Đô thị hóa và sự hình thành lối sống nông thôn – đô thị đan xen của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Urbanization and the emergence of an interwoven rural-urban lifestyle among farmers in the Red River Delta today

ThS. Khuất Thị Vang
NCS Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: Vangk52@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng đang vượt ra ngoài quá trình mở rộng địa giới và gia tăng dân số đô thị, trở thành một quá trình tái cấu trúc sâu sắc không gian kinh tế – xã hội nông thôn. Sự chuyển đổi đất đai, mở rộng các hành lang công nghiệp – đô thị – dịch vụ, gia tăng di động lao động, đa dạng hóa sinh kế và phổ cập hạ tầng số đã làm suy giảm sự trùng khít truyền thống giữa nơi cư trú, nghề nghiệp, nguồn thu nhập, quan hệ xã hội và bản tính nông dân. Dưới áp lực của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, sự phát triển của các khu công nghiệp và mạng lưới giao thông kết nối, không gian làng xã đồng bằng sông Hồng không còn thuần túy mang tính nông nghiệp. Thay vào đó, một kiểu lối sống mới – lối sống “nông thôn – đô thị đan xen” đã hình thành và trở thành đặc trưng cốt lõi của cư dân vùng ven. Bài viết làm rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, định hướng phát triển bền vững cho cộng đồng nông dân trong quá trình hiện đại hóa.

Từ khóa: Đô thị hóa; lối sống; nông dân; nông thôn – đô thị; Đồng bằng sông Hồng.

Abstract: Urbanization in the Red River Delta is transcending mere territorial expansion and urban population growth, becoming a process of profound socio-economic spatial restructuring in rural areas. Land conversion, the expansion of industrial-urban-service corridors, increased labor mobility, livelihood diversification, and the widespread adoption of digital infrastructure have eroded the traditional alignment between place of residence, occupation, income source, social relations, and “peasant” identity. Driven by agricultural land acquisition and the development of industrial zones and transport networks, the village landscape of the Red River Delta has ceased to be purely agricultural. Instead, a new lifestyle characterized by an “interwoven rural-urban” nature has emerged as a defining feature for peri-urban residents. This article examines this reality and proposes solutions to manage and guide the sustainable development of farming communities amid modernization.

Keywords: Urbanization; lifestyle; farmers; rural-urban; Red River Delta.

1. Đặt vấn đề

Đô thị hóa là tất yếu của sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch và xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030 xác định tỷ lệ đô thị hóa cả nước khoảng 36,8% (năm 2020), dự báo đến năm 2030 tăng khoảng 50% (năm 2030). Quá trình đô thị hóa tác động đến vùng nông thôn làm biến đổi cấu trúc thiên nhiên, cấu trúc làng xã, văn hóa truyền thống, biến động dân số, đất đai, kinh tế – xã hội. Nếu quản lý đô thị hóa hiệu quả, sẽ là động lực tăng trưởng quốc gia; nếu quản lý đô thị hóa không hiệu quả, sẽ gây hệ lụy đến đời sống của nông dân.

Đồng bằng sông Hồng là địa bàn đặc biệt; đây là vùng có mật độ cư trú cao, truyền thống làng xã bền vững, mức độ thâm canh nông nghiệp lớn, nhưng đồng thời cũng tập trung nhiều trung tâm đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, cơ sở dịch vụ và các hành lang giao thông quan trọng. Những nghiên cứu từ đầu thế kỷ XXI đã ghi nhận sự chuyển dịch của kinh tế hộ tại đồng bằng sông Hồng từ sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang kết hợp nông nghiệp hàng hóa với các hoạt động phi nông nghiệp, trong đó liên kết với thị trường đô thị và khả năng di chuyển lao động ngày càng giữ vai trò quan trọng.

Quá trình trên hiện đang được thúc đẩy bởi những thay đổi mạnh mẽ trong định hướng phát triển của vùng. Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị xác định: “Mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ đô thị hóa của đồng bằng sông Hồng đạt trên 55%, kinh tế số khoảng 35% GRDP; 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, ít nhất 50% đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 20% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu”, đồng thời xác định phát triển nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn gắn với xây dựng “nông thôn mới hiện đại, nông dân văn minh”, đồng thời yêu cầu xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu gắn với đô thị hóa.

