Developing digital competence in conjunction with the scientific research competence of cadets at military officer schools today
TS. Nguyễn Văn Nhất
Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: nhat.coe.vnu@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan Quân đội hiện nay có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình số hóa hoạt động nhận thức, nghiên cứu đặt ra yêu cầu gắn kết khả năng khai thác, xử lý thông tin số với tư duy khoa học, tư duy phản biện và năng lực giải quyết vấn đề. Trên cơ sở làm rõ tính tất yếu phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay, bài viết đề xuất các giải pháp tác động vào nhận thức của các chủ thể; xây dựng và hoàn thiện khung năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học; cập nhật nội dung, chương trình và đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo; củng cố cơ sở vật chất và phát huy tính tích cực, chủ động của học viên trong tự phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các trường sĩ quan trong Quân đội trong tình hình mới.
Từ khóa: Năng lực số, năng lực nghiên cứu khoa học, học viên trường sĩ quan quân đội, chuyển đổi số.
Abstract: The development of digital competence in association with scientific research competence among cadets at military officer training schools in the current context is an urgent issue in both theoretical and practical terms. Advances in science and technology, together with the digitalization of cognitive and research activities, have created a demand for integrating the ability to access and process digital information with scientific thinking, critical thinking, and problem-solving skills. On the basis of clarifying the necessity of developing digital competence in association with scientific research competence among cadets at military officer training schools today, this article proposes several measures, including raising awareness among relevant stakeholders; developing and refining a digital competence framework aligned with scientific research competence; updating educational content and curricula and innovating teaching and training methods; strengthening infrastructure and facilities; and promoting cadets’ active and proactive engagement in independently developing digital competence in conjunction with scientific research competence. These measures are expected to contribute to improving the quality of education and training at military officer training schools in the Army under the new circumstances.
Keywords: Digital competence; scientific research competence; cadets at military officer training schools; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, năng lực số trở thành yếu tố quan trọng đối với quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học của học viên các trường sĩ quan quân đội. Đối với học viên, năng lực số không chỉ thể hiện ở khả năng sử dụng công nghệ, khai thác và xử lý thông tin mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển tư duy độc lập, tư duy sáng tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong học tập, rèn luyện ở nhà trường Quân đội và công tác ở đơn vị sau này. Tuy nhiên, việc khai thác công nghệ số phục vụ nghiên cứu khoa học vẫn đặt ra những yêu cầu về khả năng tìm kiếm, đánh giá độ tin cậy của thông tin, sử dụng AI có trách nhiệm và bảo đảm an toàn thông tin. Giải quyết vấn đề này góp phần khắc phục tình trạng tách rời giữa kỹ năng công nghệ với năng lực nghiên cứu, nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu và khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn quân sự.
Vì vậy, phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên các trường sĩ quan quân đội là yêu cầu khách quan, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.
2. Tính tất yếu phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay
Theo Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định khung năng lực số cho người học, trong đó: “Năng lực số là khả năng sử dụng công nghệ số để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể hoặc để giải quyết vấn đề trong thực tiễn” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Như vậy, năng lực số của học viên các trường sĩ quan quân đội được hiểu là khả năng sử dụng công nghệ số để hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện đáp ứng chuẩn đầu ra của Nhà trường quân đội. Điều cần nhấn mạnh là năng lực số của học viên sĩ quan phải được xây dựng trên nền tảng kỷ luật tự giác nghiêm minh, ý thức bảo mật, trách nhiệm quân nhân và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc – đây chính là điểm khác biệt căn bản, mang tính bản chất, phân định năng lực số quân sự với năng lực số dân sự thông thường. Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội có thể hiểu là khả năng về trình độ tri thức, phương pháp tư duy và sự sáng tạo của họ trong việc phát hiện và giải quyết có hiệu quả những vấn đề trong quá trình học tập, rèn luyện ở Nhà trường và công tác sau này.
