The policy of official recusal: lessons for cadre management in contemporary Vietnam
TS. Đặng Thanh Tuấn
Học viện Chính trị Khu vực II
ThS. Bùi Thị Bình
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong lịch sử quản trị, các triều đại phong kiến Việt Nam đã hình thành những cơ chế kiểm soát quyền lực quan trọng, như chính sách Hồi tỵ, khoa cử chọn hiền tài và thiết chế Ngự sử đài. Các công cụ này góp phần phòng ngừa lạm quyền, giữ gìn liêm chính, bảo đảm kỷ cương và thể hiện tư duy trị quốc đề cao công bằng, minh bạch. Nhiều giá trị lịch sử đó tiếp tục được kế thừa trong đường lối hiện nay của Đảng và Nhà nước, thể hiện qua quy định không bố trí người đứng đầu là người địa phương, tăng cường trách nhiệm cá nhân gắn với kiểm soát quyền lực và chính sách trọng dụng, thu hút nhân tài. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín đặc biệt cấp thiết nhằm ngăn ngừa tham nhũng và lợi ích nhóm. Việc nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử, nhất là chính sách Hồi tỵ, cung cấp những bài học giá trị cho việc hoàn thiện công tác cán bộ và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Từ khóa: Chính sách Hồi tỵ; công tác cán bộ; phòng, chống tham nhũng; xây dựng Đảng.
Abstract: Throughout Vietnam’s history of governance, feudal dynasties established important mechanisms to check power, such as the “Hoi Ty” policy, the civil service examination system for selecting talented individuals, and the Office of the Imperial Censor. These tools helped prevent abuse of power, uphold integrity, ensure discipline, and reflect a governing philosophy that prioritized fairness and transparency. Many of these historical values continue to be carried forward in the current policies of the Party and the State, as reflected in regulations prohibiting the appointment of residents to top leadership positions, strengthening individual accountability linked to power checks, and implementing policies to recruit and attract talented individuals. As the entire Party prepares for the 14th National Congress, the need to build a cadre of officials with integrity, competence, and credibility has become particularly urgent in order to prevent corruption and the influence of special interest groups. Studying historical experiences, particularly the “Hoi Ty” policy, provides valuable lessons for improving cadre management and enhancing the effectiveness of current state administration.
Keywords: The “Hoi Ty” Policy; Power Control; Cadre Work; Corruption Prevention and Combating; Party Building.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu kiểm soát quyền lực và xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và uy tín trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đảng đã và đang đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm ngăn chặn tham nhũng, suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống và tình trạng quan liêu, xa rời Nhân dân. Thực tiễn cho thấy, khi quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dễ dẫn đến lợi ích nhóm, tham nhũng, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước.
Lịch sử phong kiến Việt Nam đã hình thành nhiều cơ chế kiểm soát quyền lực, trong đó nổi bật là chính sách Hồi tỵ cùng các thiết chế như khoa cử và Ngự Sử đài. Chính sách Hồi tỵ quy định quan lại không được nhậm chức tại quê nhà hoặc nơi có quan hệ thân thuộc nhằm hạn chế bè phái và tham nhũng. Khoa cử và hệ thống Ngự sử đài tạo ra cơ chế tuyển chọn nhân tài khách quan và giám sát quyền lực thường xuyên, góp phần giữ vững kỷ cương, liêm chính trong bộ máy nhà nước. Nhìn từ góc độ hiện đại, những thiết chế này cho thấy tư duy kiểm soát quyền lực đã xuất hiện từ rất sớm, đặt nền tảng cho các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền: minh bạch, trách nhiệm và giám sát.
Nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là chính sách Hồi tỵ, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác cán bộ hiện nay. Trong bối cảnh cần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, những bài học lịch sử cung cấp cơ sở để hoàn thiện các quy định về bố trí nhân sự, luân chuyển cán bộ, kiểm soát quyền lực và trọng dụng nhân tài. Việc vận dụng sáng tạo các giá trị lịch sử sẽ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, phòng ngừa lạm quyền và xây dựng môi trường công vụ liêm chính, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
2. Công tác cán bộ trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, các triều đại từ Đinh – Lê – Lý – Trần – Lê Trung Hưng đến Nguyễn đều xây dựng hệ thống quan lại và bộ máy nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội, củng cố quyền lực quân chủ tập trung và bảo đảm sự ổn định chính trị. Hệ thống chính trị phong kiến Việt Nam chủ yếu là quân chủ tập quyền, trong đó vua nắm quyền tuyệt đối và là trung tâm điều hành toàn bộ bộ máy quan lại. Bộ máy hành chính được tổ chức theo cấp bậc, từ trung ương đến địa phương. Trong mỗi triều đại, dù mang danh xưng khác nhau, quan lại đều có nghĩa vụ tận trung phục vụ chế độ quân chủ chuyên chế.
