Thực thi chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên

Implementation of reproductive health care policies for ethnic minority adolescents in Thai Nguyen Province

TS. Trương Thị Thu Thủy
ThS. Hà Thị Minh Khương
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: thuyttt.ihfgs@vass.dcs.vn; khuonghtm.ihfgs@vass.dcs.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên. Bằng phương pháp phân tích định tính, bài viết cho thấy, chính quyền địa phương các cấp ở Thái Nguyên đã có sự quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế, dân số. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn do sự hạn chế trong phối hợp giữa các ban, ngành, ít có hoạt động dành riêng cho nhóm vị thành niên, rào cản từ nhận thức và thái độ của gia đình và vị thành niên. Bài viết đề xuất một số giải pháp, trong đó có tăng cường truyền thông số để tăng khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ đối với các nhóm vị thành niên, từ đó thay đổi thái độ, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em.

Từ khóa: Chính sách chăm sóc sức khỏe; sức khỏe sinh sản; vị thành niên; dân tộc thiểu số; tỉnh Thái Nguyên.

Abstract: This study examines the opportunities and challenges in implementing reproductive health care policies for ethnic minority adolescents in Thai Nguyen province. Employing the qualitative analytical methods, the results showed that authorities at different administrative levels in Thai Nguyen have demonstrated a strong commitment to implementing reproductive health policies for ethnic minority adolescents through investments in health infrastructure and the strengthening of the health and population workforce. Despite these efforts, several challenges persist. These include limited intersectoral coordination among relevant agencies, the lack of interventions specifically designed for adolescents, and constraints arising from the knowledge, perceptions, and attitudes of both families and adolescents toward reproductive health care. The study recommends strengthening communication strategies through the application of digital technologies to enhance adolescents’ access to reproductive health information and services, thereby shifting their attitudes and behaviors regarding reproductive health care.

Keywords: Health care policy; reproductive health; adolescents; ethnic minority; Thai Nguyen Province.

1. Đặt vấn đề

Chính sách chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng vô cùng quan trọng trong xây dựng và phát triển nguồn lực con người cho đất nước. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc cải thiện khả năng tiếp cận và bao phủ của các chính sách can thiệp cấp quốc gia về sức khỏe sinh sản đã góp phần vào việc giảm tỷ lệ sinh ở tuổi vị thành niên, giảm tử vong bà mẹ và trẻ em, bảo đảm sự công bằng xã hội và sự bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (Quỹ Dân số Liên Hợp quốc, 2019).

Nhìn chung, hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên ở Việt Nam tương đối đầy đủ với các văn bản có nội dung đề cập đến các khía cạnh liên quan tới sức khỏe sinh sản của vị thành niên dân tộc thiểu số ở mức độ khác nhau, thể hiện sự cam kết của Chính phủ. Bộ Y tế cũng xác định đây là một nội dung quan trọng trong các chiến lược, chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân. Kết quả thực hiện các chương trình và chiến lược quốc gia là Việt Nam đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản của người dân trong những thập kỷ qua, trở thành một trong sáu quốc gia trên thế giới đạt được mục tiêu giảm tử vong mẹ thuộc Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015 (Quỹ Dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam, n.d., 2026). Việc được tiếp cận với các quyền và được chăm sóc sức khỏe sinh sản còn có thể làm giảm tình trạng tảo hôn vốn khá phổ biến ở một số vùng dân tộc thiểu số, giảm mang thai ở tuổi vị thành niên, ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nâng cao chất lượng dân số (Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, 2020). Tuy nhiên, thực tiễn triển khai các chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên ở địa phương còn nhiều vấn đề tồn tại, nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số.

