Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam hiện nay

Ensuring the right to health care in contemporary Vietnam

PGS.TS. Hoàng Hùng Hải
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: haihvhcm@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”. Được chăm sóc sức khỏe là quyền cơ bản của tất cả mọi người. Để quyền này được thực thi trong thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau, trong đó ghi nhận bằng pháp luật và triển khai thực hiện quyền này trong thực tiễn đóng vai trò quan trọng.

Từ khóa: Quyền con người; chăm sóc sức khỏe; sức khỏe nhân dân; nhiệm vụ quan trọng; quyền cơ bản.

Abstract: Ensuring the health of the people is one of the top priorities of the Party and the State of Vietnam, as strongly affirmed in Politburo Resolution No. 72-NQ/TW dated September 9, 2025, “On Certain Breakthrough Measures to Strengthen the Protection, Care, and Improvement of the People’s Health.” Access to health care is a fundamental right of all people. For this right to be realized in practice, it is necessary to implement a comprehensive set of measures; among these, enshrining this right in law and putting it into practice play a crucial role.

Keywords: Human rights; healthcare; public health; important task; fundamental right.

1. Đặt vấn đề

Trong suốt cuộc đời của con người và tất cả các quyền con người, sức khỏe là yếu tố quan trọng hàng đầu, là vốn quý nhất của mỗi con người, đồng thời là nền tảng của chất lượng nguồn nhân lực và sức mạnh của quốc gia. Chính vì lẽ đó, các quyền khác của con người được Nhà nước ghi nhận và bảo hộ dường như vô nghĩa khi con người không có được sức khỏe. Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển con người và sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước. Một xã hội muốn phát triển bền vững trước hết phải bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường an toàn, được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng và có cơ hội chăm sóc, bảo vệ sức khỏe một cách công bằng. Đầu tư cho sức khỏe nhân dân không chỉ là đầu tư cho hiện tại mà còn là đầu tư cho tương lai của dân tộc.

Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của con người vì thế không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

2. Khái niệm

Điều lệ của WHO xác định sức khỏe là “trạng thái thoải mái về điều kiện thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ thuần túy là không có bệnh tật hay không ổn định. Theo đó, phạm vi về chăm sóc sức khỏe của quốc tế rộng hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: sức khỏe về thể chất, tinh thần và các yếu tố quyết định tới sức khỏe, hướng tới “mức sức khỏe cao nhất có thể đạt được”.Còn pháp luật Việt Nam tập trung nhiều vào việc khám chữa bệnh, hệ thống y tế công, các điều kiện chăm sóc sức khỏe, còn các yếu tố xã hội có đề cập nhưng chưa toàn diện như quốc tế.

Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe là tổng thể các cơ chế, chính sách, pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện của Nhà nước và xã hội nhằm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền của mọi người được tiếp cận bình đẳng, kịp thời, phù hợp và có chất lượng đối với các dịch vụ, cơ sở và điều kiện cần thiết để duy trì và nâng cao sức khỏe của con người.

3. Quy định của pháp luật

Quyền được chăm sóc sức khỏe có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Bảo vệ chăm sóc sức khỏe là nghĩa vụ của Nhà nước đối với mọi người. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền của mọi người được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, quyền bất khả xâm phạm về thân thể không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe. Để quyền được chăm sóc sức khỏe được triển khai thực hiện trong thực tiễn, Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ cụ thể của Nhà nước:

(1) Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

(2) Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

Thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định cụ thể về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Chẳng hạn: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật An toàn thực phẩm; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; Luật Phòng, chống nhiễm virut gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Luật Bảo hiểm y tế; Luật Dược…

Theo quy định của pháp luật, công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế, theo đó, bảo đảm thực hiện quyền này trên thực thế, trước hết là nghĩa vụ của Nhà nước. Mặt khác, tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ Nhân dân để giữ gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho các hoạt động sau đây:

a) Phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc y tế cơ sở, hệ thống cấp cứu ngoại viện; tập trung đầu tư cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;

b) Khám bệnh, chữa bệnh đối với người có công với cách mạng; trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người đang sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người mắc bệnh tâm thần, bệnh phong; người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định;

c) Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực thuộc các lĩnh vực truyền nhiễm, tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm thần, hồi sức cấp cứu và chuyên ngành, lĩnh vực khác cần ưu tiên để đáp ứng nhu cầu, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ;

d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong khám bệnh, chữa bệnh.

(3) Khuyến khích thực hiện hợp tác công tư; thực hiện ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được ưu đãi về tín dụng để đầu tư nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập không chia mà để lại để đầu tư phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

(4) Đầu tư cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động không vì mục đích lợi nhuận được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư trong Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư… (Quốc hội, 2023).