Đặc điểm của hệ thống phong kiến Việt Nam tuy tập trung quyền lực nhưng đồng thời xây dựng các cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn lạm quyền. Quan lại được tuyển chọn theo tiêu chuẩn đức – tài và được phân công rõ ràng nhằm tránh chồng chéo quyền hạn. Tuy nhiên, quyền lực tập trung ở vua và tầng lớp quan lại nếu không có cơ chế giám sát, quyền lực này dễ dẫn đến lạm quyền, tham nhũng và bất công trong xã hội. Chính vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thiết lập nhiều cơ chế kiểm soát quan lại nhằm bảo đảm liêm chính và trách nhiệm trong công tác.
Tư tưởng trị quốc của các triều đại phong kiến Việt Nam nhất quán đề cao các giá trị “thanh liêm”, “công minh”, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên lợi ích cá nhân và nhấn mạnh nguyên tắc công bằng trong việc bổ nhiệm, giám sát quan lại. Các bộ luật tiêu biểu như Hình thư thời Lý, Quốc triều hình luật thời Trần, Hồng Đức thời Lê hay Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn đều pháp điển hóa trách nhiệm của quan lại, quy định rõ các hành vi cấm kỵ, thiết lập ranh giới nhằm phòng ngừa tham nhũng và lạm quyền từ gốc.
Tư duy quản trị tiến bộ này coi trọng phòng ngừa hơn xử lý, thể hiện qua các cơ chế như bổ nhiệm theo tiêu chuẩn khách quan, luân chuyển hạn chế ở cấp địa phương, tăng cường thanh tra, giám sát và xây dựng những thiết chế độc lập tương đối như Ngự sử đài, Đô sát viện. Những quan điểm và mô hình này chứng tỏ rằng từ rất sớm, cha ông ta đã nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa “quyền lực – trách nhiệm – giám sát”, tạo nền tảng tham chiếu quan trọng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực như hiện nay.
Kiểm soát quyền lực trong bối cảnh phong kiến không chỉ giúp duy trì kỷ cương xã hội mà còn là công cụ bảo vệ sự ổn định chính trị. Khi quyền lực tập trung mà không có cơ chế giám sát, quan lại dễ lợi dụng chức vụ, hình thành bè phái, lợi ích nhóm hoặc tham nhũng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Ngược lại, các cơ chế kiểm soát quyền lực giúp hạn chế sự lạm quyền của quan lại thông qua việc luân chuyển, giám sát và bổ nhiệm một cách khách quan. Bảo đảm công bằng trong xét xử và phân công nhiệm vụ, từ đó tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. Hình thành kỷ cương hành chính, thúc đẩy quan lại tuân thủ quy định và rèn luyện phẩm chất đạo đức. Tạo niềm tin xã hội khi dân biết rằng quyền lực được giám sát, quan lại phải chịu trách nhiệm.
Kiểm soát quyền lực trong lịch sử không chỉ là công cụ pháp lý mà còn là nguyên tắc quản trị tinh thần, tạo nền tảng cho văn hóa công vụ liêm chính.
Trong tiến trình phát triển của nhà nước quân chủ Việt Nam, chính sách Hồi tỵ được xem là một trong những cơ chế đặc sắc thể hiện tư duy kiểm soát quyền lực mang tính phòng ngừa từ rất sớm. Luật Hồi tỵ ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ đời Hồng Đức (1460 – 1497), học tập những quy định tương tự từ Trung Hoa vốn đã có từ triều đại nhà Tùy và hoàn thiện dưới các triều Lê, Nguyễn.
Hồi tỵ là một từ Hán Việt, 迴避 được học giả Đào Duy Anh chú giải trong Hán Việt từ điển giản yếu như sau: “Hồi tỵ nghĩa là tránh đi. Ví như một người bổ đi làm quan đứng đầu ở một địa phương, nếu có một người bà con đã là thuộc liêu ở chỗ đó thì người ấy phải tránh đổi đi chỗ khác, thế gọi là hồi tỵ” (Đào Duy Anh, 2008, tr. 266).
