Một số giải pháp tăng cường giáo dục bản lĩnh chính trị cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay

Solutions to strengthen political steadfastness education for university students in Hai Phong City today

Nguyễn Thị Linh Chi
Trường Đại học Thành Đông
Email: Vanhoang537374@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và thông tin đa chiều, giáo dục bản lĩnh chính trị cho sinh viên cần vượt khỏi truyền đạt tri thức lý luận để phát triển năng lực phân tích, tự chủ, lựa chọn và hành động xã hội có trách nhiệm. Bài viết làm rõ nội hàm, thành tố của bản lĩnh chính trị; nhận diện bối cảnh, kết quả, hạn chế và vấn đề đặt ra tại các trường đại học ở Hải Phòng. Nghiên cứu sử dụng phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa văn kiện, văn bản quản lý, báo cáo chính thức cùng công trình khoa học đã công bố; không tiến hành điều tra sơ cấp. Kết quả cho thấy công tác này đã có nền tảng về chương trình, tổ chức và môi trường rèn luyện, song còn hạn chế về tính thực tiễn của nội dung, mức độ tương tác, năng lực số, phối hợp chủ thể và đánh giá kết quả. Bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp đồng bộ, lấy năng lực sinh viên làm trung tâm, gắn giáo dục chính khóa với trải nghiệm, không gian số và thực tiễn thành phố cảng.

Từ khóa: Bản lĩnh chính trị, giáo dục chính trị, sinh viên, trường đại học, Hải Phòng.

Abstract: Amid digital transformation, international integration, and rapidly expanding multidirectional information, political education for university students should move beyond transmitting theory to cultivating analysis, autonomy, informed choice, and responsible action. This article clarifies the concept and dimensions of political steadfastness and examines the context, achievements, limitations, and emerging issues at higher education institutions in Hai Phong City. It applies document analysis, synthesis, comparison, and generalization to policy documents, regulations, official reports, and published studies; no primary survey was conducted. The analysis indicates an established foundation in curricula, institutional organization, and student development activities, but also limitations in practical relevance, interaction, media and digital literacy, stakeholder coordination, and outcome assessment. The article therefore proposes six interconnected solution groups centered on student competencies and integrating formal curricula with experiential learning, digital environments, and the socioeconomic realities of a major port city. The proposals aim to foster informed beliefs, critical judgment, resilience to misinformation, and responsible civic action.

Keywords: Political steadfastness, political education, university students, higher education, Hai Phong.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang mở rộng chưa từng có khả năng tiếp cận tri thức, giao lưu văn hóa và tham gia đời sống xã hội của sinh viên. Cùng với cơ hội đó, sự phát triển của truyền thông nền tảng, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo sinh và cơ chế phân phối thông tin theo thuật toán làm gia tăng nguy cơ tiếp xúc với tin sai lệch, thông tin thiếu ngữ cảnh, diễn ngôn cực đoan và các thủ pháp thao túng cảm xúc. Báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu năm 2023 lưu ý rằng công nghệ có thể hỗ trợ học tập nhưng cũng góp phần khuếch đại thông tin sai lệch và ngôn từ thù ghét nếu việc sử dụng thiếu định hướng, bằng chứng và cơ chế bảo vệ người học (UNESCO, 2023). Vì vậy, khả năng sử dụng thiết bị hay nền tảng số thành thạo chưa đồng nghĩa với khả năng đánh giá độ tin cậy của nguồn tin và đưa ra lựa chọn có trách nhiệm.

Hải Phòng là đô thị cảng, trung tâm công nghiệp, dịch vụ và logistics, có mức độ giao lưu kinh tế, lao động và văn hóa cao. Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, toàn bộ diện tích và dân số của tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng được hợp nhất thành thành phố Hải Phòng mới, làm thay đổi đáng kể không gian quản trị và phạm vi hệ thống giáo dục đại học trên địa bàn (Quốc hội, 2025). Năm học 2025–2026, tám trường đại học tại thành phố duy trì quy mô 58.461 người học, 259 chương trình đào tạo và 2.557 giảng viên, trong đó có 756 tiến sĩ (Cổng Thông tin điện tử thành phố Hải Phòng, 2026). Quy mô và sự đa dạng đó tạo nguồn lực quan trọng, nhưng cũng đòi hỏi công tác giáo dục chính trị phải thích ứng với khác biệt về ngành học, địa bàn, hoàn cảnh, trải nghiệm số và nhu cầu phát triển của sinh viên. Yêu cầu này phù hợp định hướng phát triển người học có lòng yêu nước, bản lĩnh, tri thức và năng lực sáng tạo, coi giáo dục đại học là trụ cột của nguồn nhân lực chất lượng cao (Bộ Chính trị, 2025).