Quyền được chăm sóc sức khỏe liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Hay nói cách khác, quyền được chăm sóc sức khỏe như là một tập hợp các quyền có liên quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, đòi hỏi pháp luật có nhiều quy định trong các lĩnh vực khác nhau về vệ sinh lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu; vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của Nhân dân; vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất; vệ sinh trong trường học và nhà trẻ; vệ sinh trong lao động; vệ sinh nơi công cộng; phòng và chống các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dịch; các dịch vụ tế…

Ngoài những quy định chung về bảo vệ sức khỏe toàn dân, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân còn dành riêng một chương, Chương VII quy định bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, thương binh, bệnh binh, người khuyết tật và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Cùng với việc chăm sóc sức khỏe về y tế, pháp luật còn quy định việc tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng đối với người lao động: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng… và câu lạc bộ sức khoẻ.

Nhằm bảo đảm sức khỏe cho người lao động, Bộ luật Lao động quy định về tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2018).

Chính phủ ban hành Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23/01/2024 phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có tính tổng thể, với mục tiêu chung tạo cho mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng, được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở hệ thống y tế được đổi mới, phát triển bảo đảm công bằng, hiệu quả, chất lượng, có tính giải trình, bền vững và khả năng chống chịu, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

4. Một số kết quả

Quyền được chăm sóc sức khỏe thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, có thể thực hiện từng bước, trên tinh thần ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và không ngừng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật và triển khai thực thực hiện trong thực tiễn.

Nhận thức rõ và đề cao việc bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” khẳng định: “Việt Nam được quốc tế đánh giá cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe; chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực; nhiều chỉ số về sức khỏe người dân vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức phát triển” (Bộ Chính trị, 2026).

Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khoẻ người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus đánh giá: “Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong cải thiện cuộc sống người dân và nâng cao chất lượng y tế trong những thập kỷ gần đây. Tuổi thọ trung bình đã tăng 15 năm, với sự suy giảm đáng kể của các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vaccine. Các bạn đã mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế, đưa đất nước tiến xa hơn trên mục tiêu hướng tới lộ trình chăm sóc sức khỏe toàn dân” (Hà Nhân, ngày 17/7/2025).

Báo cáo Kết quả thường niên của Liên Hợp quốc tại Việt Nam, tháng 3/2025 chỉ ra rằng, Liên Hợp quốc hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống y tế, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế công lên 94,2%. Đồng thời, Liên Hợp quốc tư vấn sửa đổi Luật Bảo hiểm Y tế, được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2024, nhằm nâng cao hiệu lực quản trị và mở rộng tiếp cận cho nhóm yếu thế (Liên Hợp quốc, ngày 14/7/2025).

Theo tổ chức Unicef tại Việt Nam: “Việt Nam đã có những tiến bộ ấn tượng trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe bà mẹ trẻ em. Với tỷ lệ tử vong mẹ giảm 4 lần và tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh xuống còn một nửa trong những thập kỷ gần đây, chỉ số sức khỏe bà mẹ trẻ em của Việt Nam ưu việt hơn so với các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người tương đương” (Unicef, ngày 28/8/2025).

Hệ thống y tế các tuyến từ Trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố và phát triển. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu, y tế dự phòng, công tác kiểm soát bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm được đẩy mạnh; phát hiện, khống chế và xử lý kịp thời, nâng cao hiệu quả ứng phó với các vấn đề sức khỏe liên quan đến thiên tai, thảm họa, nhiều dịch bệnh đã được kiểm soát, trong đó có dịch bệnh Covid-19… Mọi người dân đều có thể tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản có chất lượng (Đào Hồng Lan, 2023).

Mạng lưới cơ sở y tế phát triển rộng khắp. Đội ngũ thầy thuốc và cán bộ, nhân viên y tế phát triển cả về số lượng và chất lượng. Ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng tăng. Chính sách tài chính y tế có nhiều đổi mới; diện bao phủ bảo hiểm y tế ngày càng được mở rộng. Tỉ lệ  các hộ gia đình tự bỏ tiền cho khám, chữa bệnh giảm nhanh. Theo Báo cáo số 169/BC-BDTTG ngày 30/3/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, dự kiến hết năm 2025, tỉ lệ phụ nữ mang thai được thăm khám định kỳ đạt 90,4% (mục tiêu là trên 80%); tỉ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 99,7% (mục tiêu là trên 80%); tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm xuống 11,1% (mục tiêu là dưới 15%), (Sơn Hào, ngày 04/8/2025).

