Vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong huy động, sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở TP. Hồ Chí Minh

The role of defense enterprises in mobilizing and utilizing resources for socio-economic development in Ho Chi Minh City

Trung tá Nguyễn Quang Vinh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) TP. Hồ Chí Minh đang đối mặt với nhu cầu cấp thiết huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Là chủ thể kinh tế đặc thù, doanh nghiệp quốc phòng có khả năng khai thác và chuyển hóa tốt các nguồn lực về vốn nhà nước, tài sản, hạ tầng, lao động, khoa học, công nghệ, logistics, công nghiệp lưỡng dụng và kinh tế biển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của Thành phố. Bài viết phân tích thực trạng vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong huy động, sử dụng nguồn lực tại TP. Hồ Chí Minh, chỉ ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mạnh mẽ hơn vai trò đặc thù này trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Doanh nghiệp quốc phòng; nguồn lực tài chính; vốn nhà nước; phát triển kinh tế – xã hội; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: Ho Chi Minh City is confronting an urgent demand to mobilize and utilize resources effectively for its socio-economic development. As distinctive economic entities, defense enterprises possess significant capacity to exploit and convert state capital, assets, infrastructure, labor, science and technology, logistics, dual-use industries, and marine economy resources. These capabilities enable them to make substantial contributions to the city’s economic growth. This article examines the current role of defense enterprises in resource mobilization and utilization in Ho Chi Minh City, identifies existing limitations, and proposes solutions to more effectively leverage their unique role in the new development phase.

Keywords: Defense enterprises; financial resources; state capital; socio-economic development; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

TP. Hồ Chí Minh hiện nay giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, TP. Hồ Chí Minh mới có diện tích tự nhiên 6.772,59 km², dân số hơn 14 triệu người. Sự mở rộng này tạo ra một không gian phát triển mới, kết hợp được lợi thế của trung tâm tài chính – thương mại – dịch vụ, vùng công nghiệp – đô thị năng động và khu vực cảng biển – dầu khí – logistics – kinh tế biển có vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Bộ.

Trong năm 2025, kinh tế TP. Hồ Chí Minh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng tích cực. GRDP cả năm tăng 7,53%, nếu không tính ngành dầu khí tăng 8,03%. Quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 2.972.939 tỷ đồng. Khu vực dịch vụ chiếm 52,2%; công nghiệp – xây dựng: 35,2%; nông, lâm nghiệp và thủy sản: 1,7%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: 10,9%. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Thành phố năm 2025 ước đạt 684.877,4 tỷ đồng, tăng 11,9% so với năm 2024; tổng thu cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 773.888 tỷ đồng, tăng 13,4%1. Những số liệu này cho thấy, yêu cầu rất lớn về huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, vật chất và xã hội cho phát triển Thành phố trong giai đoạn mới.

Trong cấu trúc các chủ thể tham gia phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố, doanh nghiệp quốc phòng có vị trí đặc thù. Đây không chỉ là lực lượng sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực quan trọng, như: cảng biển, logistics, cơ khí, đóng tàu, hàng không, dệt may, xăng dầu, xây dựng, dịch vụ kỹ thuật mà còn là lực lượng trực tiếp thực hiện yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Đối với TP. Hồ Chí Minh hiện nay, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp quốc phòng có quy mô lớn và có tác động lan tỏa, việc nhận diện đúng vai trò của khu vực này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nhất là từ góc nhìn tài chính công, quản trị vốn nhà nước và sử dụng nguồn lực công hiệu quả.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận

Về phương diện pháp lý, Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/4/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, trong đó đã quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Nghị định số 16/2023/NĐ-CP cho thấy, doanh nghiệp quốc phòng không thể được nhìn nhận đơn thuần như doanh nghiệp kinh doanh thông thường mà là chủ thể vừa phải bảo đảm hiệu quả sản xuất – kinh doanh, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh theo chức năng được giao.

Từ góc độ tài chính, doanh nghiệp quốc phòng phần lớn gắn với quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước và tài sản do quân đội giao quản lý. Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 quy định yêu cầu quản lý, sử dụng vốn nhà nước phải bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn; công khai, minh bạch; phòng, chống thất thoát, lãng phí. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong huy động, sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Có thể hiểu, nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm: nguồn lực tài chính, vốn, đất đai, tài sản công, kết cấu hạ tầng, lao động, khoa học, công nghệ, năng lực quản trị, thị trường, chuỗi cung ứng và nguồn lực xã hội. Đối với doanh nghiệp quốc phòng, bên cạnh những nguồn lực thông thường của doanh nghiệp, còn có những nguồn lực đặc thù, như: năng lực tổ chức kỷ luật, hạ tầng lưỡng dụng, công nghệ quốc phòng, nhân lực kỹ thuật, khả năng cơ động và năng lực phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi có tình huống.

