Promoting the role of Women in the renewal period
ThS. Nguyễn Thị Linh
Học viện Cảnh sát nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, tham gia quản lý nhà nước, xây dựng gia đình và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trước tác động của chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế và những thay đổi của thị trường lao động, việc phát huy vai trò, tiềm năng và sức sáng tạo của phụ nữ đang đứng trước những yêu cầu mới, đòi hỏi sự hoàn thiện đồng bộ về thể chế, chính sách và môi trường phát triển. Trước những yêu cầu đó, việc đánh giá một cách toàn diện vai trò, những đóng góp cũng như các vấn đề đặt ra đối với phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tiềm năng, nâng cao quyền năng của phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và phát triển bền vững đất nước.
Từ khóa: Vai trò của phụ nữ; bình đẳng giới; phát triển; phụ nữ Việt Nam.
Abstract: Over nearly 40 years of implementing the renovation process, Vietnamese women have increasingly asserted their vital role in socioeconomic development, participation in public administration, family building, and the preservation of national cultural values. However, in the face of the impacts of digital transformation, the Fourth Industrial Revolution, international integration, and changes in the labor market, the full realization of women’s roles, potential, and creativity is now confronted with new demands, requiring comprehensive improvements in institutional frameworks, policies, and the development environment. Given these demands, a comprehensive assessment of the role, contributions, and challenges facing Vietnamese women during the reform era holds significant importance both theoretically and practically. Based on this, this study proposes several solutions to further harness women’s potential, empower them, and contribute to achieving gender equality and the nation’s sustainable development.
Keywords: Women’s role; gender equality; development; Vietnamese women.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn giữ vị trí và vai trò quan trọng, là lực lượng có những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, vị thế của phụ nữ Việt Nam không ngừng được nâng cao. Từ phạm vi hoạt động chủ yếu trong gia đình, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò và sự hiện diện của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, giáo dục và quản lý nhà nước, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định những chuẩn mực cốt lõi của con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới là: “Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo”1. Những giá trị này có sự tương đồng và gắn kết chặt chẽ với phẩm chất truyền thống của phụ nữ Việt Nam: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”2. Đồng thời, luôn giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, vun đắp các giá trị đạo đức, văn hóa, củng cố sự gắn kết xã hội, khẳng định năng lực và vị thế đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, vai trò của phụ nữ đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng gặp không ít thách thức. Chính vì vậy, phát huy vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới không chỉ là mở rộng sự tham gia của nữ giới trong các cơ quan, tổ chức và các vị trí lãnh đạo, quản lý mà quan trọng hơn là hoàn thiện thể chế, chính sách và tạo dựng môi trường xã hội thuận lợi để phụ nữ phát huy tối đa năng lực, sức sáng tạo, quyền làm chủ và tiềm năng cống hiến. Qua đó, phụ nữ có điều kiện đóng góp ngày càng hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và phát triển nhanh, bền vững.
2. Phát huy vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, việc phát huy vai trò của phụ nữ đã trở thành một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển con người và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác phụ nữ được thể chế hóa thông qua nhiều văn bản quan trọng, như: Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Bình đẳng giới năm 2006, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ ban hành chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030 và các chương trình, kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương đã cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới phù hợp với điều kiện thực tiễn, tập trung bảo đảm quyền và cơ hội phát triển bình đẳng cho nam và nữ, thu hẹp khoảng cách giới, phòng ngừa và xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử trên cơ sở giới.
Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế và triển khai các chính sách về bình đẳng giới, nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội đối với vấn đề giới đã có những chuyển biến tích cực. Việc lồng ghép giới trong xây dựng và thực thi chính sách ngày càng được quan tâm, góp phần bảo đảm các nguyên tắc công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như trong đời sống xã hội. Đồng thời, nhận thức của người dân về quyền bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ không ngừng được nâng cao, từng bước thay đổi những quan niệm và định kiến giới còn tồn tại. Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị – xã hội đã tích cực triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn và hỗ trợ nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới, tạo dựng môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển của phụ nữ. Sự phối hợp giữa các tổ chức này với các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng được tăng cường, qua đó nâng cao hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách và pháp luật về bình đẳng giới.
