Tư duy “tự chủ chiến lược” về quốc phòng trong kỷ nguyên phát triển mới

Strategic autonomy thinking in national defense in the new development era

Hoàng Đình Quang
Trường Sĩ quan Đặc công

(Quanlynhanuoc.vn) – “Tự chủ chiến lược” về quốc phòng là nội dung mới được đưa vào trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Đây là vấn đề lớn, có tính đột phá về tư duy lý luận và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong kỷ nguyên mới. Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm, thực chất nội hàm, nội dung trong tư duy tự chủ chiến lược về quốc phòng trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hiện thực hóa tư duy này trong xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Tư duy mới; Đại hội XIV; kỷ nguyên mới; quốc phòng; tự chủ chiến lược.

Abstract: “Strategic Autonomy” in national defense is a new concept introduced in the XIV Congress of the Party’s documents. This is a major issue, representing a breakthrough in the ideological thinking and strategic vision of our Party in the new era. The article analyzes and clarifies the concept, the essence of its content, and the ideas behind strategic autonomy in national defense in the new era. Based on this, it proposes solutions to realize this thinking in building and firmly defending the Socialist Republic of Vietnam.

Keywords: 14th National Congress; New era; National defense; Strategic autonomy.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng, tình hình an ninh khu vực và trên thế giới biến động khó lường đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đất nước ta đang đứng trước những vận hội lớn để phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tiềm lực và khẳng định vị thế quốc gia trong một thế giới nhiều biến động. Đây là thời điểm lịch sử khi khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng đang hội tụ đủ điều kiện để trở thành hiện thực. Bối cảnh mới với vận hội và thách thức đan xen đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, xác định tầm nhìn chiến lược, trong đó, tự chủ chiến lược về quốc phòng giữa vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp tạo nền tảng vững chắc bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới; đây cũng là điều kiện tiên quyết để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

2. Khái niệm “tự chủ chiến lược” về quốc phòng

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong lĩnh vực quốc phòng, tự chủ chiến lược giúp đất nước giữ vững quyền tự quyết, không bị cuốn vào vòng xoáy đối đầu, liên minh quân sự hay phụ thuộc vào khoa học, công nghệ và các học thuyết quân sự của nước khác.

Như vậy, “tự chủ chiến lược” về quốc phòng được hiểu là khả năng của quốc gia trong việc chủ động nhận diện, dự báo, hoạch định và tổ chức triển khai các chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Điểm mới trong tư duy của Đại hội XIV là nâng vấn đề “độc lập, tự chủ” trong quốc phòng từ tư duy phòng thủ truyền thống lên tư duy quản trị chiến lược tổng thể. Theo đó, “tự chủ chiến lược” không chỉ là khả năng tự bảo vệ, mà còn là năng lực chủ động định hình môi trường an ninh, chủ động phòng ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, xử lý hiệu quả thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.

“Tự chủ chiến lược” về quốc phòng được thể hiện ở khả năng phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó nội lực giữ vai trò quyết định; kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, của tiềm lực chính trị tinh thần, giữa quốc phòng với kinh tế, khoa học – công nghệ, đối ngoại và an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong điều kiện mới.

3. Thực chất nội hàm “tự chủ chiến lược” về quốc phòng

Một là, giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi tình huống

Đây là nội dung cốt lõi của “tự chủ chiến lược” trong quốc phòng. Theo đó, quốc gia phải luôn chủ động nghiên cứu, dự báo, nhận diện sớm các nguy cơ, thách thức; từ đó xây dựng phương án phòng ngừa và xử lý hiệu quả ngay từ đầu, từ sớm, từ xa. Tinh thần này được Văn kiện Đại hội XIV và Văn kiện Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII nhấn mạnh thông qua yêu cầu “kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Vì vậy, “tự chủ chiến lược” không chỉ là phản ứng trước nguy cơ, mà là năng lực chủ động kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và kiểm soát hiệu quả các nhân tố có thể gây mất ổn định đối với quốc phòng, an ninh quốc gia.

Hai là, bảo đảm tính toàn diện và liên ngành trong bảo vệ Tổ quốc

“Tự chủ chiến lược” trong quốc phòng không chỉ giới hạn ở xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, mà bao gồm các yếu tố cấu thành sức mạnh quốc gia như kinh tế, chính trị, khoa học – công nghệ, đối ngoại, văn hóa, xã hội và con người. Trong điều kiện hiện nay, các thách thức an ninh ngày càng mang tính tổng hợp, xuyên quốc gia và phi truyền thống; do đó, quốc phòng không thể tách rời khỏi các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; giữa xây dựng tiềm lực quốc phòng với xây dựng “thế trận lòng dân”; giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh mạng và an ninh con người.