Bài viết tiếp cận vấn đề theo hướng liên ngành giữa tài chính công, kinh tế chính trị và quản trị doanh nghiệp nhà nước. Phương pháp chủ yếu là phân tích – tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả, nghiên cứu trường hợp điển hình và khái quát hóa thực tiễn từ một số doanh nghiệp quốc phòng hoạt động trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

3. Thực trạng vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong huy động, sử dụng nguồn lực ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay

3.1. Huy động, sử dụng nguồn lực tài chính, vốn và tài sản nhà nước

Trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay, nhiều doanh nghiệp quốc phòng đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực có quy mô vốn lớn, giá trị tài sản cao, tác động trực tiếp đến tăng trưởng và ngân sách, như: cảng biển, logistics, công nghiệp, hàng không, dệt may, xăng dầu, xây dựng, cơ khí sửa chữa.

Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn/Binh đoàn 20 là trường hợp tiêu biểu. Ngày 30/5/2025, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn Kinh tế biển, tức Binh đoàn 20 trực thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở Quân cảng Sài Gòn, với nhiệm vụ kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng; sản xuất – kinh doanh khai thác cảng, dịch vụ logistics, vận tải, kinh tế biển, đầu tư kinh doanh khu công nghiệp, du lịch biển đảo, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo. Năm 2024, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn đạt tổng doanh thu 32.000 tỷ đồng, tăng 15,6%; tổng lợi nhuận gần 7.000 tỷ đồng, tăng 32,5%; nộp ngân sách nhà nước 2.672 tỷ đồng, tăng 28%; thị phần khai thác container xuất nhập khẩu qua các cảng của Tổng công ty đạt 55,2% cả nước2. Đây là minh chứng rõ nét cho khả năng chuyển hóa hạ tầng, vốn, tài sản và năng lực quản trị của doanh nghiệp quốc phòng thành nguồn lực tài chính phục vụ phát triển.

Không chỉ Tân Cảng Sài Gòn, Tổng Công ty 28 cũng là một doanh nghiệp quốc phòng có đóng góp đáng chú ý trong huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và lao động. Năm 2024, Tổng Công ty 28 đạt doanh thu hơn 3.996 tỷ đồng, bằng 108% kế hoạch; lợi nhuận hơn 135 tỷ đồng, bằng 116% kế hoạch; nộp ngân sách hơn 180 tỷ đồng; thu nhập bình quân người lao động hơn 14 triệu đồng/tháng3. Các chỉ tiêu này cho thấy, doanh nghiệp quốc phòng trong lĩnh vực dệt may, quân trang, sản phẩm dân dụng không chỉ thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần mà còn đóng góp vào ngân sách, giải quyết việc làm và phát triển sản xuất công nghiệp.

Từ góc độ tài chính, điểm đáng chú ý là doanh nghiệp quốc phòng có khả năng sử dụng nguồn lực công để tạo dòng thu ổn định, nộp ngân sách, bảo toàn và phát triển vốn. Điều này phù hợp với yêu cầu quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khác với doanh nghiệp thông thường, hiệu quả của doanh nghiệp quốc phòng không chỉ được đo bằng doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách mà còn bằng khả năng duy trì năng lực quốc phòng, bảo đảm hậu cần – kỹ thuật, phục vụ nhiệm vụ chính trị và tạo tác động xã hội tích cực.

3.2. Khai thác nguồn lực hạ tầng cảng biển, logistics và kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh hiện nay có lợi thế đặc biệt về cảng biển, logistics, công nghiệp, dầu khí và kinh tế biển. Đây là điều kiện để doanh nghiệp quốc phòng phát huy vai trò trong khai thác nguồn lực hạ tầng chiến lược. Trong đó, Tân Cảng Sài Gòn hiện sở hữu, quản lý 5 cảng biển lớn cùng 18 cơ sở kho bãi, trung tâm logistics trên địa bàn; đảm nhiệm gần 70% thị phần container xuất, nhập khẩu qua hệ thống cảng biển của Thành phố4. Điều này cho thấy, doanh nghiệp quốc phòng không chỉ sử dụng nguồn lực sẵn có mà còn tạo lập hệ sinh thái hạ tầng – logistics có tác động lan tỏa đến các ngành sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu và dịch vụ. Hoạt động cảng biển, vận tải, kho bãi, dịch vụ logistics góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa; đồng thời, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Trong bối cảnh tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải của Thành phố năm 2025 ước đạt 596.745 tỷ đồng, tăng 13,9% so với năm 20245, vai trò của các doanh nghiệp logistics có quy mô lớn, trong đó có doanh nghiệp quốc phòng càng trở nên quan trọng.