Trên cơ sở nhận thức xã hội ngày càng được cải thiện và hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, nhiều chương trình hỗ trợ phụ nữ trong học tập, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, khởi nghiệp, tiếp cận các dịch vụ xã hội và tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã được triển khai rộng rãi. Sự tham gia của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng đã góp phần mở rộng cơ hội phát triển, nâng cao năng lực và tạo điều kiện để phụ nữ phát huy tốt hơn vai trò, tiềm năng và sức sáng tạo của mình. Nhờ đó, phụ nữ Việt Nam ngày càng có điều kiện phát triển toàn diện, khẳng định vị thế và đóng góp tích cực vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, phụ nữ và nam giới được tạo điều kiện tham gia, thụ hưởng và đóng góp bình đẳng vào quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, qua đó góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Những nỗ lực này đã góp phần mở rộng cơ hội và tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia ngày càng hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi chính sách và quản lý nhà nước.
Một trong những biểu hiện rõ nét là tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan dân cử và bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp có xu hướng gia tăng qua từng nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (khóa XV) đạt 30,26%, mức cao nhất trong ba nhiệm kỳ gần đây, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ cao trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương; tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân đạt 29% ở cấp tỉnh, 29,08% ở cấp huyện và 28,98% ở cấp xã3. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chủ trương, chính sách thúc đẩy bình đẳng giới, đồng thời cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của phụ nữ trong đời sống chính trị và quản trị quốc gia.
Không chỉ gia tăng sự hiện diện trong các cơ quan dân cử, phụ nữ còn từng bước khẳng định vai trò của mình trong hệ thống chính trị và bộ máy hành chính nhà nước. Trong hệ thống tổ chức đảng, kết quả đại hội đảng bộ 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2025 – 2030 cho thấy, có 431/2.303 đồng chí trong Ban Chấp hành là nữ (đạt 18,71%, tăng 2,98% so với nhiệm kỳ trước); số lượng nữ tham gia Ban Thường vụ cấp ủy đạt 93/625 đồng chí (14,88%, tăng 1,99% so với nhiệm kỳ trước)4. Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 1/2026) đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) gồm 200 đồng chí, trong đó có 21 nữ Ủy viên Trung ương chính thức. Những kết quả này phản ánh quá trình mở rộng sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, qua đó góp phần nâng cao tính đại diện của giới và phát huy vai trò của phụ nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách.
Sự cải thiện này cũng được ghi nhận trong bộ máy hành chính nhà nước, thể hiện ở việc tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại các bộ, ngành và địa phương ngày càng tăng. Tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 31,8% (7/22 cơ quan); tỷ lệ nữ lãnh đạo trên tổng số lãnh đạo chủ chốt đạt 14,2% (18/127 người). Chính phủ hiện có 1 nữ Phó Thủ tướng, 3/22 bộ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là nữ; đồng thời, có 14/107 thứ trưởng và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ là nữ. Ở địa phương, có 15/34 tỉnh, thành phố có nữ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chiếm 44%; tổng số nữ lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 19/187 người, chiếm 10,2%. Điều này cho thấy vai trò và vị thế của phụ nữ trong hệ thống quản lý nhà nước ngày càng được khẳng định, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị.
Những kết quả đạt được trong việc gia tăng sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý và cơ quan dân cử có sự đóng góp quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới và phát triển phụ nữ. Công tác truyền thông, giáo dục về bình đẳng giới được triển khai ngày càng rộng khắp với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò, vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.
Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị được triển khai thông qua nhiều hình thức, như tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn và đối thoại chính sách. Theo đó, các phương tiện truyền thông đại chúng và nền tảng số được khai thác hiệu quả nhằm lan tỏa các giá trị bình đẳng giới, nâng cao nhận thức xã hội về năng lực lãnh đạo và quản lý của phụ nữ. Thông qua các hoạt động này, nhận thức của cộng đồng về vai trò của phụ nữ từng bước được nâng cao, góp phần giảm thiểu những định kiến giới còn tồn tại trong đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, các tài liệu hướng dẫn, tuyên truyền về bình đẳng giới, quyền của phụ nữ và các chính sách liên quan đến sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị được biên soạn và phổ biến rộng rãi thông qua hệ thống giáo dục, các tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền địa phương. Từ đó, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, tạo điều kiện để phụ nữ hiểu rõ hơn về quyền, nghĩa vụ và cơ hội tham gia vào các hoạt động quản lý, lãnh đạo và hoạch định chính sách. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các mục tiêu và chính sách về bình đẳng giới được triển khai thường xuyên ở các cấp, các ngành. Thông qua cơ chế đánh giá định kỳ và trách nhiệm giải trình rõ ràng, các cơ quan, tổ chức có điều kiện theo dõi sát quá trình thực hiện, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc phát sinh, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán trong quá trình triển khai.
Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn tồn tại ở nhiều lĩnh vực đời sống xã hội của một bộ phận phụ nữ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ vẫn ở mức tương đối cao. Lao động nữ chủ yếu tập trung ở khu vực phi chính thức, nên khả năng tiếp cận đào tạo nghề, vốn, công nghệ và các nguồn lực phát triển còn hạn chế. Ngoài ra, khoảng cách về kỹ năng số, cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo và phát triển nghề nghiệp giữa các nhóm phụ nữ vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm giải quyết nhằm phát huy đầy đủ vai trò, tiềm năng và sức sáng tạo của phụ nữ trong giai đoạn phát triển mới.
3. Một số giải pháp thực hiện
Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế thực thi về bình đẳng giới.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng nhằm tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để phụ nữ phát huy đầy đủ năng lực, quyền làm chủ và vai trò trong quá trình phát triển đất nước. Việc xây dựng, rà soát và thẩm định các văn bản quy phạm pháp luật cần được thực hiện trên cơ sở lồng ghép giới một cách thực chất, bảo đảm các chính sách phát triển kinh tế – xã hội phản ánh đầy đủ nhu cầu, điều kiện và đặc thù của cả nam và nữ. Qua đó, hạn chế những rào cản và bất bình đẳng giới tiềm ẩn trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách, nhằm tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận bình đẳng với các cơ hội về giáo dục, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm và phát triển nghề nghiệp.
Tiếp tục xây dựng nguồn cán bộ nữ, nâng cao tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành; tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực, kinh nghiệm và khả năng cống hiến trong suốt quá trình công tác.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách thông qua việc phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm tra, đánh giá và trách nhiệm giải trình rõ ràng, gắn với các chế tài phù hợp đối với các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp vi phạm quy định về bình đẳng giới, quyền lợi lao động nữ, chế độ thai sản và bảo hiểm xã hội. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới được thực thi hiệu quả trong thực tiễn.
Hai là, nâng cao quyền năng kinh tế và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo.
Trao quyền kinh tế cho phụ nữ là một trong những giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm nâng cao vị thế, tăng cường tính tự chủ và phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng. Theo đó, Chính phủ, các tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng cần xây dựng các chương trình tín dụng ưu đãi, quỹ bảo lãnh tín dụng và các gói hỗ trợ tài chính phù hợp dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Những chính sách này không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất – kinh doanh mà còn tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao năng lực kinh tế, mở rộng cơ hội việc làm và gia tăng đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận nguồn vốn, nhất là trong điều kiện nhiều phụ nữ còn hạn chế về tài sản bảo đảm.