Các nghiên cứu trong nước đã bàn đến bản lĩnh, niềm tin và giáo dục chính trị cho sinh viên, song việc kết nối đồng thời chuẩn năng lực, hiểu biết truyền thông, trải nghiệm cộng đồng và đặc thù Hải Phòng hiện hành còn cần được làm rõ. Bài viết hướng đến trả lời ba câu hỏi: Bản lĩnh chính trị của sinh viên gồm những phương diện nào? Công tác giáo dục tại các trường đại học trên địa bàn đang đặt ra những vấn đề gì? Nội dung, phương thức, chủ thể và đánh giá cần được đổi mới ra sao? Qua đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp có khả năng vận dụng trong quản trị nhà trường và phối hợp liên ngành tại địa phương.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu này, bản lĩnh chính trị của sinh viên được hiểu là tổng hợp phẩm chất và năng lực giúp sinh viên hình thành lập trường, niềm tin chính trị dựa trên hiểu biết; có khả năng phân tích, đánh giá các vấn đề chính trị – xã hội; giữ được tính tự chủ trước môi trường thông tin phức tạp; và thể hiện trách nhiệm công dân bằng hành vi phù hợp với pháp luật, đạo đức và lợi ích cộng đồng. Quan niệm này kế thừa cách nhìn coi bản lĩnh là sự thống nhất giữa tri thức, ý chí và niềm tin chính trị (Hà, 2021; Trần, 2023), đồng thời mở rộng sang năng lực thông tin và hành động trong điều kiện số.

Bản lĩnh chính trị có thể được nhận diện qua năm phương diện có quan hệ hữu cơ. Thứ nhất là hiểu biết về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội. Thứ hai là niềm tin và định hướng giá trị được hình thành trên cơ sở hiểu biết, trải nghiệm và suy xét. Thứ ba là năng lực tư duy độc lập, phản biện, đối chiếu chứng cứ và kiểm chứng thông tin. Thứ tư là khả năng tự điều chỉnh, kiên định trước áp lực, luận điệu xuyên tạc hoặc sự lôi kéo tiêu cực. Thứ năm là ý thức trách nhiệm và năng lực tham gia, thể hiện qua việc chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử số, phục vụ cộng đồng và đóng góp xây dựng nhà trường, địa phương. Cấu trúc này tương thích với ba miền học tập nhận thức, xã hội – cảm xúc và hành vi trong giáo dục công dân toàn cầu của UNESCO (2015), đồng thời tránh giản lược kết quả giáo dục thành điểm thi kiến thức.

Bài viết sử dụng khung phân tích gồm bốn mắt xích: bối cảnh và nguồn lực; chủ thể, nội dung và phương thức giáo dục; mức độ tham gia chủ động của sinh viên; kết quả về nhận thức, giá trị, kỹ năng và hành vi. Hiệu quả được xem xét theo bốn tiêu chí: nội dung có phù hợp với người học và bối cảnh hay không; sinh viên có được đối thoại và đồng kiến tạo hoạt động hay không; kiến thức có được vận dụng trong tình huống thực tế và môi trường số hay không; sự chuyển biến có thể được nhận biết bằng minh chứng học tập và hành động hay không.

Về phương pháp, nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, quy định của ngành giáo dục, báo cáo công khai của thành phố Hải Phòng và các nghiên cứu khoa học liên quan.

3. Thực trạng và những vấn đề đặt ra

3.1. Bối cảnh và những kết quả bước đầu

Về định hướng, Kế hoạch nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2025–2026 của ngành giáo dục thành phố yêu cầu đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức; giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng văn hóa học đường, tăng cường giáo dục pháp luật, kỹ năng ứng xử trên mạng và công tác phát triển Đảng trong học sinh, sinh viên (Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, 2025). Ở cấp quốc gia, Chương trình giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021–2030 và chương trình tương ứng trên không gian mạng đã tạo hành lang chính sách cho các cơ sở giáo dục tổ chức hoạt động (Thủ tướng Chính phủ, 2021, 2022). Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT tiếp tục đặt yêu cầu giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào, bản lĩnh chính trị, khả năng nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái, đồng thời nhấn mạnh lấy người học làm trung tâm, chuyển đổi số và phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026).