“Chính sách Hồi tỵ” – tức quy chế né tránh nhằm ngăn ngừa tệ bè phái, tự tư và tham nhũng trong bộ máy công quyền, được ban hành lần đầu tiên tại Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông thuộc triều Lê sơ và áp dụng chủ yếu ở cấp địa phương như phủ, huyện, xã. Trong giai đoạn này, luật quy định quan lại không được bổ nhiệm tại quê hương, không được lấy vợ hoặc thiếp trong vùng mình cai trị, và cấm những người thân thích như anh em ruột, chú cháu hay thông gia cùng làm xã trưởng trong một xã để tránh nạn kéo bè kết cánh. Chính sách này hướng tới mục tiêu ngăn chặn tình trạng quan lại lợi dụng vị thế để thao túng quyền lực tại quê quán hoặc trong môi trường có quan hệ thân tộc. Bằng việc hạn chế sự can thiệp của chủ nghĩa địa phương và quan hệ thân hữu, Hồi tỵ góp phần củng cố tính khách quan, liêm chính và công bằng trong quản lý nhà nước.
Trải qua thời gian, chính sách này được thực thi một cách triệt để, khắt khe và đạt đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn, đặc biệt là từ thời vua Minh Mạng trở đi, với phạm vi áp dụng mở rộng ra toàn hệ thống hành chính từ trung ương đến địa phương (ngoại trừ Thái y viện). Triều Nguyễn không chỉ cấm quan lại làm việc tại chính quán, mà còn mở rộng lệnh cấm đến nơi trú quán lâu năm, quê vợ, quê mẹ và cả nơi từng học tập thuở nhỏ. Đồng thời, các quy định ngăn cản người thân thích (như cha con, anh em, thầy trò, thông gia) cùng làm việc tại một nha môn, một bộ hay cùng một địa phương cũng được thắt chặt. Đặc biệt, chính sách Hồi tỵ thời Nguyễn còn đi sâu kiểm soát nghiêm ngặt các hoạt động tư pháp bằng cách buộc quan xét xử phải tránh thụ lý vụ án liên quan đến người thân hay người có hiềm thù cũ, và yêu cầu các quan lại phải chủ động né tránh nhiệm vụ khảo quan nếu có người nhà tham gia khoa cử. Những quy định này không chỉ mang tính răn đe mà còn thể hiện rõ phương châm “phòng ngừa là chính” trong quản trị quốc gia.
Trên thực tế, chính sách Hồi tỵ đã mang lại nhiều tác dụng tích cực đối với hệ thống hành chính phong kiến. Nhờ hạn chế tình trạng lạm quyền, tham nhũng và quan liêu thân hữu, cơ chế này góp phần duy trì sự công bằng trong quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với triều đình và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy công quyền. Có thể khẳng định, Hồi tỵ là một minh chứng tiêu biểu cho tư duy quản trị tiến bộ của cha ông ta, đặt nền móng cho những nguyên tắc kiểm soát quyền lực và liêm chính công vụ mà Nhà nước hiện đại tiếp tục kế thừa và phát triển.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, khoa cử giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tuyển chọn và đào tạo đội ngũ quan lại. Đây là cơ chế nhằm tuyển dụng nhân lực dựa trên đức – tài, thay vì dựa vào quan hệ thân tộc hoặc quyền lực. Thông qua hệ thống thi cử chặt chẽ, chuẩn hóa và có tính cạnh tranh cao, trình độ và năng lực của thí sinh được đánh giá một cách khách quan, minh bạch, tạo tiền đề hình thành đội ngũ quan lại có tri thức, có trách nhiệm và có phẩm chất đạo đức.