Đẩy mạnh các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về thương mại điện tử, marketing số, quản trị chuỗi cung ứng và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của phụ nữ trong nền kinh tế số. Với những ưu thế về tính cẩn trọng, khả năng giao tiếp và xây dựng mạng lưới khách hàng, phụ nữ có nhiều điều kiện để tham gia hiệu quả vào các mô hình kinh doanh trực tuyến, kinh tế số và kinh tế xanh nếu được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Tiếp tục khuyến khích phát triển các hiệp hội, mạng lưới và câu lạc bộ doanh nhân nữ nhằm tăng cường kết nối, chia sẻ kinh nghiệm quản trị, mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Thông qua việc hình thành các mạng lưới liên kết, phụ nữ có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Ba là, đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển kỹ năng cho phụ nữ, đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số.
Giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách giáo dục, bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng giữa nam và nữ; đồng thời khắc phục những định kiến giới trong việc lựa chọn ngành nghề và định hướng phát triển nghề nghiệp. Đặc biệt, cần có các cơ chế khuyến khích phụ nữ và trẻ em gái tham gia học tập, nghiên cứu và làm việc trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), thông qua các chương trình học bổng, hỗ trợ đào tạo, tư vấn hướng nghiệp và phát triển nghề nghiệp. Việc gia tăng sự hiện diện của phụ nữ trong các lĩnh vực này không chỉ góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong khoa học – công nghệ mà còn tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào các ngành nghề có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số.
Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển các kỹ năng mềm và năng lực lãnh đạo cho phụ nữ, như kỹ năng đàm phán, quản trị xung đột, ra quyết định, tư duy chiến lược, quản lý thay đổi và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Đây là những yếu tố quan trọng giúp phụ nữ nâng cao năng lực quản trị, tăng cường sự tự tin và khẳng định vai trò của mình ở các vị trí lãnh đạo, quản lý.
Đẩy mạnh phát triển các mô hình học tập linh hoạt dựa trên nền tảng số, bao gồm: đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa và học tập suốt đời. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở khu vực nông thôn, phụ nữ có con nhỏ hoặc phải đảm nhiệm nhiều trách nhiệm gia đình, có thể tiếp cận tri thức mới, kỹ năng nghề nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường lao động. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ phụ nữ có trình độ, năng lực và khả năng thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bốn là, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp.
Tiếp tục củng cố và phát huy vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng và đề xuất các chủ trương, chính sách liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới. Thông qua việc kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của hội viên và phụ nữ, tổ chức Hội góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của phụ nữ đối với các nguồn lực và cơ hội phát triển.
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tăng cường nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội về bình đẳng giới; đồng thời, khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần tự chủ và ý thức vươn lên của phụ nữ. Theo đó, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ Hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp hiện đại và năng lực hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.
Năm là, đổi mới nhận thức xã hội về bình đẳng giới và tăng cường sự tham gia, chia sẻ trách nhiệm của nam giới.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, chính sách và các điều kiện bảo đảm cho sự phát triển của phụ nữ, việc thay đổi nhận thức xã hội về vai trò, vị thế của phụ nữ và bình đẳng giới có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy, những định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển, khả năng tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển của phụ nữ. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục và vận động xã hội nhằm xây dựng nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới, hướng tới hình thành các giá trị văn hóa tiến bộ, tôn trọng sự bình đẳng và phát huy tiềm năng của cả nam giới và phụ nữ.
Công tác truyền thông cần chuyển từ việc nhấn mạnh vai trò truyền thống của phụ nữ sang khẳng định năng lực, trí tuệ, khát vọng cống hiến và những đóng góp của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học – công nghệ và quản lý xã hội. Đồng thời, thúc đẩy hình ảnh người đàn ông chủ động chia sẻ trách nhiệm trong việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái và thực hiện công việc nội trợ như một chuẩn mực văn hóa của gia đình hiện đại. Điều này không chỉ góp phần giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình mà còn tạo điều kiện để phụ nữ có thêm cơ hội phát triển nghề nghiệp và tham gia các hoạt động xã hội.