Bài viết tập trung phân tích hai nội dung sau: một là, điểm qua các chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước; hai là, khái quát tình hình triển khai chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên. Ngoài tài liệu thứ cấp, các dữ liệu sơ cấp được sử dụng trong bài viết bao gồm 04 phỏng vấn sâu các cán bộ y tế cấp xã/cấp tỉnh (đã được mã hóa) và 1 thảo luận nhóm chính quyền cấp xã của Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2025 – 2026 “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên” (mã số nhiệm vụ: KHXH/NV/2025-19), do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện. Nhiệm vụ đã thực hiện khảo sát tại xã Dân Tiến và xã Võ Nhai – hai xã vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, với mẫu khảo sát định lượng là 305 nam, nữ vị thành niên từ 15-19 tuổi là người dân tộc Tày và dân tộc Dao và 22 cuộc phỏng vấn định tính (gồm 18 phỏng vấn sâu và 4 thảo luận nhóm). Về đặc điểm mẫu nghiên cứu, nhóm tuổi 15-17 chiếm 76,1% và nhóm 18-19 tuổi chiếm 23,9%. Về thành phần dân tộc, vị thành niên là dân tộc Tày chiếm 42,6% và dân tộc Dao chiếm 57,4%. Về giới tính, nhóm nam chiếm 45,9% và nữ chiếm 54,1%. Về trình độ học vấn hiện có, 12,1% vị thành niên có học vấn trung học cơ sở, 78,4% có học vấn ở bậc trung học phổ thông và 9,5% đang học trung cấp – cao đẳng – đại học. Về tình trạng đi học, có 79,3% em đang đi học và 20,7% đã nghỉ học.

2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số

Các chính sách chăm sóc sức khỏe trẻ em nói chung và sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số nói riêng ở Việt Nam được xây dựng dựa trên những trụ cột hiến định và đạo luật:

(1) Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): khẳng định quyền bất khả xâm phạm về chăm sóc sức khỏe và quyền trẻ em được bảo vệ (Điều 37, 38). Đây là nền tảng tối cao (Quốc hội, 2013, 2025).

(2) Luật Trẻ em năm 2016: lần đầu tiên luật hóa quyền được tư vấn, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp độ tuổi (Điều 15, 43), đặc biệt ưu tiên trẻ em dân tộc thiểu số (Quốc hội, 2016).

(3) Luật Bình đẳng giới năm 2006: khẳng định con trai, con gái được chăm sóc, phát triển như nhau (Điều 18), và bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Điều 17) – nền tảng để xóa bỏ định kiến giới trong chăm sóc y tế nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng (Quốc hội, 2006).

(4) Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật Dân số năm 2025): Nhà nước dành ngân sách thích đáng mở rộng y tế cơ sở cho vùng dân tộc thiểu số (Điều 42, 46) (Quốc hội, 1989; Quốc hội, 2025).

Trong lĩnh vực y tế, các chính sách chăm sóc sức khỏe vị thành niên dân tộc thiểu số dựa trên các trụ cột sau:

(1) Pháp lệnh Dân số năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): đánh dấu sự chuyển biến nhận thức từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “nâng cao chất lượng dân số”. Ghi nhận rõ trách nhiệm nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đồng bào dân tộc thiểu số (Điều 15). Hiện nay, Pháp lệnh Dân số được thay thế bằng Luật Dân số năm 2025 với trọng tâm là tiếp cận toàn diện về dân số và phát triển.

(2) Trụ cột thực thi (chiến lược, chương trình, đề án) gồm Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam (2011 – 2020) và Kế hoạch/Đề án quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên/thanh niên (2020 – 2025; 2021 – 2025) và gần đây nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (2021 – 2030).

Như vậy, việc xây dựng và thực thi chính sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ em và vị thành niên dân tộc thiểu số được định hướng bởi ba quan điểm cơ bản. Thứ nhất, chuyển từ tư duy “bảo vệ” sang tiếp cận dựa trên quyền. Sự chuyển đổi từ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Quốc hội, 1991, 2004) sang Luật Trẻ em năm 2016 thể hiện bước phát triển trong nhận thức và cách tiếp cận chính sách, theo đó trẻ em không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ mà còn là chủ thể có quyền được chăm sóc sức khỏe, tư vấn và hỗ trợ về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi.