Ba là, gắn chặt với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân

“Tự chủ chiến lược” trong quốc phòng của Việt Nam mang bản chất quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và an ninh nhân dân. Theo đó, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ nằm ở lực lượng vũ trang, mà còn ở sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân. Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội; phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, lấy nội lực quốc gia làm nền tảng quyết định

“Tự chủ chiến lược” trong lĩnh vực quốc phòng phải được xây dựng trên cơ sở phát huy sức mạnh nội sinh của đất nước, bao gồm tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ, công nghiệp quốc phòng, nguồn nhân lực chất lượng cao và sức mạnh chính trị – tinh thần của toàn dân tộc; đồng thời quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng “tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”, tập trung nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao, chủ động làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự bảo đảm cho Quân đội, qua đó củng cố năng lực tự chủ chiến lược và nâng cao khả năng thích ứng, xử lý hiệu quả các tình huống.

4. Đặc trưng cơ bản của “tự chủ chiến lược”

Thứ nhất, đưa “tự chủ chiến lược” trở thành nội dung trung tâm, giữ vị trí tiên phong trong phương châm hành động.

Đây là điểm mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh tầm nhìn chiến lược mới của Đảng đối với con đường phát triển đất nước trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo; theo đó, yêu cầu giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia không chỉ dừng lại ở cách tiếp cận truyền thống về “độc lập, tự chủ”, mà phải được nâng lên thành năng lực chủ động định hình chiến lược phát triển, kiểm soát hiệu quả các mối quan hệ đối ngoại, ứng phó linh hoạt với biến động của môi trường quốc tế và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời khẳng định “tự chủ chiến lược” chính là sự phát triển ở trình độ cao hơn của tư duy “độc lập, tự chủ”, gắn liền với yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, hoạch định và điều hành chiến lược quốc gia, đòi hỏi hệ thống chính trị phải có tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới, khả năng phân tích, đánh giá chính xác tình hình để đề ra các quyết sách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả trong mọi hoàn cảnh.

Thứ hai, gắn tự chủ chiến lược với việc giữ vững thế chủ động chiến lược trên tất cả các lĩnh vực.

Đây là điểm phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện việc mở rộng nội hàm “tự chủ chiến lược” từ lĩnh vực quốc phòng, an ninh sang toàn bộ các lĩnh vực trọng yếu của đời sống quốc gia; theo đó, trong kinh tế là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự cường, nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, thị trường và chuỗi cung ứng; trong chính trị là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước; trong quốc phòng, an ninh là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, chủ động phòng ngừa, xử lý các nguy cơ từ sớm, từ xa; trong đối ngoại là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; còn trong văn hóa – xã hội là giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và nâng cao đời sống Nhân dân, qua đó giữ vững thế chủ động chiến lược và bảo đảm phát triển bền vững đất nước.

Thứ ba, đặt tự chủ chiến lược trong mối quan hệ biện chứng với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đây là điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong tư duy của Đảng, khẳng định tự chủ và hội nhập không phải là hai xu hướng đối lập mà là hai mặt thống nhất, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển đất nước; theo đó, trong điều kiện toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, hội nhập quốc tế sâu rộng là yêu cầu tất yếu để phát triển nhanh và bền vững, nhưng phải được thực hiện trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời xác định “tự chủ chiến lược” là điều kiện tiên quyết để hội nhập hiệu quả, giúp đất nước tham gia hội nhập một cách chủ động, tự tin, không bị lệ thuộc hay chi phối từ bên ngoài, qua đó thể hiện bước chuyển trong tư duy từ “mở cửa, hội nhập” sang “hội nhập chủ động, tích cực, có chọn lọc và có kiểm soát” phù hợp với điều kiện và lợi ích chiến lược của quốc gia.

Thứ tư, nhấn mạnh vai trò trung tâm, quyết định của nội lực quốc gia.

