Ho Chi Minh’s ideology on socialist construction and orientations for application in building contemporary socialist commune and ward models
Phạm Đăng Khánh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về mục tiêu, động lực, lực lượng và phương thức phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đổi mới mô hình quản trị địa phương và xây dựng chính quyền cơ sở hiện nay, việc nghiên cứu, vận dụng những tư tưởng đó vào xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ nghĩa xã hội; mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa; chính quyền cơ sở.
Abstract: Ho Chi Minh’s ideology on socialist construction is a comprehensive and profound system of viewpoints regarding the objectives, drivers, forces, and methods of national development during the transitional period to socialism. In the context of innovating local governance models and building grassroots governments today, researching and applying these perspectives in the development of socialist commune and ward models carries paramount theoretical and practical significance.
Keywords: Ho Chi Minh’s Ideology; socialism; socialist commune and ward models; grassroots government.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, đồng thời là quá trình cải biến toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội nhằm hiện thực hóa khát vọng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng của Hồ Chí Minh khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Tư tưởng đó vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
Hiện nay, cùng với việc đẩy mạnh sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và triển khai các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, yêu cầu nghiên cứu, xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa là cẩn thiết. Với vị trí là cấp chính quyền gần dân, sát dân, cấp xã vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa là môi trường thực thi để hiện thực hóa các giá trị của chủ nghĩa xã hội trong đời sống hằng ngày của Nhân dân. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội và định hướng vận dụng vào xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện mô hình này trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
2.1. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội là khẳng định vai trò quyết định của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân, do Nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng và thụ hưởng thành quả. Chính Nhân dân là lực lượng sáng tạo ra lịch sử, là nguồn sức mạnh to lớn bảo đảm cho thắng lợi của công cuộc xây dựng xã hội mới. Trong bài viết “Dân vận” (1949), Người đã khẳng định quyền lực tối thượng và năng lực sáng tạo của quần chúng: “Nước ta là nước dân chủ/Bao nhiêu lợi ích đều vì dân/Bao nhiêu quyền hạn đều của dân/Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân/Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”1. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ rằng, sức mạnh của Nhân dân chỉ có thể được phát huy đầy đủ khi có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản. Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội, giữ vai trò định hướng, dẫn dắt, tổ chức, động viên và tập hợp các tầng lớp Nhân dân thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người nhấn mạnh: “Bây giờ chúng ta đang làm nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội… Đảng phải lãnh đạo nhân dân làm việc đó, như thế Đảng ta phải rất mạnh, phải phát triển không ngừng, nhưng phải nhiều về số lượng đồng thời phải có chất lượng tốt mới làm tròn được nhiệm vụ lãnh đạo”2. Quan điểm đó cho thấy, muốn lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, Người nghiêm khắc nhắc nhở các cấp ủy phải tôn trọng, phát huy vai trò của cơ quan hành chính nhà nước, phê phán khuynh hướng Đảng bao biện, “ôm đồm” làm thay chính quyền: “…các cấp ủy thường coi nhẹ vai trò chính quyền, việc gì cũng bí thư, cũng Đảng ôm đồm làm cả, làm cho chủ tịch ủy ban hành chính trở nên kém tác dụng. Như thế là không đúng, không đúng tức là khuyết điểm cần phải sửa chữa”3.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân là mối quan hệ thống nhất, gắn bó mật thiết. Đảng lãnh đạo nhưng đồng thời phải tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân; Nhân dân là chủ thể của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cần có Đảng định hướng, tổ chức. Giải thích về cơ chế vận hành này, Người yêu cầu vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ: “Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung… số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”4. Sự kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với quyền làm chủ của Nhân dân tạo thành nguyên tắc cơ bản, bảo đảm cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đi đúng mục tiêu, lý tưởng và phát huy được sức mạnh của toàn xã hội.
Tư tưởng của Hồ CHí Minh về tập trung dân chủ có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay. Việc xây dựng mô hình này phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng ở cơ sở, đồng thời phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân trong tham gia, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của chính quyền và xây dựng đời sống cộng đồng. Theo Người: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”5. Như vậy, để quản trị quốc gia tốt, phải chú trọng nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống hành chính cơ sở. Đây là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa các giá trị của chủ nghĩa xã hội ngay từ cơ sở, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
2.2. Xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân
Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội không chỉ là thay đổi về hình thức tổ chức xã hội, mà còn không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần giải thích một cách dễ hiểu: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”6. Người khẳng định, xây dựng chủ nghĩa xã hội suy cho cùng là nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho mọi người dân được hưởng những thành quả của sự phát triển. Bản chất nhân văn ấy là cốt lõi của xã hội mới, hướng tới: “tạo nên một thế giới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”7. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách và hoạt động xây dựng chủ nghĩa xã hội đều phải lấy con người làm trung tâm, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nâng cao đời sống Nhân dân phải không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…”8. Quan điểm này thể hiện định hướng sâu sắc của Người về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi kinh tế phát triển, sản xuất được mở rộng, năng suất lao động không ngừng tăng lên thì mới có điều kiện nâng cao đời sống vật chất, thực hiện công bằng xã hội và đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của Nhân dân. Trên cơ sở phát triển sản xuất, Người chỉ rõ nguyên tắc kinh tế và phân phối công bằng: “…lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, vv làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, làm ít thì ăn ít, không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”9.