Trên nền tảng đó, các trường có thể duy trì giáo dục lý luận chính trị trong chương trình; tổ chức tuần sinh hoạt công dân – sinh viên, phổ biến pháp luật, hoạt động về nguồn, tình nguyện và phong trào Đoàn – Hội. Nghiên cứu cấp thành phố công bố năm 2023 ghi nhận công tác giáo dục chính trị đối với học sinh, sinh viên đã được chỉ đạo, triển khai; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được cụ thể hóa; tổ chức Đảng, Đoàn và Hội trong nhà trường được củng cố; nhận thức chính trị của người học có chuyển biến nhất định (Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, 2023). Những hoạt động cộng đồng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, đền ơn đáp nghĩa và hỗ trợ chuyển đổi số ở cơ sở tạo điều kiện để một bộ phận sinh viên chuyển tri thức thành trải nghiệm trách nhiệm. Website, fanpage và nền tảng học tập của nhà trường cũng giúp thông tin chính sách, gương người tốt và nội dung giáo dục tiếp cận sinh viên nhanh hơn.

3.2. Hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu đổi mới

Thứ nhất, nội dung giáo dục ở một số thời điểm có thể còn thiên về truyền đạt khái niệm, sự kiện và kết luận chung, chưa kết nối thường xuyên với bài toán nghề nghiệp, quản trị đô thị, văn hóa địa phương hoặc tình huống mà sinh viên gặp trên mạng. Nghiên cứu địa phương năm 2023 chỉ ra rằng việc triển khai có mặt chưa đầy đủ, kịp thời và hiệu quả; một số nội dung lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế, pháp luật và giáo dục công dân chưa được quan tâm tương xứng (Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, 2023). Tuy nhiên, do nghiên cứu này được thực hiện trước sắp xếp năm 2025, các kết luận cần được xem là đường cơ sở tham khảo chứ không phải mô tả đại diện cho toàn bộ hệ thống đại học hiện hành.

Thứ hai, năng lực thông tin – truyền thông chưa luôn được tích hợp như một cấu phần xuyên suốt. Sinh viên có thể tiếp cận và chia sẻ nội dung rất nhanh nhưng vẫn gặp khó khăn khi nhận biết chủ thể đứng sau nguồn, đối chiếu dữ kiện, phân biệt ý kiến với bằng chứng hoặc phát hiện hình ảnh, âm thanh bị chỉnh sửa. Kahne và Bowyer (2017), trong nghiên cứu với 2.101 người trẻ, cho thấy kiến thức chính trị đơn thuần không tự động nâng cao khả năng đánh giá chính xác thông tin; giáo dục hiểu biết truyền thông đem lại tác động tích cực rõ hơn. Trong điều kiện trí tuệ nhân tạo tạo sinh phổ biến, khoảng trống này có thể làm suy giảm khả năng tự chủ trước nội dung thao túng.

Thứ ba, phương pháp và đánh giá chưa luôn phát huy vai trò chủ thể của sinh viên. Hoạt động thuyết trình một chiều, nếu thiếu đối thoại và xử lý tình huống, khó cho thấy người học có biết lập luận, ứng xử trước bất đồng hoặc chuyển nhận thức thành hành động hay không. Số buổi, số lượt tham gia và điểm kiểm tra tái hiện kiến thức cần thiết cho quản lý nhưng chưa đủ để phản ánh bản lĩnh. Những hạn chế này liên quan đến cách hiểu còn hẹp về mục tiêu, việc phân nhóm nhu cầu chưa thường xuyên, năng lực thiết kế hoạt động tương tác chưa đồng đều và nguồn lực phối hợp liên trường còn phân tán. Mâu thuẫn nổi bật là yêu cầu tự chủ, phản biện ngày càng cao trong khi một số hoạt động vẫn theo lối tiếp nhận một chiều; giải quyết mâu thuẫn đó cần chuẩn đầu ra và cơ chế cải tiến liên tục.

4. Một số giải pháp tăng cường giáo dục bản lĩnh chính trị cho sinh viên

Một là, đổi mới mục tiêu theo chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực.