Bên cạnh cảng biển và logistics, Công ty Trực thăng miền Nam thuộc Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam/Binh đoàn 18 là trường hợp đáng chú ý trong khai thác nguồn lực hàng không phục vụ kinh tế biển, dầu khí, tìm kiếm cứu nạn và nhiệm vụ đặc thù. Doanh nghiệp này có đội trực thăng tầm xa hiện đại, đội ngũ phi công có kinh nghiệm bay biển, thực hiện các chuyến bay trong điều kiện phức tạp; đồng thời, hoạt động sản xuất – kinh doanh theo chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo toàn và phát triển vốn, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, ngân sách nhà nước.

Như vậy, trong lĩnh vực hạ tầng chiến lược, vai trò của doanh nghiệp quốc phòng thể hiện ở khả năng kết hợp hiệu quả giữa đầu tư kinh doanh với yêu cầu bảo đảm năng lực cơ động, hậu cần, vận tải, cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là giá trị đặc thù mà khu vực doanh nghiệp khác khó thay thế.

3.3. Phát triển công nghiệp lưỡng dụng, cơ khí, dệt may và dịch vụ kỹ thuật

Một trong những đóng góp quan trọng của doanh nghiệp quốc phòng là phát triển công nghiệp lưỡng dụng. Trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay, các doanh nghiệp, như: Tổng Công ty Ba Son, Xí nghiệp Liên hợp Z751, Tổng Công ty 28, Công ty Đông Hải, Dệt May 7… có khả năng kết hợp sản xuất phục vụ quốc phòng với sản xuất – kinh doanh sản phẩm dân dụng. Đây là hướng sử dụng nguồn lực hợp lý, giúp khai thác hiệu quả nhà xưởng, máy móc, nhân lực kỹ thuật, kinh nghiệm quản trị và công nghệ tích lũy trong khu vực quốc phòng.

Trong điều kiện TP. Hồ Chí Minh có chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%; bốn ngành công nghiệp trọng điểm tăng 12,9%, trong đó ngành cơ khí tăng 18,7%6, doanh nghiệp quốc phòng có nhiều dư địa tham gia sâu hơn vào công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, sửa chữa kỹ thuật, thiết bị, phương tiện và sản phẩm lưỡng dụng.

Công ty Đông Hải/Quân khu 7 là ví dụ về doanh nghiệp quốc phòng gắn sản xuất – kinh doanh với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Công ty lựa chọn ngành nghề mũi nhọn phù hợp, đổi mới phương pháp quản lý, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân có trình độ, tay nghề kỹ thuật cao, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, hướng tới phát triển bền vững. Xí nghiệp Liên hợp Z751 cũng là cơ sở kỹ thuật quan trọng (thành lập từ năm 1975), gắn với năng lực sửa chữa, sản xuất, bảo đảm kỹ thuật cho quân đội và có tiềm năng đóng góp vào hệ sinh thái cơ khí – kỹ thuật trên địa bàn.

Đối với lĩnh vực dệt may, sự hiện diện của Tổng Công ty 28, Dệt May 7 và các đơn vị thành viên cho thấy, doanh nghiệp quốc phòng có thể tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng sản phẩm quân trang, bảo hộ, thời trang, xuất khẩu và sản phẩm dân dụng. Điều này có ý nghĩa trong bối cảnh chỉ số sản xuất ngành trang phục của Thành phố năm 2025 tăng 15,6%, ngành dệt tăng 11%, ngành da và sản phẩm liên quan tăng 5,8%7.

3.4. Tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thực hiện trách nhiệm xã hội

Doanh nghiệp quốc phòng không chỉ huy động, sử dụng nguồn lực tài chính, tài sản, hạ tầng mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Các lĩnh vực cảng biển, logistics, dệt may, cơ khí, hàng không, xăng dầu, xây dựng, dịch vụ kỹ thuật đều sử dụng lực lượng lao động lớn, trong đó có nhiều lao động kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề.