Ngoài phương diện vật chất, Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng việc nâng cao đời sống tinh thần, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện. Theo Người, chủ nghĩa xã hội phải hướng tới xây dựng một xã hội tiến bộ toàn diện: “…làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”10. Con người trong xã hội ấy vừa được thụ hưởng lợi ích, vừa phải gánh vác trách nhiệm quốc gia: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”11.
Tư tưởng và quan điểm chỉ đạo của Hồ Chủ Tịch về nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay. Việc xây dựng mô hình này không thể chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế hay hoàn thiện tổ chức bộ máy ở cơ sở, mà phải hướng tới mục tiêu toàn diện là nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Người căn dặn trong công việc, cần được triển khai từng bước để đạt mục tiêu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ, Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước”12. Như vậy, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa cần đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và sự hài lòng của mọi tầng lớp Nhân dân.
2.3. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình xây dựng con người mới và phát triển toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng mọi chủ trương, đường lối, chính sách dù đúng đắn đến đâu cũng phải được thực hiện thông qua con người; ngược lại, nếu con người không được giác ngộ, giáo dục và rèn luyện thì không thể xây dựng thành công xã hội mới. Bởi lẽ, “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”13. Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế và cải tạo các quan hệ xã hội cũ, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là bồi dưỡng những con người có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức cách mạng, tinh thần làm chủ, ý thức tập thể và năng lực lao động sáng tạo.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”14. Đây là một trong những luận điểm thể hiện sâu sắc tư duy của Người về vai trò quyết định của nhân tố con người đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Theo Người, con người xã hội chủ nghĩa không phải tự nhiên mà có, mà phải được hình thành thông qua giáo dục, rèn luyện, lao động, thực tiễn cách mạng và sự tác động của môi trường xã hội tiến bộ. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với việc nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, xây dựng đạo đức mới, lối sống mới và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình cải biến toàn diện xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết, phải phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước cải thiện đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, Người không xem phát triển kinh tế là mục tiêu tự thân mà luôn đặt trong mối quan hệ thống nhất với phát triển văn hóa, xã hội và con người. Theo Người, sự phát triển chỉ thực sự mang ý nghĩa xã hội chủ nghĩa khi phục vụ con người, vì con người và hướng tới sự phát triển toàn diện của con người.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi, phải góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức và lối sống của con người mới. Xây dựng chủ nghĩa xã hội vì thế không chỉ là xây dựng những công trình vật chất mà còn là xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, phát triển giáo dục, khoa học, y tế, bảo đảm an sinh xã hội và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Hồ Chí Minh xác định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là: “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta có một nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, có một nền văn hóa và khoa học tiên tiến”15. Luận điểm này cho thấy tư duy toàn diện của Người về xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và con người luôn gắn bó hữu cơ với nhau, cùng hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện đất nước và nâng cao đời sống Nhân dân. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người tiếp tục để lại lời căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”16.
Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa phải hướng tới xây dựng và phát triển con người toàn diện, gắn với môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao dân trí, phát huy tinh thần làm chủ và từng bước hiện thực hóa các giá trị của chủ nghĩa xã hội trong đời sống hằng ngày của Nhân dân ở cơ sở.