Các trường đại học cần cụ thể hóa mục tiêu giáo dục bản lĩnh chính trị thành chuẩn đầu ra có thể quan sát, chuyển trọng tâm từ “biết” sang “hiểu, phân tích, lựa chọn và hành động”. Chuẩn đầu ra nên bao quát bốn nhóm: kiến thức chính trị, pháp luật và lịch sử; giá trị, thái độ và niềm tin có cơ sở; năng lực tư duy phản biện, xử lý thông tin; hành vi học tập, nghề nghiệp và công dân có trách nhiệm. Việc thiết kế cần thống nhất với yêu cầu của Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT về giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, kỹ năng số và đánh giá rèn luyện sinh viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026).

Chuẩn đầu ra phải phản ánh nhiều chiều kiến thức, kỹ năng và động cơ tham gia (Beaumont et al., 2006), đi kèm minh chứng về kiểm chứng nguồn, lập luận, đối thoại và hành động đúng pháp luật, thay vì chỉ đo sự đồng thuận bề ngoài.

Hai là, cập nhật nội dung gắn với Hải Phòng, nghề nghiệp và môi trường số.

Nội dung giáo dục cần kết hợp vững chắc nền tảng lý luận với các vấn đề cụ thể của thành phố cảng. Bên cạnh chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cần khai thác lịch sử đấu tranh cách mạng, truyền thống lao động, văn hóa biển, quá trình xây dựng đô thị và đóng góp của các địa phương trong không gian Hải Phòng mới. Những chủ đề như phát triển cảng biển xanh, bảo vệ môi trường biển, chuyển đổi năng lượng, an sinh cho lao động nhập cư, văn hóa công nghiệp, quốc phòng – an ninh, bảo tồn di sản và phát triển nông thôn có thể trở thành tình huống học tập liên ngành.

Ba là, đổi mới phương pháp theo hướng đối thoại, trải nghiệm và học tập phục vụ cộng đồng.

Phương pháp giáo dục cần tạo không gian để sinh viên đặt câu hỏi, kiểm tra giả định, thảo luận khác biệt và thực hành quyết định. Giảng viên có thể sử dụng học theo vấn đề, nghiên cứu tình huống, tranh biện dựa trên chứng cứ, phiên họp mô phỏng, nhật ký phản tư và dự án nhóm. Với một sự kiện đang được quan tâm, sinh viên không chỉ nêu quan điểm mà phải xác định nguồn, đánh giá bằng chứng, nhận diện ngôn ngữ gây cảm xúc, xem xét tác động đối với các nhóm xã hội và đề xuất cách ứng xử đúng pháp luật. Giảng viên giữ vai trò thiết kế, định hướng và bảo đảm chuẩn mực đối thoại, thay vì chỉ truyền đạt kết luận.

Học tập phục vụ cộng đồng cần gắn với chương trình và có phản tư được hướng dẫn, bởi cách tổ chức này có tác động tích cực đến tham gia công dân, kỹ năng xã hội và thái độ học tập (Celio et al., 2011).

Bốn là, xây dựng hệ sinh thái giáo dục và khả năng chống chịu thông tin trên không gian số.

Nhà trường cần coi không gian số là một môi trường giáo dục có thiết kế, không chỉ là kênh đăng thông báo. Hệ sinh thái này có thể gồm cổng học liệu dùng chung, chuyên mục giải thích chính sách, thư viện tình huống, diễn đàn hỏi – đáp với chuyên gia, sản phẩm truyền thông do sinh viên thực hiện và kênh kiểm chứng thông tin. Học liệu nên ngắn gọn, trực quan, có ngày cập nhật và liên kết đến nguồn gốc, nhưng đồng thời cung cấp tuyến học sâu cho người muốn tìm hiểu. Nội dung do trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phải được kiểm tra chuyên môn, công khai nguyên tắc sử dụng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Trọng tâm của giáo dục năng lực số là dạy sinh viên quy trình kiểm chứng có thể lặp lại: dừng lại trước nội dung kích động cảm xúc; xác định người hoặc tổ chức đứng sau nguồn; đọc ngang để xem các nguồn độc lập nói gì; truy tìm văn bản, hình ảnh hoặc phát biểu trong ngữ cảnh ban đầu; phân biệt bằng chứng với diễn giải; đối chiếu ngày tháng và dữ liệu; cân nhắc hệ quả trước khi chia sẻ. Khung hiểu biết truyền thông và thông tin của UNESCO tích hợp những năng lực này với công dân số, thông tin sai lệch và trí tuệ nhân tạo (Grizzle et al., 2021). Thực nghiệm của McGrew et al. (2019) cũng cho thấy các bài học ngắn về đánh giá độ tin cậy trực tuyến có thể cải thiện kỹ năng của sinh viên khi tập trung vào chiến lược đọc ngang và truy nguồn.