3. Sự kế thừa các giá trị lịch sử trong đường lối của Đảng và Nhà nước hiện nay
3.1. Quy định không bố trí người đứng đầu là người địa phương
Một trong những chủ trương tiêu biểu thể hiện tinh thần kế thừa “Hồi tỵ” trong quản trị quốc gia thời hiện đại là quy định không bố trí người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị công tác tại nơi sinh quán hoặc địa bàn có quan hệ họ hàng gần. Chủ trương này nhằm ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực như cục bộ địa phương, khép kín trong thông tin, thiên vị trong sử dụng nhân sự, tình trạng “chạy chức, chạy quyền”, “lợi ích nhóm”, đồng thời bảo đảm tính khách quan và liêm chính trong việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Tinh thần đó đã được thể chế hóa rõ nét trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng. Quy định số 65-QĐ/TW ngày 28/4/2022 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ xác định luân chuyển là một phương thức bố trí cán bộ mang tính chiến lược, góp phần phòng ngừa lạm quyền, chống cục bộ địa phương và tạo điều kiện để cán bộ rèn luyện thực tiễn. Quy định nêu rõ yêu cầu bố trí cán bộ phải bảo đảm công khai, minh bạch, liên thông và đặc biệt nhấn mạnh việc luân chuyển nhằm “phòng ngừa tiêu cực, chống chạy chức, chạy quyền”, ngăn chặn việc hình thành “vùng trũng quyền lực” hoặc các nhóm lợi ích khép kín tại địa phương, cơ quan, đơn vị.
Cùng với đó, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về tính liêm chính, công tâm và khách quan của đội ngũ cán bộ. Quy định nhấn mạnh việc kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cục bộ dòng họ, lợi ích nhóm, bè phái; yêu cầu cán bộ thực hiện đúng nguyên tắc “vì Đảng, vì dân, vì trách nhiệm chung”, không để bị chi phối bởi quan hệ thân tộc hoặc địa bàn quen thuộc. Đây là cơ sở chính trị, đạo đức để củng cố thêm yêu cầu không bố trí người đứng đầu tại địa phương có quan hệ lợi ích nhạy cảm.
Đặc biệt, Kết luận số 200-KL/TW ngày 17/10/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, trong đó nhấn mạnh việc không bố trí, bổ nhiệm người đứng đầu là người địa phương, xem đây là giải pháp trọng yếu để phòng ngừa tình trạng lạm quyền, nể nang, né tránh, hoặc bị tác động bởi các quan hệ xã hội hay họ tộc tồn tại sẵn ở địa phương. Kết luận đồng thời yêu cầu gắn chặt việc bố trí cán bộ với công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm tính minh bạch và sự liêm chính trong quá trình thực hiện quyền lực.
Việc triển khai đồng bộ các quy định này trong thực tiễn đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao tính khách quan trong việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ; tạo môi trường làm việc minh bạch, giảm thiểu nguy cơ hình thành lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ địa phương; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Đây cũng chính là minh chứng sinh động cho sự vận dụng linh hoạt và phát triển tư duy kiểm soát quyền lực từ chính sách Hồi tỵ của cha ông, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn mới.
3.2. Kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu
Trong bối cảnh hiện nay, kiểm soát quyền lực không chỉ là vấn đề về tổ chức bộ máy mà còn là thử thách về trách nhiệm, đạo đức và kỷ cương công vụ. Đảng ta xác định rõ: quyền lực chỉ được giao khi đi kèm trách nhiệm cá nhân, đặc biệt đối với người đứng đầu. Nguyên tắc “cán bộ càng cao càng phải gương mẫu” trở thành nguyên tắc yêu cầu nhằm ngăn chặn lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì mục đích cá nhân.
Thực tế, cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước hiện nay đã được tổ chức theo mô hình đa tầng, đa chiều. Đó là hệ thống giám sát thường xuyên và định kỳ của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban Kiểm tra các cấp; hoạt động của Ban Nội chính Trung ương; các cơ quan thanh tra, kiểm toán; cùng với vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và công luận.
Ngoài ra, từ góc độ thể chế, việc Đảng ban hành các quy định mới khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc kiểm soát quyền lực và trách nhiệm công vụ. Điển hình là Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, nhấn mạnh rằng mọi quyết định, việc sử dụng nguồn lực, tài sản công phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch và chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát.
