Applying Friedrich Engels’ thought on the military to building a politically strong Vietnam People’s Army
TS. Trung tá Nguyễn Đức Tuyên
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: nguyenductuyen.hvct@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Ph. Ăngghen (1820 – 1895) – nhà lý luận chính trị thiên tài và nhà cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Với trí tuệ uyên bác và lòng nhiệt thành cách mạng, Ph. Ăngghen đã kiên trì bảo vệ, bổ sung và phát triển toàn diện chủ nghĩa Mác, trong đó có tư tưởng về quân đội đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn, làm sâu sắc hơn học thuyết Mác về quân đội rất toàn diện. Tiếp cận nghiên cứu, luận giải nội dung và vận dụng tư tưởng Ph. Ăngghen về quân đội, vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Từ khóa: Vận dụng tư tưởng Ph.Ăngghen; quân đội; vững mạnh về chính trị; bảo vệ Tổ quốc.
Abstract: Friedrich Engels (1820–1895) was a brilliant political theorist and a revolutionary of the working class and working people worldwide. Possessing profound intellect and revolutionary zeal, Engels steadfastly defended, supplemented, and comprehensively developed Marxism, including ideas on the military that met practical demands, thereby significantly deepening the Marxist doctrine regarding the military. Approaching, interpreting, and applying Engels’s military thought to the political strengthening of the Vietnam People’s Army plays a vital role in the current cause of building and defending the socialist Fatherland of Vietnam.
Keywords: Applying Friedrich Engels’ thought; the military; political strength; defending the Fatherland.
1. Đặt vấn đề
Vận dụng tư tưởng Ph.Ăngghen về quân đội vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới là tổng thể hoạt động nhận thức và thực tiễn của các chủ thể lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, tổ chức xây dựng quân đội, nhằm quán triệt, cụ thể hóa và phát triển sáng tạo những luận điểm cơ bản của Ph. Ăngghen về nguồn gốc, bản chất, chức năng, sức mạnh chiến đấu, tổ chức và quy luật phát triển quân đội vào quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao. Nội hàm của quan niệm này gồm ba điểm: (1) Nắm vững tư tưởng Ph.Ăngghen ở chiều sâu lý luận; (2) Cụ thể hóa vào điều kiện chính trị, quân sự, quốc phòng của Việt Nam; (3) Hướng vào mục tiêu xây dựng quân đội đủ sức hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong mọi tình huống.
2. Tư tưởng Ph.Ăngghen về quân đội
Một là, tư tưởng về nguồn gốc quân đội.
Xuất phát từ các quan hệ kinh tế – xã hội hiện thực, Ph.Ăngghen cho rằng, quân đội là một hiện tượng lịch sử, ra đời ở một giai đoạn nhất định của xã hội, gắn với sự ra đời của giai cấp, nhà nước, là tổ chức đặc biệt của nhà nước. Ph.Ăngghen nêu rõ: “Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025a, tr.11). Xuất phát từ các quan hệ kinh tế – xã hội hiện thực, Ph.Ăngghen cho rằng, quân đội là một hiện tượng lịch sử ra đời ở một giai đoạn nhất định của lịch sử, xã hội và gắn liền với sự ra đời của nhà nước, vì đây là một tổ chức đặc biệt của nhà nước.
Sự ra đời và tồn tại của quân đội có nguồn gốc sâu xa từ sự ra đời và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; song nguồn gốc trực tiếp đưa tới sự xuất hiện và tồn tại của quân đội là do trong xã hội có sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp. Chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp trong xã hội là nguồn gốc khách quan làm xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Sự ra đời và tồn tại quân đội mang tính lịch sử. Vì vậy, từ thực tiễn lịch sử, Ph.Ăngghen khẳng định, trong xã hội cộng sản nguyên thủy “Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quí tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025c, tr.147). Cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản ngày càng trở nên sâu sắc, đội quân thường trực được tăng cường, cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ hơn.
Từ phân tích mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng và các nhà nước, Ph.Ăngghen chỉ rõ, chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp trong xã hội là nguồn gốc khách quan làm xuất hiện và tồn tại nhà nước; để bảo vệ địa vị, lợi ích của mình và đàn áp quần chúng nhân dân lao động, giai cấp thống trị tổ chức ra quân đội. Nguồn gốc sâu xa sự ra đời và tồn tại quân đội gắn với sự ra đời và tồn tại chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nguồn gốc trực tiếp xuất hiện và tồn tại quân đội là do xã hội có sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp.