Đây là nội dung xuyên suốt trong tư duy của Đảng về xây dựng “tự chủ chiến lược”, khẳng định nội lực quốc gia là yếu tố giữ vai trò quyết định và nền tảng lâu dài cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; theo đó, nội lực được cấu thành bởi nền kinh tế độc lập, tự cường, năng lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, sự vững mạnh của hệ thống chính trị và năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước; đồng thời xác định việc phát huy sức mạnh nội sinh, nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ, tài chính, thị trường và quản trị quốc gia là điều kiện quyết định để củng cố “tự chủ chiến lược”, trong khi ngoại lực là nguồn lực quan trọng cần được chủ động tranh thủ và sử dụng hiệu quả nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát, bảo đảm không dẫn đến phụ thuộc hay làm suy giảm năng lực tự chủ của đất nước.

Thứ năm, chuyển từ tư duy bảo vệ an ninh truyền thống sang quản trị an ninh quốc gia hiện đại.

Đây là điểm mới quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng, phản ánh sự đổi mới toàn diện trong nhận thức và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện các thách thức an ninh ngày càng đa dạng, phức tạp và khó dự báo; theo đó, thay vì chủ yếu tập trung xử lý các nguy cơ khi đã phát sinh như cách tiếp cận an ninh truyền thống, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu chủ động nghiên cứu, dự báo, nhận diện sớm các nguy cơ tiềm ẩn để xây dựng phương án phòng ngừa hiệu quả ngay từ đầu, chuyển mạnh từ tư duy “phản ứng” sang tư duy “chủ động kiến tạo an ninh”, lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và xử lý, nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

5. Nội dung “tự chủ chiến lược” về quốc phòng

Một là, “tự chủ chiến lược” là tự chủ trong việc xác định chủ thể lãnh đạo và quản lý về quốc phòng, theo đó Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là yếu tố quyết định đến xây dựng bản chất, lập trường giai cấp công nhân và mục tiêu chiến đấu cho quân đội; quyết định sự trưởng thành, chiến đấu và thắng lợi của quân đội. Do vậy, trong mọi tình huống, phải kiên quyết giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, gắn với bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ Nhân dân.

Hai là, “tự chủ chiến lược” về chính sách quốc phòng. Đảng ta nhất quán chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ với mục tiêu giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, kiên định chính sách quốc phòng 4 không: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống lại nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Việc xác định chính sách quốc phòng bốn không cũng chính là biểu hiện của tự chủ chiến lược, là cách thức tổ chức kết hợp giữa phòng thủ và răn đe, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thế và lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Ba là, “tự chủ chiến lược” về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.  Theo đó xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng hiện đại, chủ động tiếp cận và làm chủ công nghệ lõi, vũ khí và trang bị hiện đại; đồng thời, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế và đối ngoại.

Bốn là, “tự chủ chiến lược” trong đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đây là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại với 3 trụ cột chính: Đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Bước vào kỷ nguyên với cần chủ động, tích cực hơn nữa trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trên cơ sở giữ vững nguyên tắc và lợi ích quốc gia – dân tộc. Việc tham gia hợp tác các thỏa thuận song phương và đa phương đã cho thấy năng lực tự chủ trong việc lựa chọn các đối tác tham gia định hình các quy tác, cơ chế và sáng kiến quốc phòng trong khu vực và trên thế giới góp phần trong việc xây dựng hòa bình, ổn định và phát triển.

6. Ý nghĩa của “tự chủ chiến lược” về quốc phòng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Thứ nhất, “tự chủ chiến lược” là cơ sở để nâng cao năng lực nhận diện, dự báo, hoạch định và tổ chức triển khai các chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Thứ hai, “tự chủ chiến lược” tạo môi trường hòa bình, ổn định, phát triển. Xuất phát từ mối quan hệ quốc phòng với kinh tế, văn hóa – xã hội; tự chủ chiến lược quốc phòng sẽ góp phần bảo vệ thành quả phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội và ngược lại, kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển sẽ góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược về quốc phòng.

Thứ ba, “tự chủ chiến lược” về quốc phòng góp phần chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa. Trước bối cảnh diễn biến phức tạp, khó lường trong khu vực và trên thế giới, những thách thức an ninh phi truyền thống và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo trong sản xuất các loại vũ khí tiên tiến. Xây dựng “tự chủ chiến lược” chính là quá trình chủ động ứng phó trước những nguy cơ chiến tranh góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Qua đó, khẳng định năng lực tự bảo vệ mình từ sớm, từ xa, khẳng định uy tín, trách nhiệm và tầm ảnh hưởng để tham gia giữ gìn hòa bình, an ninh khu vực.

7. Một số giải pháp hiện thực hóa tư duy “tự chủ chiến lược” về  quốc phòng trong kỷ nguyên mới.

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng, an ninh.