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc ưu tiên có tính đích đáng. Chính sách cần được triển khai phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của từng nhóm đối tượng, tránh cách tiếp cận cào bằng, trong đó ưu tiên nguồn lực, ngân sách và nhân lực cho trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em ở vùng sâu, vùng xa và trẻ em thuộc hộ nghèo nhằm giảm thiểu những bất lợi trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Thứ ba, bảo đảm bình đẳng và không phân biệt đối xử. Mọi trẻ em, không phân biệt giới tính, dân tộc hay hoàn cảnh kinh tế – xã hội, đều có quyền tiếp cận dịch vụ y tế và được chăm sóc sức khỏe toàn diện trên cơ sở bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Ba quan điểm này là cơ sở định hướng việc xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách, hướng tới bảo đảm quyền chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ em và vị thành niên dân tộc thiểu số một cách công bằng, phù hợp và hiệu quả.

Các quy định pháp luật tạo hành lang pháp lý để nâng cao chất lượng dân số và sức khỏe sinh sản được tập trung xây dựng là cơ sở để triển khai các chiến lược, chương trình quốc gia chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Các chiến lược, chương trình quốc gia, một mặt, hoàn thiện hơn chính sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản, mặt khác, thể hiện rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước về tập trung nguồn lực để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe sinh sản. Các chiến lược, chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong 15 năm trở lại đây, trong đó đặc biệt là Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020,khẳng định mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Thủ tướng Chính phủ, 2011). Trong 10 dự án thành phần thì có Dự án 7: “Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em”, hướng tới mục tiêu: cải thiện sức khỏe của người dân tộc thiểu số về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ; tăng cường công tác y tế cơ sở để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại.

Với mục tiêu này, tháng 3/2025, Bộ Y tế đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn triển khai mô hình góc truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và sức khỏe bà mẹ, trẻ em tại một số trường phổ thông dân tộc nội trú” và áp dụng tại các địa phương triển khai Chương trình và các địa phương khác khi có nhu cầu. Trong đó, Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2020 – 2025 theo Quyết định số 3781/QĐ-BYT ngày 28/8/2020 của Bộ Y tếxác định đầu tư cho chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục là đầu tư cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước (Bộ Y tế, 2020). Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên nói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng vẫn còn một số những bất cập, như: kiến thức, kỹ năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên còn hạn chế; việc cung cấp thông tin, dịch vụ thân thiện về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của vị thành niên, thanh niên; vẫn còn tình trạng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục… của vị thành niên, thanh niên. Đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, các khu công nghiệp tập trung, các nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số, khuyết tật, đồng giới nam…).

Trong Đề án Chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định số 5914/QĐ-BYT ngày 29/12/2021 của Bộ Y tế xác địnhmục tiêu chung là: cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên, thanh niên thông qua việc đẩy mạnh truyền thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ chuyên môn kỹ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục có chất lượng, phù hợp với điều kiện học tập, làm việc và sinh hoạt của các nhóm vị thành niên, thanh niên (Bộ Y tế, 2021). Từ đó góp phần đưa vị thành niên trở thành một lực lượng lao động khỏe mạnh, phát huy hết tiềm năng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

3. Thực trạng triển khai các chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên ở Thái Nguyên

3.1. Tình hình thực hiện chính sách tại tỉnh

Thái Nguyên đã xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên từ năm 2006 – 2007. Qua rà soát, Sở Y tế xác định còn thiếu một số chính sách cho những đối tượng yếu thế ở vùng dân tộc thiểu số miền núi, trong khi vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết vốn tập trung nhiều ở khu vực này. Sở Y tế đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 141/KH-UBND ngày 13/8/2021, nhằm kết hợp và lồng ghép hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản vào các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 để triển khai việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân ở các khu vực vùng sâu vùng xa, trong đó có xã Dân Tiến và xã Võ Nhai hiện nay (Phỏng vấn sâu YT03) (UBND, 2021). Ngày 29/8/2026, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 390/KH-UBND thực hiện Đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026 – 2030, xác định thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số là nhóm ưu tiên (UBND, 2026). Đây là những cơ sở pháp lý để địa phương đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số.