Một văn bản khác là Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, thể hiện quan điểm rằng quyền lực trong lập pháp, xây dựng pháp luật cũng phải được kiểm soát chặt chẽ, minh bạch và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đồng thời, hoạt động thực tiễn giám sát, kiểm tra, kỷ luật của Đảng trong giai đoạn 2021-2025 đã cho thấy, hiệu quả rõ nét: Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp uỷ các cấp đã kiểm tra hơn 232 nghìn tổ chức đảng và hơn 1,2 triệu đảng viên; kiểm tra có dấu hiệu vi phạm 852 tổ chức đảng, 5.422 đảng viên. Qua kiểm tra kết luận 545 tổ chức đảng, 4.213 đảng viên có vi phạm, khuyết điểm, phải thi hành kỷ luật Đảng 231 tổ chức đảng, 2.885 đảng viên, đã thi hành kỷ luật 155 tổ chức đảng và 2.615 đảng viên. UBKT các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với hơn 13.000 tổ chức đảng và hơn 38.000 đảng viên. Qua kiểm tra kết luận 8.766 tổ chức đảng và hơn 30.000 đảng viên có vi phạm, khuyết điểm, phải xem xét, thi hành kỷ luật 1.156 tổ chức đảng và 13.847 đảng viên, đã thi hành kỷ luật 827 tổ chức đảng và 12.371 đảng viên (Tư An, 24/11/2025). Đây không chỉ là biểu hiện của ý thức chính trị và kỷ cương tổ chức mà còn là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy lãnh đạo, bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích phục vụ lợi ích chung, chứ không phải lợi ích nhóm.
Việc vận dụng cơ chế giám sát và trách nhiệm cá nhân trong bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, phân công chức vụ, cũng như trong quản lý tài chính, tài sản công, lập pháp – xây dựng pháp luật, thể hiện rõ nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một bộ máy công quyền “vừa mạnh về quyền lực, vừa nghiêm về kỷ cương, minh bạch về trách nhiệm”.
3.3. Trọng dụng, thu hút nhân tài
Việc Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng công tác trọng dụng, thu hút nhân tài được thể hiện nhất quán trong nhiều văn bản quan trọng. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ khẳng định yêu cầu hoàn thiện cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo môi trường để nhân tài cống hiến và phát triển. Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung tiếp tục nhấn mạnh tinh thần trọng dụng người có năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước. Đồng thời, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đặt ra yêu cầu tạo động lực vật chất tương xứng, qua đó góp phần nâng cao sức hấp dẫn của khu vực công đối với nhân lực chất lượng cao.
3.4. Các thiết chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống chính trị
Kế thừa tư duy giám sát quyền lực của thiết chế Ngự Sử đài trong lịch sử, hệ thống các cơ quan kiểm tra, giám sát của nước ta hiện nay được tổ chức đồng bộ và ngày càng hoạt động hiệu quả. Đảng ta đã xác định rõ quan điểm về kiểm soát quyền lực trong nhiều văn bản quan trọng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường giám sát quyền lực nhà nước và quyền lực trong hệ thống chính trị. Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và trình tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ Đảng, qua đó tạo khuôn khổ pháp lý chặt chẽ cho hoạt động của Ủy ban Kiểm tra các cấp.
Đồng thời, Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát quyền lực song hành với việc bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, bảo đảm cơ chế giám sát không trở thành rào cản đối với đổi mới sáng tạo trong thực thi công vụ.
Trên cơ sở đó, Ủy ban Kiểm tra các cấp thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát trong Đảng; các cơ quan thanh tra nhà nước và Kiểm toán Nhà nước tiến hành thanh tra, kiểm tra tài chính – ngân sách – công vụ theo quy định pháp luật; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện giám sát và phản biện xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, báo chí và truyền thông, dưới sự định hướng của Đảng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần công khai, minh bạch hóa hoạt động của cán bộ và cơ quan công quyền, tạo áp lực dư luận lành mạnh đối với việc tự giác tuân thủ kỷ luật, kỷ cương.
4. Kinh nghiệm cho công tác cán bộ ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, tư duy “phòng ngừa” quan trọng hơn “xử lý” được thể hiện rõ qua chính sách Hồi tỵ. Quy định này hạn chế quan lại làm việc tại quê hương hoặc nơi có quan hệ thân tộc, ngăn chặn từ sớm nguy cơ lạm quyền và hình thành lợi ích nhóm địa phương. Bài học đặt ra cho hiện nay là tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phòng ngừa hiện đại như luân chuyển cán bộ, giới hạn nhiệm kỳ, phân quyền hợp lý… nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính và có năng lực.
Thứ hai, yêu cầu về tính minh bạch trong tuyển chọn, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ trở nên đặc biệt quan trọng. Quy trình khách quan không chỉ giúp lựa chọn đúng người, đúng việc mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân, hạn chế tình trạng bè phái, quan liêu và tham nhũng. Đây là điều kiện để xây dựng môi trường cạnh tranh công bằng, bảo đảm cán bộ xứng đáng được trọng dụng.