2.4. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hành dân chủ và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từng bước vững chắc, phù hợp với thực tiễn
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, bền bỉ và không thể thực hiện bằng ý chí chủ quan. Thành công của sự nghiệp đó phụ thuộc trước hết vào việc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, thực hành dân chủ rộng rãi và lựa chọn bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Đây là những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng, thể hiện tư duy khoa học, biện chứng và sáng tạo của Hồ Chí Minh trong lãnh đạo công cuộc xây dựng xã hội mới.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”17. Để đạt được mục tiêu ấy, cách mạng phải được tiến hành triệt để, đem lại quyền lợi thực sự cho số đông chứ không thể nửa vời như các cuộc cách mạng tư sản trước đó, Người khẳng định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”18.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là công việc riêng của Đảng hay của bộ máy nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân. Mọi tầng lớp Nhân dân, mọi tổ chức trong hệ thống chính trị đều phải được tập hợp, đồng viên và phát huy vai trò trong quá trình xây dựng xã hội mới. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”19. Tư tưởng đó không chỉ nhấn mạnh vai trò của đoàn kết trong Đảng mà còn khẳng định yêu cầu phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn xã hội như một điều kiện bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cùng với đại đoàn kết, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới. Nhân dân phải thực sự được biết, được bàn, được tham gia quản lý và kiểm tra các công việc của Nhà nước và xã hội. Khi quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm thì sức sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và sự đồng thuận xã hội sẽ được phát huy mạnh mẽ. Chính vì vậy, Người nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải dựa vào dân, tin dân, tôn trọng dân và phát huy quyền làm chủ của dân trong mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cách mạng.
Một nội dung đặc sắc khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và tiến hành từng bước vững chắc. Người nhiều lần phê phán tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, cồng kềnh về tổ chức bộ máy gây lãng phí nguồn lực của nhân dân. Người thẳng thắn chỉ rõ: “Từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí”20, từ đó yêu cầu phải “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”21. Về lộ trình thực hiện, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần”22. Theo Người, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, năng lực của cán bộ, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu thực tiễn của Nhân dân để xác định bước đi, biện pháp và cách làm phù hợp.
Những quan điểm trên có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhìn lại lịch sử, Người từng nghiêm khắc phê bình thực trạng chính quyền cơ sở ở một số giai đoạn: “…phần nhiều cấp xã là uể oải, thiếu năng lực, kém tinh thần” hay “Cấp xã nhiều nơi còn xộc xệch lắm”23. Do đó, việc xây dựng mô hình hiện nay cần dựa trên sự đồng thuận xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và lựa chọn lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Chỉ trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể với sự tham gia tích cực của Nhân dân mới có thể từng bước hình thành và phát triển thành công mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn.
3. Định hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay
Thứ nhất, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa thực sự là không gian phát triển của Nhân dân.
Vận dụng sâu sắc quan điểm chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay phải lấy việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thực chất của Nhân dân làm hạt nhân cốt lõi trong mọi hoạt động quản lý hành chính địa phương. Cụ thể, cần triển khai nghiêm túc thể chế dân chủ, theo đó, cấp ủy và chính quyền cơ sở cần triển khai nghiêm túc, thực chất Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, chuyển hóa các phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành các quy trình hành chính bắt buộc. Minh bạch hóa thông tin hành chính, theo đó, mọi quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, các dự án hạ tầng, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, cũng như việc quản lý và sử dụng các nguồn lực đóng góp công cộng đều phải được công khai minh bạch bằng nhiều hình thức như qua hệ thống truyền thanh, bảng tin, và các nền tảng số của địa phương. Bên cạnh đó, cần đổi mới cơ chế đối thoại và tiếp thu ý kiến của Nhân dân, theo đó cần tổ chức tốt các hội nghị đối thoại định kỳ giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân nhằm lắng nghe, tiếp thu và giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng của người dân ngay từ cơ sở. Đồng thời, cần đa dạng hóa các kênh tiếp nhận phản hồi, đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Xã, phường xã hội chủ nghĩa phải thực sự là nơi mà người dân cảm nhận được quyền làm chủ, sự an toàn và là trung tâm của mọi chính sách phát triển.
Thứ hai, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.
Gắn liền với tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của tổ chức đảng cơ sở và sức mạnh đoàn kết toàn dân, hệ thống chính trị xã, phường xã hội chủ nghĩa phải được tổ chức theo hướng tinh gọn, hiện đại, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo hàng đầu. Cụ thể, cần nâng cao năng lực hạt nhân của tổ chức Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng bộ, chi bộ cơ sở, bảo đảm hạt nhân lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay chính quyền. Đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ gắn với thực tiễn giải quyết các bài toán phát triển của địa phương như quản lý đất đai, trật tự đô thị, xây dựng nông thôn mới nâng cao và chuyển đổi số…Bên cạnh đó, cần kiện toàn và chuẩn hóa bộ máy chính quyền, trong đó, chính quyền cấp xã cần đẩy mạnh cải cách hành chính công, kiện toàn bộ máy theo hướng tinh gọn, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí việc làm nhằm loại bỏ sự chồng chéo và nâng cao trách nhiệm cá nhân. Tập trung xây dựng mô hình “Chính quyền thân thiện, vì Nhân dân phục vụ” gắn với việc chuẩn hóa đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở theo tinh thần “chí công vô tư” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tiến hành chuyển đổi số quản trị công ở cơ sở, theo đó, triển khai đồng bộ việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng kiến trúc chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số ở cấp xã nhằm tối ưu hóa quy trình xử lý văn bản, hồ sơ công việc, cắt giảm thời gian và chi phí thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp.