Do đó, phát triển năng lực phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên các trường sĩ quan quân đội hiện nay là quá trình biến đổi tích cực, đồng thời, năng lực số và năng lực nghiên cứu khoa học trong chỉnh thể thống nhất biện chứng làm cho năng lực nghiên cứu khoa học không ngừng được nâng cao trên nền tảng làm chủ công nghệ, dữ liệu và môi trường số; tạo ra năng lực tổng hợp mới của người học đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục và đào tạo và chuẩn đầu ra của trường sĩ quan quân đội. Tính tất yếu phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
Một là, xuất phát từ quan điểm mác-xít về sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào hoạt động thực tiễn của con người.
Khi nghiên cứu sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp, C.Mác đã chỉ ra bước chuyển có ý nghĩa quan trọng từ lao động thủ công sang lao động được thực hiện với sự hỗ trợ của máy móc và khoa học. Sự phát triển của máy móc kéo theo sự biến đổi sâu sắc trong nội dung, tính chất, phương thức và yêu cầu đối với hoạt động lao động của con người trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học. Ph.Ănghen khẳng định: “Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII bắt đầu từ máy công cụ. Điểm đặc trưng của cuộc cách mạng này là công cụ lao động, dưới dạng thay đổi ít nhiều, chuyển từ con người sang máy móc, máy này hoạt động thì đưa công cụ vào hoạt động” (C.Mác và Ph.Ănghen, 1994, tr.380). Theo đó, khi khoa học, công nghệ phát triển mạnh dẫn đến phương tiện và công cụ lao động được khoa học hóa, hoạt động thực tiễn của con người có sự biến đổi tương ứng về tính chất, phương thức. Lao động của con người không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào kinh nghiệm trực tiếp mà phải dựa vào tri thức của khoa học tạo ra và yêu cầu cao hơn về năng lực làm chủ phương tiện và công cụ lao động mới. Do đó, đòi hỏi con người phải có khả năng đưa và sử dụng các công cụ mới vào quá trình hoạt động thực tiễn, trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho khoa học và công nghệ ngày càng thâm nhập trực tiếp vào công cụ lao động, đối tượng lao động, phương thức tổ chức lao động và bản thân năng lực của người lao động. Quá trình con người tìm ra những tri thức mới gắn bó chặt chẽ với việc cách thức sử dụng phương tiện, công cụ do khoa học, công nghệ mang lại. Như vậy, sự hình thành, phát triển những năng lực mới của con người không riêng lẻ, độc lập mà ngày càng thể hiện rõ hơn sự thâm nhập, chuyển hóa và làm tiền đề cho nhau hướng đến nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn. Ph.Ănghen khẳng định: “Quá trình lao động có thể được phân chia một cách khách quan thành những bộ phận cấu thành của mình và vấn để thực hiện một quá trình bộ phận nhờ máy móc đã được giải quyết bằng khoa học hay kinh nghiệm thực tiễn dựa vào khoa học” (C.Mác và Ph.Ănghen, 1994, tr.381). Theo đó, trong môi trường số, yêu cầu ngày càng cao là khả năng khai thác dữ liệu, làm chủ thông tin, sử dụng công nghệ số, tương tác với các hệ thống thông minh và chuyển hóa tri thức số thành kết quả hoạt động thực tiễn. Lĩnh vực quân sự không nằm ngoài sự tác động của khoa học và công nghệ, do đó, những người hoạt động trong lĩnh vực này tất yếu phải phát triển năng lực mới phù hợp với cách thức, phương pháp hoạt động đặc thù trong lĩnh vực này. Những năng lực đó phải được đặt trong mối quan hệ với các năng lực khác.
Hai là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng quân đội hiện nay.
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số đang phát triển mạnh mẽ đặt ra những yêu cầu mới đối với chất lượng nguồn nhân lực quân sự, đặc biệt là đội ngũ sĩ quan được đào tạo trong các nhà trường quân đội. Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương khẳng định: “nhân tố con người là chủ thể quyết định của sự đột phá, phát triển” và tầm nhìn đến 2045, Quân ủy Trung ương xác định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, đồng bộ, mạnh mẽ, trở thành động lực góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại… Chuyển đổi số trở thành phương pháp chính trong các hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành tác chiến để xây dựng quân đội hiện đại…” (Quân ủy Trung ương, 2025).