Trong việc tăng cường truyền thông qua đổi mới hình thức và nội dung tuyên truyền là một hoạt động chính trong triển khai chính sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tỉnh Thái Nguyên, hằng năm, Sở Y tế triển khai đào tạo tập huấn kỹ năng truyền thông cho người có uy tín, cựu chiến binh, cán bộ đoàn và báo cáo viên cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân, chăm sóc thai nhi, giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết. Kết quả là số ca tảo hôn đã giảm từ 31 cặp năm 2021 xuống còn 14 cặp năm 2024 và không có tình trạng hôn nhân cận huyết thống, tỷ lệ phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh bẩm sinh phổ biến nhất năm 2024 đạt 38,6%, tỷ lệ nam nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân năm 2024 đạt 24,6% (Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, 2025).

Đối với nhóm vị thành niên dân tộc thiểu số, ngoài hoạt động truyền thông,Sở Y tế thường xuyên tổ chức các đội dịch vụ lưu động chất lượng cao khám và tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân cho các em; triển khai cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và biện pháp tránh thai hiện đại tới tận người sử dụng.

Đối với nhóm vị thành niên trong nhà trường, hàng năm, Sở Y tế phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính thông qua các hoạt động xây dựng mô hình câu lạc bộ “Bạn gái tiêu biểu”, chương trình truyền thông tư vấn “chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông”, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên trong các nhà trường như cuộc thi Rung chuông vàng (Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, 2025). Bên cạnh đó, Sở Y tế, trạm y tế xã trực tiếp đi nói chuyện chuyên đề tại các trường học (Phỏng vấn sâu YT03).

Đối với nhóm vị thành niên không đi học ở cộng đồng, hình thức sinh hoạt câu lạc bộ đang được triển khai, thời gian sinh hoạt thường là buổi tối để tăng cường khả năng tiếp cận đến các em (Phỏng vấn sâu YT03).

Đối với nhóm vị thành niên ở khu công nghiệp, Sở Y tế thường tổ chức hai đợt chiến dịch truyền thông/1 năm vào ngày cuối tuần để các em có thể đến tư vấn, khám phụ khoa, khám sức khỏe tiền hôn nhân; trạm y tế thành lập đội dịch vụ lưu động để khám sức khỏe bổ sung cho các em (Phỏng vấn sâu YT03).

3.2. Những thuận lợi và khó khăn

Với sự chỉ đạo sát sao và kịp thời của Tỉnh ủy Thái Nguyên, UBND tỉnh, các cấp ủy chính quyền địa phương, việc thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho người dân đạt nhiều kết quả tốt; đặc biệt là, tỉnh đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho công tác khám bệnh, chữa bệnh cho người dân đầy đủ, đáp ứng nhu cầu cơ bản từ cấp cơ sở; có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bảo đảm chất lượng, các cán bộ y tế cơ sở có trình độ chuyên môn.

Tính đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 962 cơ sở khám, chữa bệnh do nhà nước quản lý, trong đó có 35 bệnh viện, 92 trạm y tế xã, phường; tổng số nhân lực y tế là 12.301 người; 100% xã, phường có bác sĩ và đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã; số bác sĩ bình quân 10.000 dân tăng từ 16,68 (2020) lên 18,41 (2025); số giường bệnh bình quân 1 vạn dân đạt 60,01 giường/10.000 dân (Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2025, tr. 847, 853).

Hiện nay, Thái Nguyên có 40 khu công nghiệp và cụm công nghiệp, dự kiến sẽ tăng lên 68 khu công nghiệp vào năm 2030 (Ngọc Quang, 2026), thu hút lượng lớn công nhân trong độ tuổi vị thành niên ở địa phương và các tỉnh khác đến sinh sống và làm việc. Bên cạnh đó, Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn ở khu vực phía Bắc với hệ thống 424 trường học và trung tâm giáo dục đủ các cấp học (Báo Thái Nguyên điện tử, 2026). Do đó, đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn cho hệ thống y tế và giáo dục trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản hiệu quả cho nhóm tuổi đặc thù này.

Qua lựa chọn thông tin từ các cuộc phỏng vấn đối với cán bộ y tế cấp xã và tỉnh Thái Nguyên cho thấy một số khó khăn như: khó khăn trong tiếp cận nhóm vị thành niên ngoài nhà trường. Thảo luận nhóm cán bộ chính quyền xã cho biết nhiều vị thành niên trong lứa tuổi từ 15 – 19 tại khu vực Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên hiện đi làm xa không có ở địa phương. Điều này là trở ngại cho chính quyền địa phương trong việc truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại chỗ.