Thứ ba, xây dựng con người mới, cộng đồng dân cư văn minh và môi trường văn hóa lành mạnh làm nền tảng tinh thần của xã, phường xã hội chủ nghĩa.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay phải đặt nhiệm vụ phát triển con người và môi trường văn hóa ở vị trí trung tâm, coi đây là động lực tinh thần quyết định sự phát triển bền vững. Trước hết, cần bồi dưỡng đạo đức và lối sống mới cho con người mới xã hội chủ nghĩa, như các giá trị đạo đức công dân, tinh thần thượng tôn pháp luật, ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội thông qua việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nâng cao chất lượng các phong trào văn hóa, theo đó, chính quyền cơ sở cần phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị – xã hội để nâng cao chất lượng thực chất của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nông thôn mới”, “đô thị văn minh”. Chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương, đồng thời kiên quyết bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.
Bên cạnh đó, hoàn thiện thiết chế và dịch vụ công cơ bản tại chính quyền cơ sở. Cần đầu tư hoàn thiện các thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở, như: nhà văn hóa thôn, tổ dân phố, thư viện, sân chơi thể thao nhằm tạo không gian sinh hoạt tinh thần lành mạnh cho người dân; cần nâng cao chất lượng giáo dục, y tế cơ sở, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ cơ bản một cách công bằng, văn minh, từ đó, từng bước hình thành lối sống lành mạnh, nghĩa tình và văn minh trong mỗi cộng đồng dân cư.
Thứ tư, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững gắn với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.
Vận dụng quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm mục tiêu nâng cao đời sống Nhân dân, cấp xã, phường phải chủ động khai thác tối đa nguồn lực nội sinh kết hợp thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế địa phương bền vững. Theo đó, cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đặc thù địa bàn. Đối với các xã nông nghiệp, cần đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, phát triển các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới, liên kết chuỗi giá trị và chú trọng nâng cao chất lượng các sản phẩm địa phương (OCOP). Đối với các phường đô thị, cần tập trung tạo điều kiện thuận lợi phát triển thương mại, dịch vụ, kinh tế số và hỗ trợ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể đổi mới sáng tạo.
Thúc đẩy chiến lược chuyển đổi số toàn diện tại địa phương, theo đó, huy động nguồn lực phát triển chiến lược chuyển đổi số toàn diện (xây dựng xã số, phường số) trên cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến.
Gắn tăng trưởng với an sinh xã hội, theo đó, tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững. Mọi thành quả phát triển kinh tế phải được chuyển hóa thành các chính sách an sinh xã hội cụ thể, chăm lo cho các đối tượng yếu thế, gia đình chính sách, liên tục nâng cao thu nhập và chỉ số hạnh phúc của người dân, bảo đảm tính ưu việt của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội là hệ thống lý luận khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và công cuộc hoàn thiện mô hình quản trị cấp cơ sở nói riêng. Việc định hướng vận dụng tư tưởng của Người vào xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay là một tất yếu khách quan nhằm hiện thực hóa các mục tiêu lý tưởng của Đảng ngay tại cấp chính quyền sát dân nhất.
Sự thành công của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, năng lực quản lý hiệu năng của chính quyền với vai trò chủ thể làm chủ thực chất của Nhân dân. Khi hệ thống chính trị cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, biết ứng dụng công nghệ hiện đại và lấy sự phục vụ Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, đồng thời phát huy được khối đại đoàn kết và khát vọng sáng tạo của quần chúng, cấp xã, phường sẽ trở thành những pháo đài vững chắc góp phần đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 232.
2, 13, 17. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 116, 610, 600 – 601.
3, 6, 10, 14, 15, 20. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 75, 30, 438, 66, 65 – 66, 314.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 263.
5, 12, 23. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 460, 81, 460.
7, 8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 70, 412.
9, 22. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 390, 390.
11. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 258.
16, 19. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 612, 611.
18. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 292.
21. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 164.
Tài liệu tham khảo:
1. Hội thảo khoa học “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/22/hoi-thao-khoa-hoc-xay-dung-xa-phuong-xa-hoi-chu-nghia-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-nhung-van-de-ly-luan-va-thuc-tien/.
2. Tăng cường phối hợp truyền thông trong xây dựng phường xã hội chủ nghĩa ở Lào Cai. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/03/tang-cuong-phoi-hop-truyen-thong-trong-xay-dung-phuong-xa-hoi-chu-nghia-o-lao-cai/.



