The relationship between economics and defense and the military’s involvement in poverty alleviation in Vietnam today
Nguyễn Viết Anh Tuấn
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Nguyễn Quang Duyệt
Học viện Lục quân, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Quân đội nhân dân Việt Nam, tham gia xóa đói, giảm nghèo là biểu hiện sinh động của bản chất cách mạng, chức năng là “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất” và mối quan hệ mật thiết với Nhân dân. Bài viết luận giải cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chức năng xã hội của quân đội cách mạng, mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Quân đội; kinh tế với quốc phòng; xóa đói; giảm nghèo; Việt Nam.
Abstract: The participation of the Vietnam People’s Army in hunger eradication and poverty reduction is a vivid manifestation of its revolutionary nature, its functions as a “working army” and a “labor-production army” as well as its close relationship with the people. This article analyzes the theoretical foundations of Marxism – Leninism, Ho Chi Minh thought and the viewpoints of the Communist Party of Vietnam on the social functions of a revolutionary army, the relationship between the economy and national defense, national defense and the economy, and the participation of the Vietnam People’s Army in hunger eradication and poverty reduction in Vietnam today.
Keywords: Military; economy and national defense; hunger eradication; poverty reduction; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử tư tưởng quân sự hiện đại, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những mô hình đặc sắc trên thế giới: vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, vừa là đội quân lao động sản xuất. Ba chức năng ấy không phải sự cộng thêm cơ học, mà là kết quả của một quá trình cách mạng đặc thù, Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mà chiến đấu. Do đó, nhiệm vụ của Quân đội từ chiến đấu, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đến công tác dân vận, lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo đều tập trung vào mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo là sự cụ thể hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về Quân đội cách mạng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, nhằm xây dựng “thế trận lòng dân” ngay từ cơ sở.
2. Mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định quân đội ra đời, tồn tại, phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, gắn với nhà nước, giai cấp và chế độ chính trị sinh ra nó. C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, giữa quân đội và kinh tế: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông”1; “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”2. Quan điểm này chỉ rõ quân đội không thay thế nền kinh tế dân sự, nhưng với tổ chức chặt chẽ, kỷ luật cao, năng lực kỹ thuật, khả năng cơ động và sức chịu đựng gian khổ, quân đội có thể tham gia mở đường, khai phá địa bàn, xây dựng hạ tầng, bảo vệ sản xuất, ổn định xã hội, nhất là ở những không gian mà thị trường chưa đủ động lực hoặc không muốn đầu tư. Đối với Việt Nam thể hiện rõ ở mô hình khu kinh tế – quốc phòng, đoàn kinh tế – quốc phòng, công trình lưỡng dụng, quân dân y kết hợp, hỗ trợ ngư dân bám biển, giúp đồng bào vùng biên phát triển sinh kế. Ở đó, Quân đội không hoạt động vì lợi nhuận thuần túy, mà vì lợi ích tổng hợp: dân sinh, kinh tế, chính trị, quốc phòng – an ninh.
V.I. Lênin đã phát triển quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong điều kiện xây dựng nhà nước Xô viết sau nội chiến. Khi nước Nga Xô viết đứng trước nhiệm vụ khôi phục kinh tế, Lênin chủ trương sử dụng một bộ phận Hồng quân vào các “đội quân lao động”. Theo Người:“Phải chuyển sang dùng biện pháp quân sự để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế”3, “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động…”4. Như vậy, trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cần phát huy lực lượng quân đội không chỉ trong bảo vệ chính quyền cách mạng mà còn trong xây dựng kinh tế, khôi phục sản xuất và ổn định đời sống xã hội. Quan điểm đó thể hiện tư duy biện chứng về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, đồng thời khẳng định vai trò của quân đội cách mạng trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển đất nước.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng một hệ thống tư tưởng đặc sắc về quân đội cách mạng và chăm lo đời sống Nhân dân. Người không tách độc lập dân tộc khỏi hạnh phúc của con người. Với Hồ Chí Minh, mục tiêu cuối cùng của cách mạng không phải chỉ là giành chính quyền, mà là làm cho Nhân dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống tự do, hạnh phúc. Người chỉ rõ: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm”5; đồng thời khẳng định chủ nghĩa xã hội là làm cho “dân giàu, nước mạnh”, mọi người được “ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”. Người không dừng ở cứu trợ trước mắt mà nhấn mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Người căn dặn: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi”6, nhưng đồng thời yêu cầu Nhân dân phải tự lực cánh sinh, phát huy nội lực để vươn lên. Đây chính là tinh thần hiện đại của xóa đói, giảm nghèo bền vững: hỗ trợ không thay thế nỗ lực của người nghèo; Nhà nước và Quân đội không làm thay người dân, mà tạo điều kiện, mở đường, tổ chức, hướng dẫn, khơi dậy ý chí và năng lực tự phát triển của nhân dân. Đối với Quân đội, Người nhấn mạnh mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn “gần dân, học dân, nghe theo dân”7, các đơn vị quân đội đóng quân, làm nhiệm vụ trên các địa bàn phải tích cực giúp đỡ chính quyền và nhân dân địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; “cán bộ cũng như chiến sĩ, đều phải:… thương dân, trọng dân và tốt với dân”8, luôn là lực lượng đi đầu ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất; sát cánh cùng nhân dân trong phòng, chống bão, lũ, thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng, phát triển kinh tế.
Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước thể chế hóa vai trò kinh tế – xã hội của Quân đội. Từ các nghị quyết của Quân ủy Trung ương về lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng đến Nghị quyết số 820-NQ/QUTW ngày 17/12/2021 về lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng của Quân đội đến năm 2030, quan điểm nhất quán của Đảng là: Quân đội tham gia phát triển kinh tế – xã hội phải gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng, tập trung vào lĩnh vực lưỡng dụng, địa bàn chiến lược, vùng khó khăn, nơi các thành phần kinh tế khác không hoặc ít tham gia.
Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 23/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030 tiếp tục khẳng định giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chỉ thị này là cơ sở, xác lập vị trí của Quân đội trong chỉnh thể hệ thống chính trị tham gia xóa đói, giảm nghèo. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”9. Đây không chỉ là sự kế thừa quan điểm truyền thống, mà còn là yêu cầu mới trong bối cảnh phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Giá trị của quan điểm này là đặt Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo trong một cấu trúc phát triển tổng hợp: giảm nghèo là phát triển kinh tế – xã hội; phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn chiến lược là củng cố quốc phòng, an ninh; củng cố quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho giảm nghèo bền vững.
Ngày 02/12/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án“Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, đây là bước phát triển quan trọng về mặt thể chế. Đề án xác định Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế tập trung vào những lĩnh vực Nhà nước và Quân đội cần nắm giữ, có tính chất lưỡng dụng, hiện đại, hoặc những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không hoặc ít tham gia. Giá trị lý luận của quan điểm này là làm rõ ranh giới đúng đắn: Quân đội không tham gia phát triển kinh tế theo logic cạnh tranh lợi nhuận thông thường, mà tham gia để xử lý những khoảng trống phát triển, những “điểm nghẽn” về hạ tầng, dân cư, sinh kế, an sinh và quốc phòng ở địa bàn chiến lược. Đây chính là cơ sở để bác bỏ cách nhìn giản đơn cho rằng, Quân đội làm kinh tế là xa rời nhiệm vụ chiến đấu. Đồng thời, ngày 16/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 109/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030” nhằm “Tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ quân đội và các tầng lớp nhân dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội”10.
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay đều thống nhất khẳng định: Quân đội không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc mà còn là lực lượng lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân và thực hiện nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo bền vững. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngày càng đặt ra cấp thiết, vai trò của Quân đội trong hỗ trợ phát triển địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; ổn định dân cư, tạo sinh kế, củng cố “thế trận lòng dân” càng có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở lý luận vững chắc khẳng định tính đúng đắn của mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, sự cần thiết và lâu dài của việc phát huy vai trò Quân đội trong phát triển kinh tế – xã hội, tham gia xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay.
3. Một số định hướng
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về Quân đội tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo, khẳng định đây là nhiệm vụ có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.
Hai là, gắn hoạt động xóa đói, giảm nghèo của Quân đội với chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang kiến tạo sinh kế, nâng cao năng lực tự phát triển của người dân.
Ba là, đẩy mạnh thực hiện mô hình các đoàn kinh tế – quốc phòng, hỗ trợ sinh kế, chuyển giao kỹ thuật sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo cho người dân ở địa bàn chiến lược, nhất là biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Quân đội với địa phương, các bộ, ngành, doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng dân cư.
Năm là, xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo theo hướng tổng hợp: không chỉ số hộ thoát nghèo, mà cả sinh kế, hạ tầng, dịch vụ xã hội, niềm tin chính trị, ổn định địa bàn và thế trận lòng dân.
Từ quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen về quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng; V.I. Lênin về đội quân lao động; tư tưởng Hồ Chí Minh về chống “giặc đói”, chăm lo đời sống Nhân dân và xây dựng quân đội của dân, do dân, vì dân, đến đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế – xã hội, Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa chăm lo đời sống Nhân dân với củng cố nền tảng chính trị – xã hội, xây dựng sức mạnh của “thế trận lòng dân”, nền tảng vững chắc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa./.
Chú thích:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1994). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 235.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1994). Tập 29. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 246.
3, 4. V.I.Lênin toàn tập (1977). Tập 40. H. NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 121, 122.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 518.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 370.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 501.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 374.
10. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định 109/QĐ-TTg ngày 16/01/2026 phê duyệt Đề án “Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030”.