Hai là, tư tưởng của Ph.Ăngghen về bản chất quân đội.
Quân đội bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó và: Quân đội đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó. Ph.Ăngghen cho rằng, để làm giàu, củng cố và mở rộng quyền thống trị, bảo vệ chắc chắn các lợi ích kinh tế và quyền lực thống trị trong tay mình, giai cấp thống trị tổ chức ra quân đội và hợp pháp hóa bạo lực vũ trang, biến thành một trong những phương tiện hữu hiện nhất để trấn áp các lực lượng, giai cấp đối lập với mình, thực hiện bằng được các mục tiêu chính trị. Những luận giải của Ph.Ăngghen đã minh chứng rõ ràng, bản chất của quân đội chính là công cụ bạo lực vũ trang để bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp, nhà nước đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội.
Ph.Ăngghen đã luận giải và làm rõ hơn bản chất của quân đội khi khẳng định, bản chất giai cấp của quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó: “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội – người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025a, tr.11), và “Quân đội đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025b, tr. 242). Luận điểm này của Ph.Ăngghen đã giáng một đòn mạnh vào lý luận quân sự của giai cấp tư sản hòng che đậy bản chất giai cấp của quân đội. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc; vấn đề quyết định bản chất giai cấp của quân đội là ở chỗ, quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra nó. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với giai cấp và nhà nước. Giai cấp và nhà nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức thông qua các quan điểm, tư tưởng của họ.
Ba là, tư tưởng về sức mạnh chiến đấu quân đội.
Ph.Ph.Ăngghen đã đề cập những yếu tố cơ bản trong sức mạnh chiến đấu của quân đội; đồng thời, luận giải yếu tố quân số, cơ cấu tổ chức, biên chế của quân đội. Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Tất cả những người được gọi nhập ngũ biên chế thành bộ binh trang bị nặng (quân hô-plít) để tạo thành đội chấp kích, hoặc đội hình hàng ngang có chiều sâu… bộ binh ấy ban đầu tạo thành toàn bộ lực lượng vũ trang,…” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025a, tr.17). Ph.Ăngghen phân tích cơ cấu tổ chức của quân đội gồm nhiều cơ quan và được thực hiện theo những cách khác nhau ở mỗi nước. Ph.Ăngghen lấy ví dụ: “tổ chức của bộ chiến tranh Pháp. Nó gồm có 7 cơ quan quản lý hoặc cục: 1) cục nhân sự, 2) cục pháo binh, 3) cục xây dựng công trình – cứ điểm, 4) cục quân nhu, 5) cục phụ trách các vấn đề An-giê-ri, 6) quân vụ (phòng chiến sự, phòng đồ bản quân sự, v.v. và các phòng ban của bộ tham mưu), 7) cục tài chính quân sự” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025a, tr.68).
Ph.Ăngghen luận giải sự vận động, phát triển sức mạnh chiến đấu của quân đội là sự chuyển hóa từ “lượng” thành “chất” và cho rằng: “…toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào nhân lực và vũ khí, nghĩa là vào số lượng và chất lượng của dân cư và của kỹ thuật nữa” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025b, tr.241). Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc rất lớn vào kinh tế, trực tiếp là trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định. Ông khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông” (C.Mác – Ph.Ăngghen, 2025b, tr.235). Ph.Ăngghen luận giải một cách biện chứng về sự chuyển hóa lượng – chất trong sức mạnh chiến đấu của quân đội gắn với sự hoàn thiện trình độ tổ chức quân sự trong mối tương quan với các tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội; chỉ ra sự tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội ở bất cứ nhà nước nào cũng không thoát khỏi những điều kiện kinh tế.
Bốn là, tư tưởng về quy luật hình thành, phát triển quân đội.
Ph.Ăngghen đã luận giải và chỉ ra sự vận động, phát triển của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội. Quân đội của các nhà nước thống trị bóc lột trong lịch sử luôn dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để răn đe, buộc quần chúng lao động phải phục tùng giai cấp thống trị và nhà nước của nó; dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để đàn áp sự phản kháng của quần chúng lao động và duy trì sự áp bức của giai cấp thống trị bóc lột đối với toàn xã hội. Mặt khác, nó còn là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu để nhà nước thống trị bóc lột tiến hành chiến tranh, sức mạnh bạo lực vũ trang của quân đội được nhà nước sử dụng để bảo vệ lãnh thổ đất nước khỏi các cuộc xâm lược từ bên ngoài và có thể tiến hành chiến tranh xâm lược các dân tộc khác vì lợi ích của giai cấp thống trị bóc lột trong nước.