Để hiện thực hóa mục tiêu, phương hướng đó tất yếu đòi hỏi ngay từ quá trình học tập, rèn luyện ở nhà trường quân đội, học viên phải hình thành và phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học để khi ra trường họ có khả năng làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, có tư duy khoa học và năng lực nghiên cứu để không ngừng cải tiến, sáng tạo trong tổ chức, chỉ huy, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu..
Ba là, xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học ở các trường sĩ quan quân đội.
Các trường sĩ quan quân đội không chỉ trang bị cho học viên những tri thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết ở thời điểm hiện tại, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu, cập nhật tri thức và giải quyết những vấn đề mới trong suốt quá trình công tác sau này. Trong điều kiện khoa học, công nghệ biến đổi nhanh chóng, tri thức chuyên môn có thể nhanh chóng được bổ sung và thay đổi, nhưng năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực số sẽ giúp người sĩ quan duy trì khả năng phát triển nghề nghiệp liên tục. Đây chính là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có tư duy đổi mới, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng cao. Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới đặt ra mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo trong toàn quân. Nghị quyết xác định mục tiêu chung: “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ…có năng lực toàn diện, chuyên nghiệp theo yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng tự học tập, tự nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thích ứng” (Quân ủy Trung ương, 2022). Theo đó, quá trình học tập, rèn luyện ở các trường sĩ quan Quân đội đặt ra yêu cầu tất yếu chú trọng phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học, bởi đây chính là năng lực nền tảng giúp học viên có khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự cập nhật tri thức mới trong suốt quá trình công tác sau này.
Yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan có năng lực tư duy, nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Đây là yêu cầu tổng hợp, có tính bao trùm, phản ánh mục tiêu cuối cùng của quá trình đào tạo sĩ quan trong bối cảnh hiện nay: không chỉ đào tạo ra những người cán bộ, chỉ huy có bản lĩnh chính trị, có kỹ năng quân sự thuần thục mà còn phải là những nhà khoa học quân sự tương lai, có khả năng tổng kết thực tiễn, phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp sáng tạo cho những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu quá trình phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học không được định hướng đúng đắn có thể làm cho loại năng lực này của học viên phát triển chệch hướng, thậm chí triệt tiêu nhau; ngược lại khi được tổ chức đúng đắn, chúng thúc đẩy nhau cùng phát triển, nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo của các trường sĩ quan quân đội trong tình hình mới.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay.
Đây là giải pháp quan trọng, làm cơ sở để thực hiện tốt và đồng bộ các giải pháp khác. Mỗi chủ thể trong quá trình này có vị trí vai trò khác nhau, do vậy, xác định cụ thể nội dung nhận thức về vị trí, vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể trong hoạt động phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên. Trong đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp có vai trò quan trọng, trực tiếp trong lãnh đạo, chỉ đạo; cơ quan chức năng trong tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện; đội ngũ giảng viên trong việc trực tiếp bồi dưỡng năng lực cho học viên; cán bộ quản lý học viên theo dõi, đôn đốc và bản thân học viên trong việc tự giác học tập, rèn luyện. Do đó, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp, như: thông qua học tập nghị quyết, quán triệt nghị quyết, nhất là các nghị quyết của Bộ Chính trị có liên quan, như: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Bộ Chính trị, 2024; Bộ Chính trị, 2025); tiếp theo các nghị quyết của Quân ủy Trung ương, như: Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới (Quân ủy Trung ương, 2022); Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội (Quân ủy Trung ương, 2025); Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội (Quân ủy Trung ương, 2026). Cùng với đó, kết hợp chặt chẽ với các hình thức như sinh hoạt các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, hội họp các cấp để giáo dục lồng ghép nội dung giáo dục nâng cao nhận thức của các chủ thể. Thực hiện tốt phê bình, tự phê bình, xử lý nghiêm các trường hợp có nhận thức và hành động sai trái về nội dung này.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện khung năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, định hướng trực tiếp nội dung, lộ trình và tiêu chí phát triển năng lực của học viên các trường sĩ quan quân đội phù hợp với mục tiêu yêu cầu giáo dục và đào tạo, chuẩn đầu ra của từng trường sĩ quan trước yêu cầu mới. Do vậy, để xây dựng và hoàn thiện năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên của các Trường sĩ quan quân đội các nhà trường chủ động quán triệt và cụ thể hóa các văn bản các cấp có liên quan đến năng lực số và nghiên cứu khoa học của người học vào quá trình xây dựng các khung năng lực số, năng lực nghiên cứu khoa học của học viên phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng nhà trường. Trong đó, chú trọng vào Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Bộ Chính trị, 2025); đặc biệt, Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11/02/2019 về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (Quân ủy Trung ương, 2019).