Điểm nổi bật của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp quốc phòng là sự kết hợp giữa trình độ chuyên môn, tác phong công nghiệp và kỷ luật quân đội. Đây là lợi thế quan trọng trong các ngành đòi hỏi tính chính xác, an toàn, trách nhiệm cao, như: hàng không, cảng biển, logistics, sửa chữa kỹ thuật, cơ khí và sản xuất quốc phòng. Việc Tổng Công ty 28 bảo đảm thu nhập bình quân người lao động hơn 14 triệu đồng/tháng trong năm 20248 cho thấy, vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong tạo việc làm ổn định, chăm lo đời sống người lao động và đóng góp vào mục tiêu tiến bộ xã hội.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quốc phòng còn thường xuyên tham gia hoạt động an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, chăm lo người lao động, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu biển đảo. Những hoạt động này tuy khó lượng hóa đầy đủ bằng các chỉ tiêu tài chính, nhưng lại tạo ra giá trị xã hội quan trọng, góp phần ổn định địa bàn, củng cố niềm tin của Nhân dân và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân.

4. Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả tích cực, việc phát huy vai trò của doanh nghiệp quốc phòng trong huy động, sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay còn một số vấn đề cần quan tâm.

Thứ nhất, hệ thống dữ liệu thống kê riêng về đóng góp của doanh nghiệp quốc phòng đối với phát triển kinh tế – xã hội địa phương chưa được công bố đầy đủ và đồng bộ. Các chỉ tiêu, như: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, lao động, thu nhập, vốn đầu tư, tài sản, giá trị xuất khẩu, đóng góp logistics, an sinh xã hội… còn phân tán ở nhiều nguồn khác nhau. Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá định lượng toàn diện.

Thứ hai, cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước, Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 và các doanh nghiệp quốc phòng trong quy hoạch, đầu tư, khai thác hạ tầng, sử dụng đất đai, phát triển logistics, công nghiệp lưỡng dụng và kinh tế biển có lúc, có nơi chưa thật sự đồng bộ. Sau khi Thành phố mở rộng không gian phát triển, yêu cầu liên kết vùng, liên kết ngành và liên kết hạ tầng càng trở nên cấp thiết.

Thứ ba, một số doanh nghiệp quốc phòng phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ kinh tế, nhiệm vụ quốc phòng, nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xã hội. Điều này tạo ra áp lực cân bằng giữa hiệu quả tài chính, bảo toàn vốn, phát triển thị trường với yêu cầu sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Thứ tư, quá trình đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, quản trị tài chính hiện đại và quản trị rủi ro ở một số doanh nghiệp chưa đồng đều. Trong bối cảnh cạnh tranh logistics, công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật và chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt, đây là thách thức lớn đối với năng lực cạnh tranh dài hạn.

5. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa TP. Hồ Chí Minh với Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 và các doanh nghiệp quốc phòng. Thành phố cần xây dựng cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên, phối hợp chặt chẽ trong quy hoạch, kế hoạch đầu tư, phát triển hạ tầng logistics, cảng biển, khu công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, kinh tế biển và công nghiệp lưỡng dụng. Cơ chế phối hợp phải bảo đảm phát huy hiệu quả nguồn lực doanh nghiệp quốc phòng; đồng thời, giữ vững yêu cầu quốc phòng, an ninh trên địa bàn chiến lược.

Hai là, nâng cao hiệu quả quản trị vốn, tài sản và tài chính trong doanh nghiệp quốc phòng. Cần tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định tại Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 và Nghị định số 16/2023/NĐ-CP của Chính phủ; tăng cường công khai, minh bạch, giám sát tài chính, kiểm soát rủi ro, phòng chống thất thoát, lãng phí. Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp quốc phòng cần kết hợp hài hòa giữa các chỉ tiêu tài chính (doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, bảo toàn vốn) với chỉ tiêu xã hội và quốc phòng (tạo việc làm, an sinh xã hội, năng lực sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh). Khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp hiện đại (ISO, ERP, chuyển đổi số) và đa dạng hóa nguồn vốn hợp pháp.

Ba là, gắn hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh. Các doanh nghiệp quốc phòng cần được định vị rõ ràng trong những lĩnh vực thành phố có lợi thế và nhu cầu lớn, như: cảng biển, logistics, kinh tế biển, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí, dệt may, hàng không, xăng dầu, xây dựng hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Đặc biệt, Binh đoàn 20 – Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn cần tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trên 5 trụ cột (cảng biển, logistics, vận tải – kinh tế biển, khu công nghiệp – thương mại, du lịch biển đảo và năng lượng tái tạo).