Ph.Ăngghen phân tích, sự tan rã rộng khắp của chế độ phong kiến và sự phát triển của các thành thị đã thúc đẩy sự thay đổi thành phần của quân đội. Chế độ phong kiến được xác lập đưa tới sự ra đời của quân đội phong kiến. Quân đội phong kiến là công cụ của quyền lực nhà nước phong kiến, chỗ dựa cho giai cấp địa chủ phong kiến. Sự thay đổi của loại hình quan hệ xã hội quy định sự thay đổi nội dung hoạt động của quân đội. Nhiệm vụ chủ yếu của quân đội phong kiến là đàn áp nông nô và đi xâm lược các vùng đất mới, mở mang lãnh thổ và áp bức các dân tộc khác. Đối với các nước khác nhau và trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội phong kiến, quân đội có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức, quân số, nguyên tắc tuyển mộ binh lính. Song bản chất của quân đội phong kiến là không thay đổi, nó vẫn là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước phong kiến, là phương tiện để duy trì quan hệ áp bức bóc lột trong xã hội phong kiến.
3. Vận dụng tư tưởng Ph.Ăngghen về quân đội trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cốt lõi, giữ vai trò nền tảng để hình thành sức mạnh tổng hợp, bảo đảm quân đội trung thành tuyệt đối với giai cấp, nhà nước và mục tiêu cách mạng. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng vững mạnh về chính trị vừa là yêu cầu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vừa là điều kiện tiên quyết để Quân đội hoàn thành xuất sắc chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Trong đó:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, mang tính sống còn, quyết định bản chất giai cấp công nhân và định hướng chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên tắc này không chỉ là vấn đề cốt lõi trong tổ chức quân sự mácxít mà còn là quy luật khách quan trong sự hình thành, phát triển của một đội quân kiểu mới; bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, mục tiêu chiến đấu luôn nhất quán: Vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đây không chỉ là định hướng chiến lược bất biến mà còn là cội nguồn sức mạnh tinh thần trực tiếp làm nên những chiến công lừng lẫy trong các cuộc kháng chiến cứu nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trên nền tảng đó, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn hòa quyện sâu sắc giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Ph.Ăngghen trong bối cảnh mới đòi hỏi toàn quân phải kiên định lập trường, nâng cao cảnh giác cách mạng, tuyệt đối không mơ hồ về đối tượng, đối tác, hoặc dao động trước các quan điểm sai trái, thù địch. Tiến trình cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý: Ở đâu và khi nào giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, ở đó quân đội luôn vững vàng, phát huy cao độ sức mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; ngược lại, nếu buông lỏng sự lãnh đạo này, quân đội sẽ đứng trước nguy cơ suy thoái về bản chất và mất phương hướng hoạt động. Do đó, nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng trong quân đội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự bản lĩnh, tiên phong, gương mẫu; đồng thời, quyết liệt đấu tranh với mọi biểu hiện xem nhẹ công tác đảng, công tác chính trị từ cơ sở.
Hai là, đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị, xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ.
Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay không thuần túy là sự thay đổi về mặt kỹ thuật hay phương pháp sư phạm, mà thực chất là vấn đề cốt tử để bảo đảm sức mạnh chính trị – tinh thần của một Quân đội cách mạng. Theo phương pháp luận của Ph.Ăngghen, sức mạnh của quân đội không chỉ được quyết định bởi tính hiện đại của vũ khí hay quy mô tổ chức, mà sâu xa hơn, bị chi phối bởi hệ tư tưởng chủ đạo, mức độ giác ngộ chính trị và sự thống nhất về mục tiêu hành động của con người. Do đó, giáo dục lý luận chính trị chính là con đường ngắn nhất, trực tiếp nhất để hình thành “hệ miễn dịch tư tưởng” và năng lực tự bảo vệ trận địa chính trị của Quân đội từ sớm, từ xa.