Xác định cụ thể các nhóm năng lực thành phần và biểu hiện cần đạt được của học viên theo từng năm học. Trong đó, chú trọng năng lực tìm kiếm, khai thác và đánh giá thông tin số, thể hiện ở khả năng sử dụng thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu khoa học, công cụ tìm kiếm chuyên ngành; phân biệt nguồn tin đáng tin cậy với thông tin sai lệch, thiếu căn cứ. Năng lực sử dụng công cụ số trong quy trình nghiên cứu, bao gồm quản lý tài liệu tham khảo, thiết kế khảo sát trực tuyến, xử lý dữ liệu định tính và định lượng, trực quan hóa kết quả và trình bày sản phẩm nghiên cứu. Năng lực tư duy phản biện, phân tích và sáng tạo trên cơ sở dữ liệu số, thể hiện ở khả năng kiểm chứng thông tin, phát hiện vấn đề, giải thích kết quả và đưa ra kết luận có luận cứ khoa học. Năng lực hợp tác, trao đổi và chia sẻ tri thức trên môi trường số. Năng lực bảo đảm an toàn thông tin, đạo đức nghiên cứu, bản quyền, trích dẫn và sử dụng trí tuệ nhân tạo đúng quy định. Cụ thể hóa các nhóm năng lực đó bằng những hành vi có thể quan sát, sản phẩm có thể kiểm chứng và tiêu chí đánh giá rõ ràng.
Quá trình xây dựng, hoàn thiện khung năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên theo các mức độ phát triển phù hợp với tiến trình học tập và rèn luyện của học viên. Ở giai đoạn đầu, chú trọng xác định hình thành thao tác cơ bản về tìm kiếm, chọn lọc thông tin, sử dụng công cụ số và trích dẫn tài liệu. Ở giai đoạn tiếp theo, hướng vào mức độ vận dụng công nghệ số vào thiết kế nghiên cứu, thu thập, xử lý dữ liệu và giải quyết nhiệm vụ khoa học cụ thể. Ở mức độ cao hơn, hướng vào mức độ phối hợp nhiều công cụ, đánh giá độ tin cậy của dữ liệu, sử dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát và chủ động thực hiện nghiên cứu độc lập hoặc nghiên cứu theo nhóm. Việc phân mức phải gắn với năm học, chuẩn đầu ra và yêu cầu của từng loại hình nhiệm vụ nghiên cứu, tránh quy định chung chung hoặc đặt ra tiêu chí vượt quá điều kiện thực tế. Để khung năng lực đi vào thực tiễn, tổ chức rà soát, thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện thường xuyên. Phát huy vai trò của cơ quan quản lý đào tạo, cơ quan khoa học, khoa chuyên ngành, giảng viên và đơn vị quản lý học viên trong xây dựng, triển khai khung năng lực. Đánh giá dựa trên cả quá trình thực hiện và sản phẩm nghiên cứu cụ thể, như chất lượng tổng quan tài liệu, độ chính xác của dữ liệu, khả năng sử dụng công cụ số, tính độc lập trong phân tích và mức độ tuân thủ quy định về an toàn thông tin.