Một khó khăn khác là thái độ của gia đình và vị thành niên trong chăm sóc sức khỏe sinh sản. Thực tế, vẫn còn nhiều gia đình và vị thành niên có thái độ e ngại và hành vi chăm sóc chưa được tích cực. Ví dụ, như: một số bố mẹ, ông bà, người thân không đồng ý cho các em tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản mà Sở Y tế tỉnh tổ chức tại xã; hoặc hoạt động khám tiền hôn nhân còn kém hiệu quả do nhiều vị thành niên tin rằng, họ không có vấn đề gì về sức khỏe sinh sản nên không cần đi khám và do gia đình lo ngại việc cho con đi khám sẽ phát hiện ra bệnh khó chữa như bệnh về gene sẽ khiến các đối tượng kết hôn e ngại (Phỏng vấn sâu YT03). Bên cạnh khó khăn trong tiếp cận vị thành niên, đây cũng có thể là một nguyên nhân khiến cho chỉ tiêu năm 2025 có 50% nam, nữ vị thành niên, thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước hôn nhân không đạt được như kế hoạch đề ra (Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, 2025).

Sự liên kết phối hợp giữa các ban, ngành ở cấp xã, trường học và cơ sở y tế trong các hoạt động giáo dục giới tính, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nhóm vị thành niên dân tộc thiểu số còn rời rạc, chưa đồng bộ (Phỏng vấn sâu YT01). Bên cạnh đó, các hoạt động triển khai chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên hiện nay đang định hướng theo vùng (vùng sâu, vùng cao) chứ không theo nhóm vị thành niên đặc thù, dẫn đến có ít hoạt động cho nhóm tuổi này, ví dụ như chưa có buổi tập huấn, truyền đạt kỹ năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản dành riêng cho vị thành niên dân tộc thiểu số ở cộng đồng. Kết quả là tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai ngoài ý muốn và tảo hôn vẫn còn tồn tại (Phỏng vấn sâu YT03; YT04).

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, mở rộng kênh truyền thông số và lưu động cho vị thành niên ngoài nhà trường và thanh niên khu công nghiệp dưới hình thức các video ngắn, infographic trên kênh của đoàn thể, công đoàn, các nhóm truyền thông; duy trì các hoạt động truyền thông trực tiếp vào cuối tuần tại khu công nghiệp kèm đội dịch vụ y tế lưu động để mở rộng dịch vụ khám, tư vấn tới các khu vực xa theo Kế hoạch 390/KH-UBND.

Thứ hai, xây dựng các tài liệu ngắn bằng tiếng dân tộc, huy động cộng tác viên biết tiếng dân tộc nhằm tăng cường hiệu quả truyền thông đến gia đình vị thành niên dân tộc thiểu số, dần gỡ bỏ rào cản tâm lý và thay đổi thái độ của gia đình đối với việc chăm sóc sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi vị thành niên.

Thứ ba, đưa nội dung sức khỏe sinh sản vào trường theo lịch cố định, có cán bộ trạm y tế tham gia, theo hướng dẫn tại Quyết định 2621/QĐ-BYT ngày 21/6/2023 cho trường phổ thông dân tộc nội trú và mục tiêu của Kế hoạch 390/KH-UBND (100% trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đưa nội dung vào chương trình; 50% trường nội trú có góc truyền thông). Ngoài ra, cần phát triển nhiều tài liệu cung cấp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh, tăng thời lượng giáo dục nội dung này trong nhà trường và xây dựng thành các tiết học độc lập chứ không nên ghép vào môn giáo dục công dân như hiện nay.

Thứ tư, ổn định bộ máy công tác dân số, bảo đảm kinh phí và tách các hoạt động dành riêng cho vị thành niên. Bảo đảm 100% UBND cấp xã và các đơn vị liên quan có đủ kinh phí để triển khai Đề án Chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên theo Kế hoạch 390/KH-UBND; tăng phụ cấp cộng tác viên dân số và y tế thôn bản (hiện nay mức phụ cấp là khoảng 936 nghìn đồng/tháng cho cả hai công việc này); vận dụng quyền của cấp tỉnh trong Luật Dân số năm 2025 để hỗ trợ phương tiện tránh thai, khám tiền hôn nhân cho vùng dân tộc thiểu số; bổ sung chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm vị thành niên 10 – 19 tuổi vào báo cáo của trạm y tế cơ sở để cập nhật dữ liệu phục vụ cho định hướng chính sách.