2. Những vấn đề cơ bản về đô thị hóa

Quá trình đô thị hóa khiến một số không gian nông thôn chuyển sang đô thị. Quá trình chuyển hóa này rất phức tạp, làm suy thoái môi trường, văn hóa – xã hội, gây hệ lụy đến sự phát triển bền vững của vùng lãnh thổ. Để quản lý khu dân cư nông thôn gắn với quá trình đô thị hóa, cần phải nắm bắt khu vực nào chịu tác động của đô thị hóa, hiểu mức độ tác động của đô thị hóa đến đâu, và các yếu tố nào tác động đến quá trình chuyển đổi này. Không gian định cư có 2 hình thức: đô thị và nông thôn.

Theo khoản 1, Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị định nghĩa: “Đô thị là nơi tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương; bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”. Dân số tối thiểu từ 4.000 người trở lên. Về bản chất, đô thị là khu vực có sự tập trung cao về dân cư, mật độ xây dựng và tiềm lực kinh tế so với các khu vực xung quanh. Hình thức kinh tế chính là kinh tế phi nông nghiệp. Đô thị có quy mô càng lớn càng có tiềm lực phát triển và tầm ảnh hưởng vượt ra ngoài ranh giới hành chính của nó trong hệ thống mạng lưới đô thị và vùng lãnh thổ liền kề. Đô thị hóa là quá trình mở rộng đô thị và hình thành lối sống đô thị, có 3 loại: đô thị hóa nông thôn, đô thị hóa ngoại vi và đô thị hóa tự phát.

Đô thị hóa nông thôn là quá trình phát triển nông thôn và xây dựng lối sống thành thị ở khu vực nông thôn (hình thức nhà cửa, cách sống, phong cách sinh hoạt…). Đây là cách tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững và có tính quy luật, có sự can thiệp của Nhà nước, thường được chỉ đạo từ trên xuống theo quy hoạch và kế hoạch, nhằm mục tiêu đô thị hóa tại chỗ “ly nông bất ly nông”. Loại này cần được quản lý và kiểm soát phát triển theo quy hoạch đô thị và quy hoạch đất đai hiện hành; bảo đảm cơ chế, chính sách hợp lý cho việc chuyển đổi cơ cấu đất đai, cơ cấu lao động và tái định cư.  

Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh của khu vực ngoại vi thành phố do ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng và phát triển công nghiệp, tạo ra các cụm liên đô thị; đô thị hóa góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn. Loại này còn có tên gọi khác là đô thị hóa ven đô hoặc đô thị hóa vùng ven đô. Dạng thức này diễn ra trên diện rộng từ khi thực hiện công cuộc đổi mới.

Đô thị hóa tự phát là quá trình phát triển thành phố do sự gia tăng dân số quá mức và tỷ lệ di dân từ nông thôn đến khu vực thành thị lớn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và giảm sút chất lượng cuộc sống. Loại này phản ánh tình trạng phát triển thiếu kiểm soát của Nhà nước. Dạng thức này diễn ra trên diện hẹp và cục bộ. Trong 3 loại nêu trên, đô thị hóa ngoại vi (vùng ven đô) có tính phức tạp cao nhất và khó quản lý nhất. Đô thị lớn càng lớn thì vùng ven đô càng lớn và càng phức tạp.

Nông thôn là khu vực có mật độ dân cư thấp, nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo. Do đặc tính tự cung tự cấp và tương đối khép kín, nông thôn thuần túy không có nhiều tiềm năng tăng trưởng. Quá trình chuyển đổi từ nông thôn thành đô thị hình thành thêm không gian định cư thứ 3 có dạng thức nửa đô thị, nửa nông thôn, có thể gọi là không gian định cư hỗn hợp đô thị – nông thôn. Loại hình định cư này đã được nghiên cứu ở nhiều chiều cạnh khác nhau, nhưng trong quy định pháp luật vẫn chưa có thuật ngữ và khái niệm. Do đó, làm khó khăn cho công tác quản lý trong việc thực hiện quy hoạch.

Lối sống được hiểu là hệ thống tương đối ổn định các phương thức tổ chức hoạt động sống của cá nhân và nhóm xã hội, thể hiện trong lao động, tiêu dùng, sử dụng thời gian, tổ chức gia đình, giao tiếp, tham gia cộng đồng và định hướng giá trị.