Chủ động cập nhật khung năng lực theo sự phát triển của khoa học, công nghệ và yêu cầu chuyển đổi số của quân đội, nhưng luôn bảo đảm nguyên tắc bảo vệ bí mật quân sự, bí mật nhà nước. Quá trình xây dựng, củng cố và hoàn thiện khung năng lực này không dừng lại ở các kỹ năng công nghệ thuần túy mà đặc biệt nhấn mạnh các nhóm năng lực có tính định hướng, kiểm soát – phản ánh đúng bản chất mối quan hệ biện chứng giữa năng lực số và năng lực nghiên cứu khoa học, đồng thời phản ánh yêu cầu đặc thù về kỷ luật, bảo mật và đạo đức của người quân nhân trong kỷ nguyên số.
Thứ ba, cập nhật nội dung, chương trình và đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng tích hợp năng lực số với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.
Đây là giải pháp có vai trò trực tiếp bảo đảm sự thống nhất giữa trang bị kiến thức số, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và phát triển khả năng vận dụng tổng hợp vào giải quyết những vấn đề lý luận, thực tiễn trong quá trình học tập, rèn luyện ở các nhà trường và thực tiễn đơn vị cơ sở. Do đó, cập nhật nội dung giáo dục và đào tạo theo hướng bổ sung có hệ thống tri thức và kỹ năng số phục vụ nghiên cứu khoa học. Trọng tâm là trang bị cho học viên kiến thức về tìm kiếm, khai thác và đánh giá độ tin cậy của thông tin trên môi trường số; sử dụng thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu khoa học và các công cụ quản lý tài liệu tham khảo; xử lý dữ liệu định tính, định lượng bằng những phần mềm phù hợp; xây dựng bảng biểu, trực quan hóa dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu trên nền tảng số. Đồng thời, bổ sung kiến thức về trí tuệ nhân tạo tạo sinh, dữ liệu lớn, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và liêm chính học thuật. Đối với các nhà trường quân đội, nội dung đào tạo gắn với quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và an toàn thông tin; không đưa dữ liệu, tài liệu thuộc phạm vi bí mật vào các nền tảng, công cụ số chưa được phép sử dụng.
Cùng với đó, rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tích hợp năng lực số vào các học phần và các giai đoạn của quy trình nghiên cứu khoa học, tránh tình trạng kiến thức số được giảng dạy riêng lẻ, thiếu liên hệ với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của học viên. Xác định chuẩn đầu ra cụ thể về năng lực số gắn với từng cấp độ nghiên cứu, từ thực hiện nhiệm vụ học tập, thu hoạch, tiểu luận đến chuyên đề, đề tài, sáng kiến khoa học.
Các trường sĩ quan thực hiện tốt chuyển từ phương thức truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang tổ chức hoạt động học tập dựa trên vấn đề, nhiệm vụ và sản phẩm nghiên cứu. Đẩy mạnh áp dụng các phương pháp dạy học tích cực: học tập dựa trên vấn đề, học tập dựa trên nghiên cứu, seminar khoa học, phân tích tình huống, mô phỏng, khai thác cơ sở dữ liệu chuyên ngành và giải quyết các vấn đề thực tiễn quân sự cụ thể trong quá trình học tập tại nhà trường và những vấn đề cấp thiết ở đơn vị cơ sở; thảo luận nhóm, phản biện học thuật và học tập kết hợp trực tiếp với môi trường số phù hợp với đặc điểm từng môn học, trình độ học viên từng năm học và thực tiễn của từng nhà trường. Quán triệt nguyên tắc xuyên suốt là: không dạy năng lực số như một tập hợp kỹ năng rời rạc, tách biệt, mà phát triển năng lực số của học viên thông qua chính quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và thực tiễn quân sự – tức là năng lực số phải được hình thành trong hoạt động, gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học cụ thể, chứ không phải một nội dung được truyền đạt tách biệt.
Thứ tư, củng cố, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất để phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.
Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm điều kiện vật chất trực tiếp cho việc hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên các trường sĩ quan quân đội. Căn cứ vào quy mô đào tạo, số lượng học viên, nhu cầu sử dụng và khả năng bảo đảm, các nhà trường quân đội rà soát, củng cố và hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, bố trí, nâng cấp máy tính, thiết bị kết nối, phòng học đa phương tiện, phòng thực hành và các phương tiện hỗ trợ nghiên cứu.
Đảng ủy, Ban Giám hiệu lãnh đạo, chỉ đạo xác định nhu cầu và ưu tiên hạng mục đầu tư; cơ quan đào tạo, cơ quan khoa học và các khoa giáo viên đề xuất yêu cầu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu; cơ quan chức năng tham mưu phương án mua sắm, quản lý, bảo trì và bảo đảm an toàn hệ thống; thư viện tổ chức nguồn học liệu; đơn vị quản lý học viên phối hợp quản lý việc khai thác; giảng viên hướng dẫn sử dụng công cụ phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu. Học viên có trách nhiệm chấp hành quy chế, sử dụng đúng mục đích và bảo quản thiết bị được giao. Trên cơ sở nguồn lực và thứ tự ưu tiên, nhà trường xây dựng kế hoạch đầu tư theo giai đoạn, tập trung vào những hạng mục có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Cùng với đó, phát triển hệ thống học liệu số và các nguồn tài nguyên phục vụ nghiên cứu khoa học. Đối với thư viện nhà trường, từng bước số hóa tài liệu phù hợp, tổ chức cơ sở dữ liệu nội bộ, xây dựng danh mục tài liệu điện tử và hướng dẫn học viên khai thác các nguồn thông tin khoa học được phép sử dụng. Đối với những lĩnh vực nghiên cứu có yêu cầu đặc thù quân sự, việc cung cấp tài liệu phải tuân thủ chặt chẽ quy định về phân loại, quản lý và bảo mật và an toàn thông tin. Không sử dụng sự tiện lợi của công nghệ làm căn cứ bỏ qua yêu cầu bảo mật quân sự và an toàn dữ liệu.
Các nhà trường chú trọng xây dựng quy chế quản lý, phân công trách nhiệm bảo đảm, duy trì hoạt động và kiểm tra hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất phục vụ học tập, nghiên cứu của học viên. Bố trí thời gian khai thác các phòng máy, phòng học và không gian nghiên cứu phù hợp với kế hoạch đào tạo, chế độ công tác và nền nếp sinh hoạt của Nhà trường nói chung, của học viên nói riêng. Có cơ chế để học viên được thực hành công cụ số trong giờ học, hoạt động nghiên cứu theo nhóm và thời gian tự học theo quy định. Tổ chức chặt chẽ theo quy định, phân quyền phù hợp, bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ bí mật quân sự trong quá trình sử dụng môi trường số cho mục đích nghiên cứu khoa học. Trong quá trình thực hiện, cần định kỳ kiểm tra mức độ sử dụng, khả năng đáp ứng nhu cầu và tác động của cơ sở vật chất đối với kết quả học tập, nghiên cứu; lấy ý kiến giảng viên, học viên để kịp thời điều chỉnh.
Thứ năm, phát huy tính tích cực tự giác của học viên các trường sĩ quan trong tự phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học.
Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp quyết định trực tiếp đối với phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan quân đội hiện nay. Phát huy nhân tố chủ quan hướng tới hình thành động cơ đúng đắn, tinh thần tự học, ý thức trách nhiệm và khả năng tự phát triển đồng thời cả hai năng lực. Do vậy, xây dựng động cơ và thái độ đúng đắn của học viên đối với việc phát triển năng lực số gắn với nghiên cứu khoa học của họ. Học viên nhận thức rõ đây không chỉ là yêu cầu trước mắt để hoàn thành mục tiêu chương trình đào tạo ở nhà trường mà đó còn là trách nhiệm của mỗi quân nhân cách mạng trước sự phát triển và tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại, là điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng học tập suốt đời, giải quyết vấn đề thực tiễn và đáp ứng yêu cầu công tác ở đơn vị cơ sở sau này. Trên cơ sở đó, mỗi học viên tích cực, chủ động tiếp cận tri thức mới, sẵn sàng đổi mới phương pháp học tập hiện đại, không ngại khó khi sử dụng công cụ số và không phụ thuộc hoàn toàn vào hướng dẫn của giảng viên. Từng học viên tự xác định rõ mục tiêu hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu và chuẩn bị khả năng đảm nhiệm chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ chính trị cấp phân đội trong tương lai.