Trong Báo cáo số 169/BC-BDTTG ngày 30/3/2025, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho biết, hết năm 2024, toàn vùng đồng bào DTTS và miền núi đã có 98,7% số xã có trạm y tế được xây dựng kiên cố; dự kiến tỉ lệ này là 100% vào cuối năm 2025. Tính chung cả nước, theo số liệu của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, hiện 99,6% số xã, phường, thị trấn có trạm y tế (10.559 trạm); trên 80% trạm y tế xã thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; 97,3% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (Sơn Hào, 04/8/2025).

5. Một số hạn chế

Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” chỉ ra rằng: công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức (Bộ Chính trị, 2025). Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, sự thay đổi về mô hình bệnh tật với gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây nhiễm, tai nạn, thương tích. Một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch vẫn có nguy cơ bùng phát trở lại, như tả, sốt rét, sốt xuất huyết… (Đào Hồng Lan, 09/7/2023).

Trước yêu cầu của kỷ nguyên mới – một kỷ nguyên của hội nhập quốc tế sâu rộng, của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, biến đổi khí hậu và những thay đổi sâu sắc về mô hình bệnh tật – công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đang đối mặt với những thách thức chưa từng có. Đó là gánh nặng kép của bệnh tật, sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm, tình trạng già hóa dân số, và những yêu cầu ngày càng cao của người dân về chất lượng dịch vụ y tế (Đức Tuân, 01/8/2025).

Thời gian qua, công tác chăm sóc sức khỏe người dân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng cũng đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức mới. Những mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa, sự già hóa dân số và biến đổi khí hậu… đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đó là ô nhiễm môi trường sống, thay đổi các yếu tố về hành vi lối sống… đã làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh, nhất là các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh mãn tính về đường hô hấp”.

Việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn, tuy nhiên, bên cạnh đó, hệ thống tổ chức y tế còn thiếu ổn định, hoạt động chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là y tế dự phòng, y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chất lượng dịch vụ, nhất là ở tuyến dưới chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến trên chậm được khắc phục.

Hệ thống tổ chức y tế còn thiếu ổn định, hoạt động chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là y tế dự phòng, y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chất lượng dịch vụ, nhất là ở tuyến dưới chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến trên chậm được khắc phục.

Quản lý nhà nước về y tế tư nhân, cung ứng thuốc, thiết bị y tế còn nhiều hạn chế. Công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập. Công nghiệp dược, thiết bị y tế phát triển chưa đáp ứng yêu cầu.

6. Định hướng, giải pháp

Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe là quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Do vậy, một mặt chúng ta phải phát huy kết quả đạt được, mặt khác phải khắc phục những hạn chế để sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân ngàng càng tốt hơn.

Việt Nam đang tập trung cao hơn, toàn diện hơn trong công tác y tế đó là vấn đề chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, chứ không chỉ đơn thuần là khám bệnh và chữa bệnh. Đây sẽ là định hướng rất cơ bản để xây dựng nền y học Việt Nam và phát triển công tác y tế trong thời đại mới” (Lê Bảo, 17/7/2025).

 Đẩy mạnh thực hiện chương trình Sức khỏe Việt Nam, tập trung vào 11 lĩnh vực, chia làm ba nhóm: Nâng cao sức khỏe (bảo đảm dinh dưỡng, tăng cường thể lực); bảo vệ sức khỏe và phòng bệnh (chăm sóc sức khỏe trẻ em, phòng chống tác hại của thuốc lá, của rượu, bia; vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm); chăm sóc sức khỏe ban đầu, kiểm soát bệnh tật (phát hiện sớm một số bệnh không lây nhiễm; chăm sóc, quản lý sức khỏe người dân tại cộng đồng; chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; chăm sóc sức khỏe người lao động).

 Nâng cao sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Phát triển nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng. Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe. Nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi sản xuất, cung ứng dược phẩm, dịch vụ y tế.

Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ; bảo đảm vận hành hiệu quả hệ thống khám bệnh, chữa bệnh. Thực hiện, chăm sóc toàn diện người bệnh và nâng cao sự hài lòng của người bệnh ở các tuyến (Báo điện tử Chính phủ, 17/7/2025).