Năm là, nâng cao năng lực đội ngũ và thiết lập cơ chế phối hợp đa chủ thể.

Chất lượng giáo dục phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của giảng viên và cán bộ tổ chức hoạt động. Các trường cần bồi dưỡng định kỳ cho giảng viên lý luận chính trị, giảng viên chuyên ngành, cán bộ công tác sinh viên, cán bộ Đoàn – Hội và cố vấn học tập về sư phạm đối thoại, thiết kế tình huống, đánh giá năng lực, hiểu biết truyền thông, xử lý khủng hoảng và hỗ trợ tâm lý. Bồi dưỡng nên gắn với sản phẩm: mỗi học viên xây dựng một tình huống, một kế hoạch đối thoại hoặc một nhiệm vụ đánh giá có thể áp dụng; sản phẩm được phản biện đồng nghiệp và cập nhật vào kho học liệu.

Ở cấp thành phố, cần xây dựng mạng lưới phối hợp giữa các trường với Thành đoàn, cơ quan tuyên giáo và dân vận, cơ quan quản lý giáo dục, báo chí, bảo tàng, di tích, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và tổ chức cộng đồng. Mạng lưới có thể chia sẻ chuyên gia, học liệu, dữ liệu công khai, địa điểm trải nghiệm và dự án phục vụ cộng đồng. Sau thay đổi địa giới, một cơ chế liên trường càng cần thiết để giảm chênh lệch nguồn lực và kết nối sinh viên ở các khu vực. Sự phối hợp phải được thể chế hóa bằng đầu mối, kế hoạch năm, quy trình phản hồi và kinh phí phù hợp, thay vì chỉ dựa vào chiến dịch ngắn hạn.

Sáu là, đổi mới đánh giá và tổ chức thực hiện theo lộ trình.

Đánh giá cần hướng vào sự tiến bộ và khả năng vận dụng. Ngoài bài kiểm tra kiến thức, nhà trường có thể sử dụng bài tập tình huống, hồ sơ học tập, báo cáo dự án, nhật ký phản tư, sản phẩm truyền thông, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng. Một rubric chung có thể gồm: độ chính xác khi nhận diện nguồn và dữ kiện; chất lượng lập luận và sử dụng bằng chứng; khả năng lắng nghe, phản hồi quan điểm khác biệt; mức độ tuân thủ pháp luật, chuẩn mực số; đóng góp thực chất cho nhóm và cộng đồng. Minh chứng cần được xem xét trong thời gian đủ dài, tránh suy diễn bản lĩnh chính trị chỉ từ một phát ngôn hoặc một lần tham gia.

Việc triển khai có thể theo ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất rà soát chương trình, khảo sát nhu cầu, lập bản đồ nguồn lực và xây dựng bộ chuẩn – chỉ báo dùng chung. Giai đoạn thứ hai thí điểm tại một số học phần và nhóm ngành, kết hợp một dự án cộng đồng và một mô-đun hiểu biết truyền thông; thực hiện đánh giá trước – sau và phản hồi định tính. Giai đoạn thứ ba điều chỉnh, nhân rộng giữa các trường và công bố báo cáo cải tiến hằng năm. Thành phố có thể hỗ trợ nền tảng chia sẻ học liệu, tập huấn liên trường và quỹ nhỏ cho sáng kiến do sinh viên đề xuất. Sáu nhóm giải pháp chỉ tạo chuyển biến bền vững khi được vận hành như một hệ sinh thái thống nhất giữa chương trình chính khóa, văn hóa nhà trường, tổ chức sinh viên, không gian số và đời sống xã hội.

