Ho Chi Minh’s thought on international solidarity and its role in Vietnam’s current foreign affairs
ThS. Nguyễn Văn Lộc
Trường Đại học Thái Bình
(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, hòa hiếu của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong điều kiện thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế tiếp tục gợi mở những định hướng quan trọng cho Việt Nam: kiên định độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát huy đối ngoại nhân dân; tăng cường sức mạnh mềm và xử lý hài hòa quan hệ giữa lợi ích quốc gia – dân tộc với trách nhiệm quốc tế1.
Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh; đoàn kết quốc tế; ngoại giao Việt Nam; sức mạnh dân tộc; độc lập tự chủ.
Abstract: This thought was formed on the basis of combining the patriotic, humane, and peaceful traditions of the Vietnamese nation with Marxism-Leninism. In a rapidly changing world with increasing strategic competition, Ho Chi Minh’s thought on international solidarity continues to offer important directions for Vietnam: steadfastly upholding independence and self-reliance; multilateralizing and diversifying foreign relations; promoting people-to-people diplomacy; strengthening soft power; and harmoniously managing the relationship between national interests and international responsibilities.
Keywords: Ho Chi Minh; international solidarity; Vietnamese diplomacy; national strength; independence and self-reliance.
1. Đặt vấn đề
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt vấn đề đoàn kết không chỉ trong phạm vi dân tộc mà còn trên bình diện quốc tế. Nếu đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp lực lượng bên trong, tạo nên cơ sở chính trị – xã hội của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế là phương hướng chiến lược nhằm kết nối cuộc đấu tranh của Nhân dân Việt Nam với phong trào cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
Đầu thế kỷ XX, đất nước bị đặt dưới ách thống trị thực dân, lực lượng dân tộc còn phân tán, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản lần lượt lâm vào bế tắc, trong hoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không lựa chọn con đường cầu viện thụ động, cũng không khép cuộc đấu tranh dân tộc vào không gian biệt lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước trong sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân; giữa mục tiêu độc lập dân tộc với xu thế giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người trên phạm vi toàn thế giới.
Từ góc nhìn chính trị học, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế có thể được hiểu là hệ thống quan điểm về chủ thể, mục tiêu, nguyên tắc, phạm vi và phương thức liên kết quốc tế của cách mạng Việt Nam nhằm xác lập vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây không chỉ là tư tưởng ngoại giao theo nghĩa hẹp mà còn là lý luận về xây dựng nền tảng sức mạnh ngoại sinh, về chính danh chính trị, về huy động nguồn lực quốc tế và về xử lý quan hệ giữa lợi ích dân tộc với lợi ích chung của nhân loại tiến bộ. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng này không chỉ giúp nhận diện sâu sắc hơn di sản Hồ Chí Minh mà còn góp phần lý giải nền tảng tư tưởng của đường lối đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, đúng theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”2.
2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
2.1. Nền tảng truyền thống văn hóa – lịch sử của dân tộc Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trước hết bắt nguồn từ chiều sâu truyền thống dân tộc Việt Nam. Lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, lòng nhân nghĩa và truyền thống hòa hiếu trong quan hệ với các dân tộc khác. Trong ứng xử đối ngoại, dân tộc Việt Nam luôn kết hợp giữa kiên quyết bảo vệ chủ quyền với chủ trương hòa bình, khoan dung, “thêm bạn, bớt thù”, coi trọng chính nghĩa và nhân đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận truyền thống ấy, nhưng không dừng lại ở hình thái đạo lý truyền thống mà được nâng lên tầm lý luận chính trị hiện đại bằng cách đặt lòng yêu nước Việt Nam trong dòng chảy của phong trào cách mạng thế giới.
Điểm phát triển quan trọng là sự mở rộng từ ý thức cộng đồng dân tộc sang ý thức cộng đồng nhân loại tiến bộ. Nếu trong tư duy bang giao truyền thống, quan hệ quốc tế thường được giới hạn bởi lợi ích vương triều hoặc khu vực, thì tinh thần đoàn kết được mở rộng thành sự liên kết chặt chẽ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa lực lượng lao động trên toàn thế giới và giữa các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ, công lý. Như vậy, đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự vay mượn thuần túy từ bên ngoài mà là sự hiện đại hóa một giá trị sâu bền của văn hóa chính trị Việt Nam.