Tập trung thực hiện Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược) với mục tiêu chung nhằm giúp cho mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng, được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và tiêu cụ thể đến năm 2030, công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường, đặc biệt là dịch bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện; bảo đảm an ninh y tế, ứng phó kịp thời với biến đổi khí hậu, các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng. Từng bước kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh, nâng cao năng lực quản lý môi trường y tế, các bệnh không lây nhiễm, bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích và nâng cao sức khỏe người dân.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả của mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế từ trung ương đến cơ sở để đáp ứng với sự thay đổi mô hình bệnh tật, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu vững mạnh; thu hẹp khoảng cách về bệnh tật, tử vong giữa các vùng, miền, các nhóm dân tộc. Phát triển y tế ngoài công lập, tăng cường phối hợp công – tư trong cung ứng dịch vụ y tế, (Thủ tướng Chính phủ, 2024).

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số toàn diện trong chăm sóc sức khỏe:Thiết lập, vận hành hiệu quả sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử; kết nối đồng bộ, quản lý dữ liệu sức khỏe người dân theo vòng đời. 

Đẩy mạnh phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển y tế. Thúc đẩy mạnh mẽ sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân, huy động các nguồn lực xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nhất là đầu tư, phát triển cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, dịch vụ phòng bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực y tế, sản xuất thuốc, vắc-xin, thiết bị y tế, kiểm định, kiểm nghiệm, kiểm chuẩn (Bộ Chính trị, 2025).

Quan tâm đến sức khỏe người dân phải được thực hiện bằng những biện pháp thiết thực, ngày 09/9/2025 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” chỉ rõ: “Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình” (Bộ Chính trị, 2025).

Quan tâm chăm sóc sức khỏe Nhân dân là nhiệm vụ quan trọngvừa lâu dài, vừa cấp bách của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Chính vì lẽ đó, để phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế hiện có, Đảng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ:Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, bền vững; tập trung nâng cao chất lượng và kỹ năng trong công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh, kiểm soát tốt dịch bệnh. Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển. Nâng cao chất lượng, hiệu quả mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế từ Trung ương đến cơ sở để đáp ứng với sự thay đổi của xu hướng bệnh tật và bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân; mọi người dân được tiếp cận, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng và được khám sức khỏe miễn phí ít nhất mỗi năm một lần.

Phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo và cơ bản miễn viện phí toàn dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Tài liệu tham khảo:
Báo Chính phủ (20/9/2022). Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chủ động thích ứng linh hoạt, góp phần phục hồi nhanh, phát triển bền vững. https://baochinhphu.vn/nang-cao-cong-tac-cham-soc-suc-khoe-nhan-dan-chu-dong-thich-ung-linh-hoat-gop-phan-phuc-hoi-nhanh-phat-trien-ben-vung-10222092018310212.htm.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I.  Nxb. Chính  trị quốc gia Sự thật, tr.109.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb. Chính  trị quốc gia Sự thật, tr. 52, 53.
Đào Hồng Lan (09/7/2023). Hoàn thiện thể chế, chính sách về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/hoan-thien-the-che-chinh-sach-ve-cham-soc-suc-khoe-bao-dam-quyen-tiep-can-dich-vu-cham-soc-suc-khoe-cho-moi-nguoi-dan.
Đức Tuân (08/7/2025). Nghị quyết về đột phá trong chăm sóc sức khỏe nhân dân “phải mang tính hành động”. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-ve-dot-pha-trong-cham-soc-suc-khoe-nhan-dan-phai-mang-tinh-hanh-dong-102250708181448445.htm.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018). Giáo trình cao cấp lý luận chính trị. Lý luận và pháp luật về quyền con người. Nxb. Lý luận chính trị, tr.180-181.
Hà Nhân (06/10/2024). Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong chăm sóc sức khỏe người dân. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/viet-nam-dat-duoc-nhieu-thanh-tuu-trong-cham-soc-suc-khoe-nguoi-dan-post835122.html, truy cập ngày 17/7/2025.
Sơn Hào (20/5/2025). Bài 2: Bước đột phá bảo đảm công bằng an sinh cho đồng bào dân tộc thiểu số. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bai-2-buoc-dot-pha-bao-dam-cong-bang-an-sinh-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-10225051817153313.htm.
PV (02/10/2018). Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. https://dangcongsan.vn/dua-nghi-quyet-trung-uong-6-trung-uong-7-vao-cuoc-song/hoi-dap/han-che-bat-cap-trong-cong-tac-bao-ve-cham-soc-va-nang-cao-suc-khoe-nhan-dan-499467.html.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23/01/2024 phê duyệt chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Vũ Lê (25/02/2025). Phó Thủ tướng Lê Thành Long: Tập trung chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Báo Công Thương. https://congthuong.vn/pho-thu-tuong-le-thanh-long-tap-trung-cham-soc-bao-ve-suc-khoe-nhan-dan-375557.html.