Bốn là, thúc đẩy phát triển công nghiệp lưỡng dụng và đổi mới khoa học – công nghệ. Khuyến khích doanh nghiệp quốc phòng hợp tác sâu rộng với viện nghiên cứu, trường đại học, khu công nghệ cao, doanh nghiệp tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, phát triển sản phẩm mới, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng thị trường. Ưu tiên các lĩnh vực cơ khí chính xác, tự động hóa, vật liệu mới, logistics thông minh, công nghệ cảng biển, hàng hải, hàng không, UAV và sản phẩm kỹ thuật lưỡng dụng. Có thể nghiên cứu hình thành các tổ hợp công nghiệp quốc phòng – công nghệ cao tại TP. Hồ Chí Minh, huy động nguồn lực xã hội tham gia.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong doanh nghiệp quốc phòng. Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản trị tài chính, quản trị doanh nghiệp, kỹ sư, công nhân kỹ thuật, chuyên gia logistics, chuyển đổi số và quản trị rủi ro. Đồng thời, phát huy giá trị văn hóa doanh nghiệp quốc phòng: kỷ luật, trách nhiệm, sáng tạo, an toàn, hiệu quả và phụng sự Tổ quốc. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút nhân tài từ khu vực dân sự và hợp tác quốc tế trong đào tạo.

Sáu là, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá đóng góp của doanh nghiệp quốc phòng đối với phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Bộ chỉ tiêu gồm: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, vốn đầu tư, tổng tài sản, lao động, thu nhập bình quân, năng suất lao động, giá trị xuất khẩu, giá trị dịch vụ logistics, mức độ đổi mới công nghệ, hoạt động an sinh xã hội và đóng góp cho quốc phòng, an ninh. Sở Tài chính, Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Quân khu 7 và các doanh nghiệp xây dựng và công bố định kỳ báo cáo thống kê riêng, làm cơ sở hoạch định chính sách và giám sát hiệu quả.

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập trong khuôn khổ giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia. Doanh nghiệp quốc phòng TP. Hồ Chí Minh cần chủ động tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về logistics, kinh tế biển, chuyển giao công nghệ lưỡng dụng (theo đúng quy định pháp luật); đồng thời, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, xuất khẩu sản phẩm dân dụng và một số sản phẩm quốc phòng được phép. Điều này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và huy động thêm nguồn lực bên ngoài.

Tám là, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Các doanh nghiệp quốc phòng cần tiên phong áp dụng công nghệ 4.0 vào quản trị, sản xuất, logistics (cảng thông minh, kho bãi tự động, theo dõi chuỗi cung ứng); phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, cảng xanh và năng lượng tái tạo, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của thành phố và quốc gia.

6. Kết luận

Doanh nghiệp quốc phòng là chủ thể kinh tế đặc thù, có vai trò quan trọng trong huy động, sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay. Thông qua hoạt động sản xuất – kinh doanh trong các lĩnh vực hoạt động, các doanh nghiệp quốc phòng đã góp phần tạo doanh thu, nộp ngân sách, giải quyết việc làm, phát triển hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Từ góc độ tài chính, cần tiếp tục phát huy khả năng chuyển hóa vốn, tài sản, hạ tầng, lao động kỹ thuật và năng lực tổ chức đặc thù của doanh nghiệp quốc phòng thành nguồn lực phát triển. Do vậy, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa địa phương với quân đội; nâng cao hiệu quả quản trị vốn, tài sản nhà nước; thúc đẩy công nghiệp lưỡng dụng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; đồng thời, xây dựng hệ thống dữ liệu đánh giá đầy đủ, khách quan về đóng góp của doanh nghiệp quốc phòng đối với sự phát triển của Thành phố trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1, 5, 6, 7. Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. https://thongke.cesti.gov.vn/images/Ket_qua_thong_ke/2026-01-Thong-ke-KTXH-2025/Thong-cao-bao-chi-TPHCM-2025.pdf
2. Năm 2024, Tân cảng Sài Gòn đạt sản lượng hàng, doanh thu, lợi nhuận cao kỷ lục. https://baoxaydung.vn/nam-2024-tan-cang-sai-gon-dat-san-luong-hang-doanh-thu-loi-nhuan-cao-ky-luc-192250128223755124.htm
3, 8. Tổng Công ty 28 phấn đấu lợi nhuận sản xuất năm 2025 đạt 140 tỷ đồng. https://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/tong-cong-ty-28-phan-dau-loi-nhuan-san-xuat-nam-2025-dat-140-ty-dong
4. Binh đoàn 20 – Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn: Mạnh kinh tế, vững quốc phòng trên 5 trụ cột. https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/binh-doan-20-tong-cong-ty-tan-cang-sai-gon-manh-kinh-te-vung-quoc-phong-tren-5-tru-cot-841253
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2023). Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/4/2023 về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.
2. Quốc hội (2025). Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025.
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quốc phòng, an ninh ở Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong tình hình mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/22/xay-dung-doi-ngu-can-bo-doanh-nghiep-quoc-phong-an-ninh-o-tong-cuc-cong-nghiep-quoc-phong-trong-tinh-hinh-moi/