Từ chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu luận điểm về tính quốc tế của cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, hiểu sâu sắc hơn lý luận về chủ nghĩa đế quốc, quyền dân tộc tự quyết, quan hệ giữa cách mạng ở chính quốc và cách mạng thuộc địa, vai trò của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản.
Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin không diễn ra theo lối giáo điều mà vận dụng lý luận ấy vào hoàn cảnh cụ thể của một dân tộc thuộc địa, từ đó, xác định rằng, cách mạng Việt Nam vừa là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới. Quan điểm này tạo nên bước chuyển căn bản trong nhận thức chính trị: từ yêu nước theo cảm tính đến yêu nước trên lập trường cách mạng khoa học; từ đấu tranh dân tộc biệt lập đến đấu tranh dân tộc gắn với phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức và phong trào tiến bộ của nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới; đồng thời, nêu rõ yêu cầu kết đoàn giữa các lực lượng có chung lợi ích trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Đây là cơ sở để thấy rằng, đoàn kết quốc tế không phải là khẩu hiệu mà là một nguyên tắc chính trị xuất phát từ mối quan hệ biện chứng của phong trào chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và phong trào giải phóng dân tộc.
2.2. Thực tiễn hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được hình thành từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của Người. Từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước, đã sống, lao động, học tập và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia. Quá trình đó giúp Người trực tiếp quan sát đời sống của giai cấp công nhân, người lao động, các dân tộc thuộc địa và những lực lượng tiến bộ ở các nước tư bản. Từ trải nghiệm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận ra rằng, nỗi khổ đau của các dân tộc thuộc địa không phải là hiện tượng riêng lẻ mà là kết quả của một hệ thống áp bức mang tính toàn cầu.
Thực tiễn hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều diễn đàn quốc tế giúp Người hiểu sâu sắc giá trị của việc tổ chức lực lượng, sử dụng báo chí, xây dựng mạng lưới chính trị và tranh thủ dư luận quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia các hoạt động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; đồng thời, tích cực đưa vấn đề thuộc địa vào chương trình nghị sự của phong trào cách mạng thế giới. Chính hoạt động thực tiễn đó tạo nên phẩm chất nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh: giàu tính nguyên tắc nhưng không giáo điều; rộng mở về lực lượng nhưng luôn đặt trên nền tảng độc lập, tự chủ; coi trọng sự ủng hộ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”3.
3. Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Thứ nhất, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Luận điểm nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là cách mạng Việt Nam không tồn tại biệt lập, mà là một bộ phận của cách mạng thế giới. Trong “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”4. Mệnh đề này có ý nghĩa lý luận sâu sắc, xác lập vị trí của cách mạng Việt Nam trong sự vận động của thời đại; đồng thời chỉ ra rằng, thắng lợi của cách mạng Việt Nam phụ thuộc vào khả năng kết hợp đúng đắn giữa nội lực dân tộc và ngoại lực quốc tế.
Quan niệm cho thấy, một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán tâm lý tự cô lập, tuyệt đối hóa sức mạnh dân tộc mà không thấy vai trò của thời đại và phong trào cách mạng thế giới, mặt khác, cũng chống khuynh hướng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ bên ngoài. Quan điểm “tự lực cánh sinh” biểu thị rõ nguyên tắc ấy: đoàn kết quốc tế chỉ có giá trị bền vững khi dân tộc có ý chí tự giải phóng, có tổ chức, có thực lực và có chính nghĩa.
Từ phương diện chính trị học, đây là quan niệm về tự chủ chiến lược trong đoàn kết quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh không xem sự ủng hộ quốc tế là yếu tố thay thế quyền tự quyết dân tộc mà là nguồn lực bổ sung cho sức mạnh dân tộc. Nhờ vậy, cách mạng Việt Nam vừa giữ được vị thế chủ thể, vừa biến tính chính nghĩa của mình thành cơ sở để tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của Nhân dân tiến bộ thế giới.
