền vững của chuỗi giá trị nông sản.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản lý nhà nước ở địa phương.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khuyến nông, cán bộ hợp tác xã, chủ trang trại và nông dân về nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, quản trị chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và marketing nông sản. Đồng thời, nâng cao năng lực điều phối của chính quyền địa phương trong quản lý quy hoạch, kiểm soát chất lượng nông sản, phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường và tổ chức liên kết sản xuất – tiêu thụ. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung trên địa bàn tỉnh.

5. Kết luận

Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung là yêu cầu quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Phú Thọ. Những năm gần đây, tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung và từng bước mở rộng ứng dụng khoa học công nghệ, tiêu chuẩn an toàn trong sản xuất, cũng như liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn còn nhiều hạn chế về quy hoạch, tổ chức sản xuất, liên kết thị trường, hạ tầng và chuyển đổi số. Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung tại tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu tham khảo:
1. Lê Ngọc (2022). Hiệu quả của các vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp. https://www.vaas.org.vn/vi/nong-nghiep-trong-nuoc/hieu-qua-nhung-vung-chuyen-canh-san-xuat-nong-nghiep?
2. Minh Thuận – Minh Duyên (2025). Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng kinh tế xanh. https://baodaklak.vn/tin-noi-bat/202510/phat-trien-nganh-nong-nghiep-theo-huong-kinh-te-xanh-aa112f0.
3. Nguyễn Xuân Hoản và Nguyễn Hữu Vân (2026). Phát triển ngành nông, lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Kinh tế – Tài chính.
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2024). Số liệu kiểm kê đất đai năm 2024.
5. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2021-2025). Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 2025.
6. UBND tỉnh Phú Thọ (2025). Quyết định số 2468/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội (2024). Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới của Thành phố Hà Nội.
8. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ (2025). Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới của tỉnh Phú Thọ.
9. Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ (2025). Báo cáo số 45-BC/TU ngày 31/10/2025 về Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.