5. Kết luận

Giáo dục bản lĩnh chính trị là một bộ phận trực tiếp của mục tiêu phát triển con người toàn diện và nguồn nhân lực chất lượng cao tại Hải Phòng. Trong môi trường số và hội nhập sâu rộng, bản lĩnh của sinh viên cần được nhìn nhận như sự thống nhất giữa hiểu biết chính trị – pháp luật, niềm tin có cơ sở, tư duy độc lập, khả năng tự chủ trước thông tin phức tạp và hành động công dân có trách nhiệm. Phân tích tài liệu cho thấy các trường đã có nền tảng về chương trình, tổ chức và môi trường rèn luyện, song tính thực tiễn của nội dung, mức độ tương tác, năng lực thông tin, cơ chế phối hợp và đánh giá vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

Để khắc phục, bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp có quan hệ hữu cơ: xây dựng chuẩn đầu ra; cập nhật nội dung gắn với Hải Phòng, nghề nghiệp và môi trường số; phát triển đối thoại, trải nghiệm và học tập phục vụ cộng đồng; kiến tạo hệ sinh thái giáo dục số; nâng cao năng lực đội ngũ và phối hợp đa chủ thể; đổi mới đánh giá gắn với lộ trình thực hiện. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có nguồn lực và minh chứng. Do nghiên cứu dựa trên nguồn thứ cấp, nghiên cứu tiếp theo cần khảo sát và phỏng vấn tại từng nhóm trường để kiểm định khung năng lực, đánh giá tác động của mô hình thí điểm và hoàn thiện chính sách cho hệ thống đại học Hải Phòng.

Tài liệu tham khảo:
Grizzle, A., Wilson, C., Tuazon, R., Cheung, C. K., Lau, J., Fischer, R., Gordon, D., Akyempong, K., Singh, J., Carr, P. R., Stewart, K., Tayie, S., Suraj, O., Jaakkola, M., Thésée, G., Gulston, C., Andzongo Menyeng, B. P., & Zibi Fama, P. A. (2021). Media and information literate citizens: Think Critically, click wisely! Media & information literacy curriculum for educators and learners (2nd ed.). UNESCO. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000377068.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT ngày 15/5/2026 quy định về công tác sinh viên.
Beaumont, E., Colby, A., Ehrlich, T., & Torney-Purta, J. (2006). Promoting political competence and engagement in college students: An empirical study. Journal of Political Science Education, 2(3), 249–270. https://doi.org/10.1080/15512160600840467
Celio, C. I., Durlak, J., & Dymnicki, A. (2011). A meta-analysis of the impact of service-learning on students. Journal of Experiential Education, 34(2), 164–181. https://doi.org/10.1177/105382591103400205
Cổng Thông tin điện tử thành phố Hải Phòng (12/8/2026). Ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng giữ vững vị thế trong nhóm dẫn đầu cả nước. https://haiphong.gov.vn/tin-so-nganh/nganh-giao-duc-va-dao-tao-hai-phong-giu-vung-vi-the-trong-nhom-dan-dau-ca-nuoc-947948
Hà, T. P. T. (20/4/2021). Nâng cao bản lĩnh chính trị của sinh viên hiện nay (qua khảo sát tại các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ). Tạp chí Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/nang-cao-ban-linh-chinh-tri-cua-sinh-vien-hien-nay-qua-khao-sat-tai-cac-truong-dai-hoc-vung-bac-trung-bo-960.html
Kahne, J., & Bowyer, B. (2017). Educating for democracy in a partisan age: Confronting the challenges of motivated reasoning and misinformation. American Educational Research Journal, 54(1), 3–34. https://doi.org/10.3102/0002831216679817
McGrew, S., Smith, M., Breakstone, J., Ortega, T., & Wineburg, S. (2019). Improving university students’ web savvy: An intervention study. British Journal of Educational Psychology, 89(3), 485–500. https://doi.org/10.1111/bjep.12279
Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng (11/12/2023). Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác giáo dục chính trị đối với học sinh, sinh viên. https://sokhcn.haiphong.gov.vn/tin-tuc-noi-bat/nghien-cuu-de-xuat-mot-so-giai-phap-tang-cuong-cong-tac-giao-duc-chinh-tri-doi-voi-hoc-sinh-sinh-661568
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 phê duyệt Chương trình “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021–2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 311/QĐ-TTg ngày 05/3/2011 phê duyệt Chương trình “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng trên không gian mạng giai đoạn 2022–2030”.
Trần, T. M. N. (2023). Xây dựng và củng cố bản lĩnh, bản lĩnh chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 29(3), 76–80. https://doi.org/10.66057/llcttt-30280
UNESCO (2015). Global citizenship education: Topics and learning objectives. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000232993
UNESCO (2023). Global education monitoring report 2023: Technology in education: A tool on whose terms? https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000385723
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025). Quyết định số 3849/QĐ-UBND ngày 23/9/2025 ban hành Kế hoạch nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2025–2026 của ngành Giáo dục thành phố Hải Phòng.