Thứ hai, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không đặt hai yếu tố chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong quan hệ đối lập. Trái lại, yêu nước chân chính phải gắn với sự tôn trọng quyền độc lập, tự do của các dân tộc khác, chủ nghĩa quốc tế trong sáng phải bắt đầu từ trách nhiệm đối với dân tộc mình. Đó là cách tiếp cận vượt qua cả chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi lẫn chủ nghĩa quốc tế giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”5.
Trong thực tiễn, sự kết hợp này thể hiện ở việc Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam làm mục tiêu tối cao; đồng thời, coi thắng lợi của Việt Nam là sự đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc, hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng đoàn kết, hợp tác quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng để Việt Nam vận dụng trong đường lối đối ngoại hiện nay, nhất là trong việc kết hợp lợi ích dân tộc với trách nhiệm quốc tế.
Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hạt nhân phương pháp luận của tư tưởng đoàn kết quốc tế là luận điểm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. “Sức mạnh dân tộc”, bao gồm: lòng yêu nước, ý chí độc lập, truyền thống đoàn kết, bản lĩnh văn hóa, năng lực tổ chức chính trị và toàn bộ tiềm lực vật chất, tinh thần của đất nước. “Sức mạnh thời đại” bao gồm các xu thế và lực lượng tiến bộ của thế giới: phong trào cách mạng, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ, sự phát triển của khoa học, công nghệ, các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa một chiều bất kỳ nguồn lực nào mà coi nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng; nội lực tạo nền tảng để tranh thủ ngoại lực, còn ngoại lực góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Cách diễn đạt “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”6, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”7, thể hiện sinh động quan hệ giữa năng lực thực chất của quốc gia và hiệu quả của hoạt động đối ngoại. Về bản chất, đây là tư duy chính trị hiện đại: vị thế quốc tế không thể chỉ dựa trên thiện chí hay diễn ngôn, mà phải được bảo đảm bằng thực lực quốc gia, song thực lực ấy chỉ phát huy đầy đủ khi biết chuyển hóa thành uy tín, quan hệ và ảnh hưởng quốc tế.
Thứ tư, mở rộng mặt trận đoàn kết quốc tế trên cơ sở phân hóa lực lượng.
Tư duy đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh có phạm vi rộng mở nhưng không mơ hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nhiều tầng nấc lực lượng có thể đoàn kết: giai cấp vô sản và Nhân dân lao động thế giới; các dân tộc bị áp bức và phong trào giải phóng dân tộc; các Đảng Cộng sản, công nhân và các nước xã hội chủ nghĩa; các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ, công lý và tiến bộ xã hội, kể cả Nhân dân tiến bộ trong các nước đang có chính quyền đối địch với Việt Nam.
Điểm sắc bén ở đây là việc luôn phân biệt giữa Nhân dân với các thế lực thực dân, hiếu chiến; giữa những lực lượng có thể tranh thủ, trung lập hóa hoặc phải đấu tranh. Cách tiếp cận đó giúp mở rộng tối đa mặt trận bạn bè; đồng thời, cô lập tối đa kẻ thù trực tiếp.
Thứ năm, đoàn kết quốc tế phải gắn với độc lập, tự chủ và bình đẳng.
Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là đoàn kết vô nguyên tắc. Nền tảng của nó là độc lập, chủ quyền, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi: “Nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự”8. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tranh thủ tối đa sự giúp đỡ quốc tế, nhưng luôn cảnh giác với mọi biểu hiện áp đặt, lệ thuộc hoặc đánh đổi lợi ích cốt lõi của dân tộc. Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác với mọi kiểu quốc tế chủ nghĩa giáo điều: đoàn kết sâu rộng nhưng không hòa tan; hợp tác chân thành nhưng không đánh mất quyền tự quyết.
Các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đều nhất trí cho rằng, những nguyên tắc cốt lõi được thể hiện, như: bình đẳng về lợi ích và trách nhiệm, tôn trọng lẫn nhau, tự lực cánh sinh, có lý và có tình. Những nguyên tắc này cho thấy, đoàn kết quốc tế vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là nghệ thuật chính trị, đòi hỏi sự thống nhất giữa mục tiêu lâu dài và sách lược linh hoạt, giữa lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, giữa lập trường kiên định và phương pháp mềm dẻo.