Mỗi học viên xác định phương pháp tự học, tự nghiên cứu có kế hoạch và có mục tiêu cụ thể, tổ chức thực hiện nghiêm túc. Căn cứ vào khung năng lực, yêu cầu của chương trình đào tạo và kết quả tự đánh giá để xác định những mặt mạnh, hạn chế của bản thân. Từ đó, tự xây dựng kế hoạch phát triển theo từng giai đoạn, xác định nội dung cần bổ sung, thời gian thực hiện, nguồn học liệu và sản phẩm cần hoàn thành dưới sự định hướng của các chủ thể giáo dục. Trong quá trình thực hiện, kết hợp tự học lý thuyết với thực hành công cụ số, tham gia nghiên cứu nhóm với nhiệm vụ cá nhân và tiếp thu hướng dẫn với tự tìm tòi, khám phá của bản thân. Đánh giá kết quả thông qua tiến bộ về kỹ năng, chất lượng đề cương, báo cáo, dữ liệu và sản phẩm nghiên cứu, không chỉ qua mức độ tham gia hoạt động. Đơn vị quản lý và giảng viên định kỳ trao đổi, nhận xét, giúp học viên điều chỉnh mục tiêu và phương pháp phát triển.
Bản thân mỗi học viên tự xác định, lựa chọn những nội dung nghiên cứu phù hợp với phẩm chất năng lực và thực tiễn cơ sở vật chất của từng nhà trường. Tích cực tham gia xêmina, thảo luận nhóm, câu lạc bộ khoa học, hội thi và các hoạt động nghiên cứu phù hợp từng năm học, từng chủ đề, nội dung khoa học; chủ động đề xuất vấn đề nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu, lựa chọn công cụ, thu thập dữ liệu và bảo vệ kết quả trước hội đồng. Rèn luyện khả năng đặt câu hỏi, phân biệt thông tin với chứng cứ, kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, so sánh các cách giải thích và đưa ra kết luận có căn cứ. Tự đối chiếu kết quả học tập, nghiên cứu với yêu cầu của khung năng lực; lưu giữ sản phẩm theo từng giai đoạn để nhận diện sự tiến bộ; chủ động tiếp thu nhận xét của giảng viên, đồng đội và người hướng dẫn.
Bên cạnh đó, xây dựng thái độ sử dụng công nghệ số có trách nhiệm: kiểm chứng thông tin, không sao chép kết quả của người khác, trích dẫn đúng quy định, không lệ thuộc vào nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra và chịu trách nhiệm về sản phẩm nghiên cứu của mình. Học viên chủ động nghiên cứu, nhận thức rõ các giới hạn về bảo mật, không tùy tiện chia sẻ tài liệu hoặc đưa thông tin quân sự lên nền tảng số chưa được phép sử dụng.
4. Kết luận
Trong kỷ nguyên số, năng lực làm chủ công nghệ chỉ thực sự trở thành năng lực chiến đấu, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn khi được thống nhất với tư duy khoa học, bản lĩnh chính trị, phẩm chất quân nhân và năng lực sáng tạo của người sĩ quan. Vì vậy, phát triển năng lực số gắn với năng lực nghiên cứu khoa học của học viên các trường sĩ quan quân đội chính là một nội dung quan trọng của quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025).Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định khung năng lực số cho người học.
C.Mác và Ph.Ănghen (1994). Toàn tập (Tập 16). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quân ủy Trung ương (2019). Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11/02/2019 về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Quân ủy Trung ương (2022a). Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
Quân ủy Trung ương (2022b). Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 – 2030 và những năm tiếp theo.
Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.
Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.