Quá trình giáo dục bám sát phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” là quan trọng, quyết liệt. “Xây” giữ vai trò nền tảng, tạo sức đề kháng lâu dài thông qua việc củng cố hệ tư tưởng cách mạng, phát huy giá trị văn hóa và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. “Chống” giữ vai trò trực tiếp, kịp thời phản bác các luận điệu xuyên tạc, vô hiệu hóa nguy cơ xâm nhập tư tưởng độc hại. Khi hai mặt này hòa quyện hữu cơ, công tác giáo dục chính trị mới thực sự trở thành “lá chắn mềm” bảo vệ quân đội vững chắc trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia kỹ thuật quân sự toàn diện cả về tài và đức.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia kỹ thuật quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là xây dựng chủ thể trung tâm, nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo, chỉ huy, huấn luyện và sức mạnh chính trị – tinh thần của quân đội. Theo tư tưởng Ph.Ăngghen, con người, đặc biệt là những người giữ vai trò tổ chức, điều hành và lãnh đạo luôn là nhân tố quyết định trong việc hình thành sức mạnh của quân đội cách mạng. Vũ khí, trang bị và công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng và trình độ tổ chức, chỉ huy tương xứng.
Vận dụng tư tưởng Ph.Ăngghen trong điều kiện mới đòi hỏi phải chuyển hóa quá trình đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên gia kỹ thuật quân sự từ việc thuần túy nâng cao trình độ chuyên môn sang đào tạo toàn diện cả năng lực kỹ thuật và bản lĩnh chính trị. Đội ngũ này phải trở thành những “chiến sĩ công nghệ” thực thụ: giỏi chuyên môn, làm chủ vũ khí trang bị hiện đại, đồng thời có ý thức chính trị sâu sắc, sẵn sàng bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia trên cả không gian thực và không gian số. Trước hết là vững vàng về lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nền tảng tư duy khoa học, giúp họ không bị dao động trước các tác động tâm lý chiến và chiến tranh thông tin công nghệ cao. Đồng thời, phải có trình độ chuyên môn sâu, tư duy độc lập và năng lực sáng tạo để giải quyết hiệu quả các bài toán kỹ thuật phức tạp trong điều kiện tác chiến hiện đại. Bên cạnh đó, cần bảo đảm tính chính xác, kỷ luật, khoa học trong công tác chuyên môn, gắn với năng lực quản lý, khai thác hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Đặc biệt, phải đề cao phẩm chất nêu gương, liêm chính và trách nhiệm, qua đó tạo dựng uy tín, sức thuyết phục và khả năng quy tụ tự nhiên trong tập thể.
Bốn là, quan tâm chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và thực hiện tốt chính sách đối với quân đội không chỉ là vấn đề an sinh xã hội đơn thuần mà là một nội dung có tính nguyên tắc trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tồn tại xã hội giữ vai trò quyết định đối với ý thức xã hội; do đó, điều kiện vật chất và môi trường tinh thần chính là nền tảng trực tiếp chi phối trạng thái tư tưởng, niềm tin và ý chí chiến đấu của quân nhân. Khi đời sống không được bảo đảm đầy đủ và ổn định, nguy cơ dao động về tư tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu và thiếu gắn bó tổ chức sẽ có điều kiện nảy sinh.
Chăm lo đời sống bộ đội còn là giải pháp mang tính chủ động, góp phần “phòng ngừa từ gốc” các nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường. Khi đời sống vật chất và tinh thần được bảo đảm hài hòa, quân nhân sẽ có nền tảng vững chắc để yên tâm công tác, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
4. Kết luận
Vận dụng tư tưởng Ph. Ăngghen về quân đội vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là một quan niệm có tính tổng hợp, bao gồm nhận thức lý luận, mục tiêu chính trị, chủ thể thực hiện, nội dung vận dụng và phương thức cụ thể hóa. Quan niệm này đặt việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trên nền tảng khoa học, lịch sử, cụ thể, đồng thời, tạo cơ sở để triển khai các hướng vận dụng tiếp theo, trước hết là vận dụng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị.
Tài liệu tham khảo:
C.Mác và Ph.Ăngghen (2025a). Toàn tập (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C.Mác và Ph.Ăngghen (2025b). Toàn tập (Tập 20). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C.Mác và Ph.Ăngghen (2025c). Toàn tập (Tập 21). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