4. Đặc trưng của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Tính khoa học và cách mạng: tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế có tính khoa học vì xuất phát từ nhận thức đúng về bản chất của thời đại và cấu trúc quyền lực quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là hệ thống áp bức mang tính quốc tế, do đó, lực lượng chống áp bức cũng phải được tổ chức trên bình diện quốc tế. Vì vậy, sự liên kết giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới không phải là lựa chọn tùy hứng, mà là đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh chống một đối thủ có quy mô toàn cầu.Tính cách mạng của tư tưởng này thể hiện ở chỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi sự ủng hộ của thế giới đối với Việt Nam, mà còn xác định Việt Nam là một chủ thể tích cực đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Việt Nam vừa tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, vừa thực hiện nghĩa vụ quốc tế trong khả năng của mình. Đây là tư duy hai chiều, vượt lên quan hệ viện trợ một chiều, tạo nên phẩm chất bình đẳng và tự trọng trong đoàn kết quốc tế.
Tính nhân văn và hòa bình: mục tiêu cuối cùng của đoàn kết quốc tế không phải là mở rộng đối đầu mà là giải phóng con người khỏi áp bức, chiến tranh, nghèo nàn và bất công. Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh cho độc lập của Việt Nam nhưng đồng thời luôn hướng tới hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh phản đối chủ nghĩa thực dân và các thế lực hiếu chiến, song không nuôi dưỡng hận thù dân tộc; trái lại, luôn tìm kiếm khả năng hòa giải, đối thoại và hợp tác trên cơ sở chính nghĩa. Chính tính nhân văn ấy làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức thuyết phục vượt qua ranh giới ý thức hệ, dân tộc và quốc gia. Trong các cuộc kháng chiến của Việt Nam, sự ủng hộ của Nhân dân tiến bộ ở nhiều nước, kể cả trong lòng các nước đối phương là minh chứng cho khả năng chuyển hóa chính nghĩa dân tộc thành sức mạnh của lương tri nhân loại. Tổng thống Cộng hòa Ấn Độ Venkataraman viết: “…Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà đấu tranh giải phóng dân tộc tiêu biểu. Bằng bản lĩnh và tài năng, Người đã lãnh đạo nhân dân mình tự giải phóng khỏi gông xiềng đế quốc, tạo dựng nên hình ảnh bất diệt trong trái tim khối óc của những người yêu nước Việt Nam. Người còn là một người có tinh thần quốc tế chủ nghĩa tuyệt vời: sống hết mình cho niềm tin cuộc sống của những dân tộc anh em khác, vì những mục đích cao cả của loài người trên khắp năm châu. Người là nguồn động lực và khát vọng cho tất cả những ai yêu hòa bình trên thế giới trong mọi thời đại”9.
Tính độc lập, tự chủ và linh hoạt: đặc trưng nổi bật nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự thống nhất giữa độc lập, tự chủ với linh hoạt sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh không xem độc lập, tự chủ là thái độ khép kín, cũng không xem hội nhập và đoàn kết là sự phụ thuộc. Độc lập, tự chủ là điều kiện để hợp tác bình đẳng; hợp tác quốc tế là phương thức để tăng cường năng lực tự chủ. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh có khả năng thích ứng với nhiều bối cảnh lịch sử khác nhau.Tính linh hoạt thể hiện ở phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền, hòa bình và lợi ích chính đáng của nhân dân, nhưng mềm dẻo trong phương thức, hình thức và nhịp độ quan hệ. Đây là nghệ thuật xử lý quan hệ quốc tế đặc biệt có giá trị đối với các quốc gia vừa và nhỏ trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn.
5. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong đường lối đối ngoại hiện nay
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế;… là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”10. Những định hướng đó có sự tương thông sâu sắc với tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về thêm bạn bớt thù và về gắn lợi ích dân tộc với hòa bình, tiến bộ của thế giới.
Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế không có nghĩa là sao chép máy móc, bối cảnh quốc tế đã thay đổi sâu sắc: toàn cầu hóa đan xen với phân mảnh; hợp tác kinh tế đi cùng cạnh tranh địa – chính trị; cách mạng khoa học, công nghệ tạo ra cả cơ hội và thách thức mới. Vì vậy, đoàn kết quốc tế cần có định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, đó là:
Thứ nhất, tiếp tục kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ. Trong mọi quan hệ quốc tế, lợi ích quốc gia – dân tộc phải là tiêu chuẩn cao nhất, song lợi ích ấy cần được đặt trong quan hệ hài hòa với hòa bình, hợp tác và phát triển. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với biệt lập mà là năng lực tự quyết trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Thứ hai, chủ động mở rộng và làm sâu sắc mạng lưới đối tác quốc tế. Tinh thần đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh gợi mở phương châm khai thác tối đa những nét tương đồng, xử lý khác biệt, tăng cường tin cậy và hợp tác cùng có lợi. Trong thế giới nhiều biến động, quan hệ đối ngoại rộng mở giúp Việt Nam gia tăng không gian chiến lược, tránh phụ thuộc một chiều và nâng cao khả năng thích ứng.
Thứ ba, phát huy mạnh mẽ đối ngoại nhân dân và sức mạnh mềm quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của Nhân dân, báo chí, văn hóa và dư luận quốc tế. Trong thời đại số, sức mạnh mềm, hình ảnh quốc gia, uy tín chính trị, năng lực truyền thông quốc tế và mạng lưới học thuật – xã hội càng trở nên quan trọng. Đây là lĩnh vực cần được đầu tư tương xứng để tạo sự đồng cảm, tin cậy và ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam.
Thứ tư, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh. Tư tưởng Hồ Chí Minh không né tránh mâu thuẫn nhưng luôn hướng việc đấu tranh tới mục tiêu đoàn kết, hòa bình và hợp tác. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều này đòi hỏi bản lĩnh kiên định trước các vấn đề chủ quyền, lợi ích cốt lõi; đồng thời, giữ thái độ đối thoại, kiềm chế, tôn trọng luật pháp quốc tế và tìm kiếm giải pháp hòa bình.
Thứ năm, gắn đoàn kết quốc tế với trách nhiệm quốc tế của Việt Nam. Khi vị thế đất nước ngày càng được nâng cao, Việt Nam không chỉ tranh thủ nguồn lực bên ngoài mà còn cần đóng góp tích cực hơn vào các vấn đề chung như hòa bình, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, phát triển bền vững, gìn giữ hòa bình và hợp tác khu vực. Đây chính là sự phát triển hiện đại của tinh thần quốc tế trong sáng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng.
6. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là một hệ thống quan điểm có chiều sâu lý luận, tầm bao quát lịch sử và giá trị thực tiễn lâu dài. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nằm ở việc giải quyết thành công một bài toán căn bản của cách mạng đó là làm thế nào để một dân tộc thuộc địa, nhỏ về tiềm lực vật chất, có thể vừa giữ vững quyền tự quyết, vừa tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng lớn. Đây là sự kết hợp giữa tự lực và hợp tác, giữa thực lực và ngoại giao, giữa chính nghĩa dân tộc và lương tri nhân loại. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng và phải xử lý nhiều thách thức phức tạp của môi trường quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế vẫn giữ nguyên giá trị định hướng. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người chính là tiếp tục kiên định độc lập, tự chủ; phát huy nội lực; tranh thủ ngoại lực; mở rộng quan hệ bạn bè; nâng cao uy tín quốc gia và đóng góp có trách nhiệm vào hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới.
Chú thích:
1. Bài viết là sản phẩm của đề tài: Đặc sắc trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay. Trường Đại học Thái Bình, mã số ĐHTB-ĐT19/25-26.
2, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 381- 382.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 162.
4, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 329, 320.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 273.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 147.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 3.
9. Những dòng ghi cảm tưởng của khách quốc tế tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phủ Chủ tịch), Ba Đình, Hà Nội.