Lối sống nông thôn – đô thị đan xen là trạng thái văn hóa – xã hội mà ở đó, các chủ thể vừa duy trì các yếu tố của lối sống truyền thống (như tính cộng đồng làng xã, quan hệ huyết thống dòng họ, tính tiết kiệm, thói quen canh tác, tín ngưỡng thờ cúng), vừa tiếp nhận mạnh mẽ các yếu tố của lối sống đô thị (như tính cá nhân, xu hướng tiêu dùng hiện đại, tính thực dụng, sự phân hóa nghề nghiệp tinh vi, và việc sử dụng công nghệ số).

Như vậy, “đan xen” không phải là “cộng gộp”. Người nông dân làm việc tại một doanh nghiệp không đơn giản chỉ mang “lối sống đô thị” trong 8 giờ rồi quay lại “lối sống nông thôn” khi về nhà. Kỷ luật lao động công nghiệp có thể làm thay đổi cách họ sử dụng thời gian trong gia đình; thu nhập tiền lương làm thay đổi quyền quyết định trong hộ; trải nghiệm thị trường lao động làm thay đổi quan niệm về việc giáo dục con cái; công nghệ số làm thay đổi cả cách duy trì quan hệ họ hàng và tổ chức các hoạt động cộng đồng. Hai hệ thống tác động qua lại.

 Đồng thời, đan xen không đồng nghĩa với quá độ nhất thời. Một quan niệm tuyến tính về hiện đại hóa giả định rằng trạng thái hỗn hợp chỉ tồn tại cho đến khi nông thôn hoàn toàn trở thành đô thị. Giả định này khó giải thích các mô hình cư trú trong đó người dân có thể sống lâu dài tại làng nhưng làm việc tại đô thị, duy trì ruộng đất nhưng không phụ thuộc vào thu nhập nông nghiệp, sử dụng dịch vụ đô thị nhưng vẫn tiếp tục tham gia các thiết chế làng xã. Bên cạnh đó, đan xen không đồng nghĩa với sự đồng nhất. Mức độ đô thị hóa và lối sống khác nhau giữa các nhóm tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, vị trí địa lý và nguồn lực kinh tế. Vì vậy, ngay trong cùng một làng hoặc trong một hộ gia đình có thể tồn tại nhiều mức độ và dạng thức đan xen khác nhau.

3. Thực trạng đô thị hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Vùng đồng bằng sông Hồng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước; nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc của dân tộc. Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế vượt trội để phát triển nhanh, bền vững, vùng đồng bằng sông Hồng thực sự là vùng động lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước.

Một là, về quy mô dân số và phân bổ dân cư.

 Đồng bằng sông Hồng là vùng có quy mô dân số lớn nhất và mật độ dân số cao nhất nước, tập trung ở lưu vực các con sông lớn có đất đai màu mỡ và có nước để canh tác, tiêu biểu là sông Hồng. Di dân nội vùng diễn ra mạnh mẽ, nhưng di dân ngoại vùng diễn ra yếu ớt. Do đó, tỷ suất di cư là thấp nhất cả nước; riêng Hà Nội có tỷ suất nhập cư cao thứ hai cả nước, chỉ đứng sau TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do làm tốt công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình nên tốc độ tăng dân số của vùng khá thấp và ổn định. Mật độ dân số của các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu vượt trên 1000 người/km², vượt trội so với các vùng khác trong cả nước. Điều này có nghĩa là dân số đang tập trung rất đông ở vùng này, gây khó khăn và quá tải cho công tác quản lý, cơ sở vật chất cũng như thị trường lao động.

Hai là, về chất lượng dân số.

Đồng bằng sông Hồng là vùng có trình độ phát triển cao thứ hai cả nước, chỉ đứng sau Đông Nam Bộ. Tỷ số phụ thuộc ở nước ta không ngừng giảm, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế – xã hội, kinh tế gia đình và tiết kiệm đầu tư phát triển. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị của đồng bằng sông Hồng cao, cho thấy vẫn thiếu nhiều việc làm ở cả thành thị và nông thôn. Tỷ lệ dân số có chuyên môn kỹ thuật chưa cao.

Ba là, sự suy giảm đất sản xuất nông nghiệp.