Thứ ba, tiếp tục đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng toàn diện: nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng thực thi công vụ, đồng thời củng cố văn hóa trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Sự kết hợp này giúp cán bộ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý nhà nước và phòng, chống tham nhũng.
Thứ tư, vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nhân dân, báo chí, đại biểu dân cử và Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tiếp tục được phát huy. Những thiết chế này không chỉ giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm mà còn tạo áp lực xã hội, buộc cán bộ phải minh bạch, liêm chính và thực thi công vụ đúng pháp luật. Đây là một trong những trụ cột bảo đảm hiệu lực của quản lý nhà nước.
Thứ năm, việc xây dựng môi trường chính trị – hành chính liêm chính là bài học tổng hợp từ truyền thống “cần – kiệm – liêm – chính” trong văn hóa chính trị Việt Nam. Phát huy giá trị này góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó quyền lực đi đôi với trách nhiệm, công khai, minh bạch và được giám sát. Một môi trường hành chính liêm chính không chỉ nâng cao kỷ cương và chất lượng công vụ mà còn tăng cường niềm tin của xã hội, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Từ chính sách Hồi tỵ, hệ thống khoa cử và các thiết chế giám sát của các triều đại xưa, có thể rút ra những bài học cốt lõi cho công tác cán bộ hiện nay: lấy phòng ngừa làm trọng; bảo đảm tính khách quan trong việc bổ nhiệm; kết hợp đức và tài; tăng cường giám sát; và xây dựng môi trường liêm chính. Vận dụng linh hoạt các bài học này sẽ góp phần hoàn thiện đội ngũ cán bộ, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu các tài liệu lịch sử về quản trị và công tác nhân sự của các triều đại phong kiến Việt Nam, có thể khẳng định giá trị bền vững của chính sách Hồi tỵ cùng các cơ chế kiểm soát quyền lực như khoa cử, Ngự sử đài và các thiết chế giám sát quan lại. Những cơ chế này không chỉ góp phần duy trì trật tự, kỷ cương và liêm chính trong bộ máy hành chính, mà còn thể hiện tư duy quản trị sâu sắc, nhấn mạnh các nguyên tắc phòng ngừa lạm quyền, công bằng, minh bạch và trách nhiệm cá nhân – những giá trị vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với quản lý nhà nước hiện đại.
Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng các bài học lịch sử vào công tác cán bộ trở nên hết sức cấp thiết. Việc xây dựng cơ chế luân chuyển hợp lý, minh bạch hóa quy trình bổ nhiệm và đánh giá, trọng dụng nhân tài, tăng cường giám sát quyền lực và quyền phản biện xã hội, cùng việc tạo dựng môi trường chính trị – hành chính liêm chính, là những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, phòng ngừa tham nhũng, suy thoái và lợi ích nhóm. Sự kết hợp giữa bài học lịch sử với các giải pháp thể chế hiện đại không chỉ giúp xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” mà còn góp phần củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Đào Duy Anh (2008). Hán Việt từ điển giản yếu. Nxb Khoa học Xã hội, tr.266.
Tư An (24/11/2025). Đã thi hành kỷ luật 228 đảng viên trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Báo Thanh Niên. https://thanhnien.vn/da-thi-hanh-ky-luat-228-dang-vien-trong-nhiem-ky-dai-hoi-xiii-185251124132312688.htm
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII).
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
Lê Thánh Tông (2009). Hồng Đức luật lệ (Quyển 1-4). Nxb Khoa học Xã hội.
Nguyễn Minh Tâm (2018). Chính sách hồi tỵ và cơ chế kiểm soát quan lại trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tạp chí Lịch sử, (5), 45-58.
Phan Huy Lê (chủ biên) (2013). Lịch sử Việt Nam (Tập II). Nxb Khoa học Xã hội.
Trần Văn Nam (2019). Truyền thống liêm chính và quản lý cán bộ ở Việt Nam qua các triều đại phong kiến. Tạp chí Khoa học Chính trị, tập 33, 2019, tr. 23-38.
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2020). Kiểm soát quyền lực và xây dựng đội ngũ cán bộ trong nhà nước pháp quyền hiện nay. Nghiên cứu tổng hợp. Nxb Chính trị quốc gia.
Viện Sử học Việt Nam (1998). Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Khoa học Xã hội.