Đây là giải pháp nền tảng, xuyên suốt trong xây dựng “tự chủ chiến lược” của Việt Nam, đòi hỏi phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; đồng thời không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong toàn quân, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, vững vàng trước mọi tác động của tình hình quốc tế và trong nước.

Hai là, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đây là nội dung trọng tâm trong xây dựng “tự chủ chiến lược” về quốc phòng, an ninh, đòi hỏi phải tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; ưu tiên hiện đại hóa một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đồng thời nâng cao năng lực tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tình hình mới, tăng cường năng lực phòng thủ không gian mạng, tác chiến điện tử và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các lĩnh vực chiến lược mới nổi, bảo đảm Quân đội luôn chủ động nghiên cứu, dự báo chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, phát huy mạnh mẽ nội lực quốc gia, xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, hiện đại.

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng trong xây dựng “tự chủ chiến lược”, đòi hỏi phải tiếp tục phát huy cao nhất sức mạnh nội sinh của đất nước; xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh cả về chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, quân sự, an ninh và đối ngoại; tập trung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, dữ liệu, năng lượng, hạ tầng chiến lược và chuỗi cung ứng quốc gia; đồng thời chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị – tinh thần, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận phòng thủ chiến lược vững chắc trong tình hình mới.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghiệp quốc phòng hiện đại.

Đây là giải pháp chiến lược trong xây dựng “tự chủ chiến lược” của quốc gia, đòi hỏi phải chủ động nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến; nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; phát triển công nghệ và công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, cải tiến và hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật; từng bước làm chủ công nghệ lõi, đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn quân, hiện đại hóa công tác chỉ huy, quản lý, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tăng cường năng lực bảo vệ an ninh mạng, qua đó góp phần chuyển mạnh từ tư duy “bảo đảm kỹ thuật” sang “làm chủ công nghệ quốc phòng”, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ chiến lược của đất nước.

Năm là, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược và quản trị an ninh quốc gia hiện đại.

Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm “tự chủ chiến lược” trong điều kiện tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy chiến lược; tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; nâng cao chất lượng phân tích, đánh giá và dự báo tình hình; xây dựng cơ chế quản trị an ninh quốc gia hiện đại, nâng cao khả năng phối hợp liên ngành và chủ động xây dựng các phương án ứng phó với các tình huống quốc phòng, an ninh truyền thống và phi truyền thống; chuyển mạnh từ tư duy “xử lý nguy cơ” sang “quản trị nguy cơ”, từ “ứng phó bị động” sang “phòng ngừa chủ động”, xác định quốc phòng, an ninh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và mọi công dân; đồng thời, quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chủ động nghiên cứu, dự báo chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống nhằm giữ vững thế chủ động chiến lược của đất nước.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh.

Đây là định hướng quan trọng nhằm bảo đảm “tự chủ chiến lược” trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đòi hỏi phải tiếp tục triển khai nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời mở rộng và nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng, tăng cường hợp tác quốc phòng song phương, đa phương, chủ động tham gia các cơ chế an ninh khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam; kiên trì thực hiện đường lối quốc phòng “bốn không”, qua đó, khẳng định bản chất hòa bình, tự vệ của nền quốc phòng Việt Nam cũng như bản lĩnh, sự độc lập và năng lực “tự chủ chiến lược” của đất nước trong xử lý các vấn đề quốc tế hiện nay.

Bảy là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc.

Đây là vấn đề có ý nghĩa nền tảng, lâu dài trong xây dựng “tự chủ chiến lược” của Việt Nam, đòi hỏi phải tiếp tục củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội và phát triển bền vững; đồng thời tăng cường công tác dân vận, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; phát huy vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân, đẩy mạnh tham gia phát triển kinh tế – xã hội, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an sinh xã hội.

8. Kết luận

“Tự chủ chiến lược” trong lĩnh vực quốc phòng là nền tảng quan trọng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Đây không chỉ là bước phát triển mới trong tư duy lý luận và thực tiến lãnh đạo của Đảng mà còn là cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, đối ngoại, khoa học – công nghệ và sức mạnh “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Ngoại giao (2024). Đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIVTập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Hội đồng Lý luận Trung ương (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024). Những vấn đề mới trong quản trị quốc gia và phát triển bền vững ở Việt Nam. H. NXB Lý luận chính trị.
6. Nguyễn Viết Thảo (chủ biên) (2022). Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Nguyễn Phú Trọng (2023). Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.