Bên cạnh đó, giáo dục bình đẳng giới cần được lồng ghép phù hợp vào chương trình giáo dục phổ thông và các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, góp phần hình thành nhận thức và hành vi tôn trọng bình đẳng giới ngay từ lứa tuổi học đường. Thông qua giáo dục, thế hệ trẻ được trang bị những giá trị về sự tôn trọng, hợp tác và chia sẻ trách nhiệm giữa các giới, qua đó từng bước xóa bỏ những khuôn mẫu giới mang tính định kiến còn tồn tại trong đời sống xã hội.
4. Kết luận
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy vai trò của phụ nữ. Vị thế của phụ nữ ngày càng được nâng cao; cơ hội tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quản lý nhà nước không ngừng được mở rộng. Với những đóng góp đó, phụ nữ Việt Nam đã khẳng định vai trò là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Vì vậy, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục phát huy vai trò của phụ nữ cần được xem là một nhiệm vụ chiến lược gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và phát huy sức mạnh con người Việt Nam. Đây không chỉ là yêu cầu của tiến trình bình đẳng giới mà còn là động lực quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 97.
2. Phụ nữ Việt Nam là “trái tim” của hệ giá trị văn hóa và khát vọng vươn mình. https://thinhvuongvietnam.com/Content/phu-nu-viet-nam-la-trai-tim-cua-he-gia-tri-van-hoa-va-khat-vong-vuon-minh-cua-dan-toc-71510
3. Kiến nghị chính sách ưu đãi đối với nguồn nhân lực nữ chất lượng cao. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/kien-nghi-chinh-sach-uu-dai-nguon-nhan-luc-nu-chat-luong-cao
4. Kết quả đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương; công tác chuẩn bị tổ chức và những vấn đề cần quan tâm trong tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng (Phần 1). https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/149255/2/Ket-qua-dai-hoi-dang-bo-truc-thuoc-Trung-uong;-cong-tac-chuan-bi-to-chuc-va-nhung-van-de-can-quan-tam-trong-tuyen-truyen-Dai-hoi-XIV-cua-Dang-(Phan-1).html
5. Danh sách 21 nữ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV. https://daihoidang.vn/danh-sach-21-nu-uy-vien-trung-uong-dang-khoa-xiv-post6212.html
6. Tăng cường tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. https://tcnnld.vn/news/detail/70897/Tang-cuong-ty-le-nu-lanh-dao-quan-ly-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-o-Viet-Nam.html
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030.
3. Quốc hội (2006). Luật Bình đẳng giới năm 2006
4. Quốc hội (2019). Bộ luật Lao động năm 2019.
5. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
6. Quốc hội (2022). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
7. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8 Quốc hội (khóa XV). https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-khai-mac-ky-hop-thu-8-quoc-hoi-khoa-xv-119241021113227895.htm.
8. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ trong thời kỳ mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/31/tang-cuong-vai-tro-lanh-dao-cua-dang-doi-voi-cong-tac-phu-nu-trong-thoi-ky-moi/
9. Tăng cường vai trò và ảnh hưởng của nữ đại biểu trong các cơ quan dân cử ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/15/tang-cuong-vai-tro-va-anh-huong-cua-nu-dai-bieu-trong-cac-co-quan-dan-cu-o-viet-nam/
10. Phát huy vai trò của phụ nữ Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc đẩy mạnh thực hiện bình đẳng giới hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/12/31/phat-huy-vai-tro-cua-phu-nu-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-trong-day-manh-thuc-hien-binh-dang-gioi-hien-nay/
11. Phát huy phẩm chất của phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/06/phat-huy-pham-chat-cua-phu-nu-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi/
12. Vai trò của nữ giới trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/10/04/vai-tro-cua-nu-gioi-trong-cong-cuoc-doi-moi-va-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te/