Dưới áp lực của các dự án bất động sản, khu công nghiệp và hạ tầng giao thông, diện tích đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng suy giảm nghiêm trọng qua từng năm. Người nông dân rơi vào tình trạng thiếu đất hoặc hoàn toàn mất đất sản xuất. Việc mất đi tư liệu sản xuất cốt lõi này là ngòi nổ buộc người nông dân phải thay đổi sinh kế và định hình một lối sống hoàn toàn mới để sinh tồn.

Bốn là, gây sức ép lớn đến môi trường.

Vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị đang là một sức ép lớn, gây ra tình trạng quá tải cho hạ tầng. Thiếu hệ thống thu gom và các trạm xử lý nước thải tập trung; tỷ lệ đất cây xanh và công viên thấp. Ô nhiễm bụi tại các khu vực đô thị vẫn duy trì ở ngưỡng cao; ô nhiễm môi trường nước tại các sông hồ, kênh rạch nội thành, nội thị diễn biến phức tạp; vấn đề úng ngập tại các đô thị có xu hướng mở rộng và gia tăng. Sự suy giảm mực nước dưới đất trở nên phổ biến; tỷ lệ chất thải rắn đô thị được xử lý đúng kỹ thuật, hợp vệ sinh môi trường còn thấp

4. Giải pháp định hướng và phát triển bền vững lối sống nông thôn – đô thị đan xen của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Thứ nhất, quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng tương xứng với khả năng và thế mạnh của vùng.

Tích cực đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp, dựa trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Chú trọng phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, công nghệ cao, ít phát thải khí nhà kính, có khả năng cạnh tranh, giá trị gia tăng cao, tham gia sâu, toàn diện vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, có lợi thế như công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ số, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm, trí tuệ nhân tạo, ô tô, công nghiệp hỗ trợ; thúc đẩy phát triển sản xuất thông minh và mô hình nhà máy thông minh. Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mới như chip, bán dẫn, robot, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng tái tạo và vật liệu mới. Thúc đẩy phát triển các vành đai công nghiệp, hình thành các cụm liên kết ngành và các khu công nghiệp chuyên biệt.

Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, sinh thái theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, nông dân văn minh. Phát huy lợi thế nông nghiệp nhiệt đới, sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đa dạng theo chuỗi giá trị; phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với phát triển công nghiệp, dịch vụ, tạo việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.

Tập trung phát triển các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh quy mô lớn, chất lượng cao như lúa, rau, hoa, quả đặc sản, cây cảnh; phát triển mạnh chăn nuôi công nghiệp công nghệ cao với các sản phẩm chủ lực như lợn, bò, gia cầm; đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu. Nâng cao chất lượng rừng đặc dụng và rừng phòng hộ ven biển. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó chú trọng xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu gắn với đô thị hóa. Bảo vệ, giữ gìn môi trường, không gian cảnh quan, gắn phát triển các làng nghề truyền thống với phát triển du lịch.

Thứ hai, chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo và ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào phát triển toàn diện của vùng.

Phát huy vai trò là trung tâm của cả nước trong đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng tập trung phát triển năng lực, kỹ năng, phẩm chất cho người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ. Đổi mới giáo dục mầm non theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của trẻ em. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cả về trí tuệ lẫn thể chất; hình thành phẩm chất, năng lực cho người học; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Tăng cường đầu tư, phát triển các trường đại học lớn, đa ngành trong vùng theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao cho vùng và cả nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, xã hội hóa và tự chủ đại học; tập trung đầu tư xây dựng một số ngành đào tạo mũi nhọn đạt trình độ khu vực, thế giới, chú trọng các chương trình đào tạo cử nhân tài năng, chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến và các chương trình đào tạo quốc tế. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, hội nhập quốc tế; thúc đẩy chuyển dịch và phân bổ hợp lý lao động; hình thành cơ sở dữ liệu quản lý lao động, kết nối với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Đồng thời, tập trung phát triển vùng trở thành trung tâm khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hàng đầu của cả nước. Chú trọng nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và công nghệ số. Triển khai hiệu quả, đồng bộ các chương trình khoa học – công nghệ quốc gia và địa phương. Tăng cường tiềm lực khoa học – công nghệ ở một số lĩnh vực có thế mạnh đạt trình độ quốc tế. Xây dựng chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ cho vùng. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia, thành lập, mở rộng quy mô các quỹ phát triển khoa học – công nghệ; thành lập và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện, trường, cơ sở nghiên cứu; phát triển thị trường khoa học – công nghệ hiệu quả, hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ. Thúc đẩy chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp; hình thành các cụm liên kết sản xuất – chế biến và tiêu thụ nông sản gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thứ ba, tích cực, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại gắn với đô thị hóa vùng.

Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, bền vững gắn với đô thị hóa, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả, vì lợi ích của người dân. Tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và xây dựng nông thôn mới cấp thôn, cấp bản. Quy hoạch, kiến trúc khu dân cư, công trình, nhà ở phù hợp với truyền thống văn hóa, cảnh quan, môi trường và điều kiện thực tế của từng địa phương, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng dụng khoa học – công nghệ trong thiết kế, quản lý và xây dựng kiến trúc nông thôn. Cải thiện điều kiện sống, nhà ở; đổi mới tư duy, nếp sống; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, và phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ, hiện đại, kết nối với đô thị, nhất là các khu vực ven đô thị lớn, phường, xã trọng điểm, từng bước tiệm cận về điều kiện hạ tầng, dịch vụ của đô thị; đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá kết cấu hạ tầng giao thông, chuyển đổi số, văn hoá, giáo dục, y tế; cung cấp nước sạch theo quy chuẩn; nâng cấp, bảo đảm an toàn các công trình thuỷ lợi, phòng, chống thiên tai, đê sông, đê biển, kè chống sạt lở bờ sông, bờ biển. Khẩn trương, quyết liệt xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm do rác thải và nước thải. Xây dựng cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, văn minh, giàu bản sắc văn hóa truyền thống.

Thứ tư, quan tâm đẩy mạnh phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên địa bàn.

Phát triển văn hoá ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, hướng tới chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, tạo sức mạnh nội sinh to lớn của vùng; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức sáng tạo, tinh thần cống hiến, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh của Nhân dân trong vùng. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch; gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, không gian, kiến trúc văn hóa làng, xã nông thôn truyền thống; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Phát triển mạng lưới thiết chế văn hóa đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Xây dựng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa đặc trưng của nền văn minh Sông Hồng.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế thể thao. Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, phổ cập và hiện đại; hỗ trợ người dân ứng phó hiệu quả với các rủi ro kinh tế – xã hội và môi trường. Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các chương trình, đề án, chính sách về ưu đãi người có công, giảm nghèo bền vững, trợ giúp xã hội; quan tâm, tạo điều kiện để các đối tượng yếu thế tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên hòa nhập cộng đồng. Phát triển đồng bộ hệ thống y tế vùng theo quy hoạch. Làm tốt công tác chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. Tiếp tục ưu tiên nguồn lực để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, hướng tới bảo đảm bao phủ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế toàn dân.

5. Kết luận

Quá trình đô thị hóa tại vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay là một tất yếu khách quan, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự hình thành lối sống nông thôn – đô thị đan xen của người nông dân đồng bằng sông Hồng là một kết quả sinh động của quá trình thích ứng, dung hợp văn hóa giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại. Kiểu lối sống này mang trong mình cả sự năng động, nhạy bén của kinh tế thị trường lẫn sự ấm áp, gắn kết của tình nghĩa làng xã; nhưng đồng thời cũng chứa đựng những mâu thuẫn, khủng hoảng về bản sắc, sinh kế và môi trường sinh thái.

Lối sống đan xen không phải là một trạng thái méo mó cần phải triệt tiêu để tiến lên đô thị thuần túy, mà cần được nhìn nhận như một mô hình không gian – xã hội đặc thù, sẽ tồn tại lâu dài trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Thực hiện thành công việc quy hoạch, bảo đảm an sinh sinh kế và giữ gìn các giá trị cốt lõi của nền văn minh sông Hồng chính là con người hiện đại hóa nhân văn nhất, đưa người nông dân vững vàng bước vào kỷ nguyên mới mà không bị bật rễ khỏi nguồn cội truyền thống của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW 16/06/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 612/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Cục Thống kê (2026). Kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, Hà Nội, 2026.