5. Kết luận

Sự kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên; các cấp ủy, chính quyền địa phương trong ban hành và triển khai chính sách trên thực tiễn đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên dân tộc thiểu số thời gian qua. Hệ thống y tế với cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, nhân lực y tế có trình độ chuyên môn được phủ rộng về cấp cơ sở đã giúp vị thành niên dân tộc thiểu số ở vùng cao tỉnh Thái Nguyên có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại chỗ. Bên cạnh đó là nỗ lực của ngành y tế và giáo dục địa phương trong tổ chức các hoạt động truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản với nhiều hình thức đa dạng khác nhau. Tuy nhiên, các khó khăn vẫn còn nhiều, cần có những giải pháp đồng bộ về thể chế chính sách, nguồn lực thực hiện, cơ cấu bộ máy y tế cơ sở để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đa dạng, chất lượng và thân thiện với vị thành niên dân tộc thiểu số; các hoạt động truyền thông hướng đến vị thành niên, gia đình, nhà trường và cộng đồng cần chú trọng hơn nữa các giải pháp về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ số nhằm tăng khả năng tiếp cận đến các nhóm vị thành niên và thay đổi thái độ, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên.

Tài liệu tham khảo:
* Bài viết là sản phẩm của Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2025 – 2026: “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên”, mã số nhiệm vụ: KHXH/NV/2025-19 do TS. Trương Thị Thu Thủy làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì.
Báo Thái Nguyên điện tử (2026). Thái Nguyên sau sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập. https://baothainguyen.vn/multimedia/infographic/202608/thai-nguyen-sau-sap-xep-cac-co-so-giao-duc-cong-lap-5b31434
Bộ Y tế (2020). Quyết định số 3781/QĐ-BYT ngày 28/8/2020 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2020 – 2025.
Bộ Y tế (2021). Quyết định số 5914/QĐ-BYT ngày 29/12/2021 phê duyệt Đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2021 – 2025.
Bộ Y tế (2023). Quyết định số 2621/QĐ-BYT ngày 21/6/2023 về Hướng dẫn chuyên môn giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.
Bộ Y tế (2023). Quyết định số 2621/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn chuyên môn về giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc tiểu dự án 2, dự án 9, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Dữ liệu phỏng vấn sâu YT01-YT04, tháng 8/2025 (tài liệu nội bộ, đã mã hóa). Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2025 – 2026: “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên” (Mã số nhiệm vụ: KHXH/NV/2025-19).
Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2026). Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2025. Nxb Kinh tế – Tài chính.
Ngọc Quang (08/4/2026). “Trụ cột” thúc đẩy công nghiệp phát triển. https://baothainguyen.vn/kinh-te/202604/tru-cot-thuc-day-cong-nghiep-phat-trien-5610365
Quốc hội (1989). Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989.
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2016). Luật Trẻ em năm 2016.
Quốc hội (2025). Luật Dân số năm 2025.
Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (2019). Sexual and reproductive health and rights: an essential element of universal health coverage. https://www.unfpa.org/featured-publication/sexual-and-reproductive-health-and-rights-essential-element-universal-health
Quỹ Dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam (n.d. 2026). Sexual Reproductive Health and Rights. Overview.
https://vietnam.unfpa.org/en/topics/sexual-reproductive-health-and-rights
Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên (2025). Báo cáo Sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Thủ tướng Chính phủ (2001). Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/02/2001 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001- 2010.
Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 – 2020.
Thủ tướng Chính phủ (2013). Quyết định số 122/QĐ-TTg, ngày 10/01/2013 phê duyệt Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn đến 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc (2020). Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Nxb Thống kê.
UBND tỉnh Thái Nguyên (2026). Kế hoạch số 390/KH-UBND ngày 29/8/2026 thực hiện Đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026 – 2030.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2003). Pháp lệnh dân số năm 2003.