The wind power supply chain for energy security: Current situation and proposed solutions
ThS. Phạm Thị Huế
Học viện Chính trị Công an nhân dân
Email: phamhuet03@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở phân tích các văn bản quy hoạch và báo cáo chuyên ngành, bài viết đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng điện gió ở Việt Nam, tập trung vào năng lực sản xuất trong nước, hạ tầng kỹ thuật và sự liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi. Kết quả phân tích cho thấy, tiềm năng phát triển cần được chuyển hóa thành năng lực cung ứng thực tế thông qua sự phối hợp giữa chính sách công nghiệp, đầu tư công nghệ và phát triển hạ tầng. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách; phát triển công nghiệp hỗ trợ, nội địa hóa có chọn lọc; thu hút đầu tư, thúc đẩy chuyển giao công nghệ; đồng thời phát triển đồng bộ lưới điện, cảng biển và logistics. Các giải pháp hướng tới nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng và khai thác tiềm năng điện gió theo hướng bền vững.
Từ khóa: Điện gió; chuỗi cung ứng; an ninh năng lượng.
Abstract: Drawing on planning documents and sectoral reports, this article examines Vietnam’s wind power supply chain, focusing on domestic manufacturing capacity, technical infrastructure, and coordination among supply chain participants. The analysis indicates that development potential must be translated into actual supply capabilities through coordinated industrial policies, technological investment, and infrastructure development. The article proposes four groups of solutions: strengthening strategic direction; improving the policy and investment environment; developing supporting industries and selective localization through investment and technology transfer; and coordinating grid, port, and logistics infrastructure. These solutions aim to enhance energy system resilience and support the sustainable development of wind power in Vietnam.
Keywords: Wind power; supply chain; energy security.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, bảo đảm an ninh năng lượng là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và nguồn cung năng lượng từ bên ngoài khiến nhiều quốc gia đối mặt với rủi ro về giá cả, nguồn cung và biến động địa chính trị (International Energy Agency – IEA, 2023). Trong bối cảnh đó, điện gió đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn cung, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao tính tự chủ năng lượng. Khả năng cạnh tranh về chi phí phát điện cũng là cơ sở để xem xét mở rộng điện gió trong cơ cấu nguồn điện (International Renewable Energy Agency – IRENA, 2025). Tuy nhiên, hiệu quả đóng góp của điện gió đối với an ninh năng lượng không chỉ phụ thuộc vào quy mô công suất phát điện mà còn gắn liền với năng lực và tính ổn định của chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng điện gió bao gồm các khâu từ cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất thiết bị, vận chuyển, xây dựng, lắp đặt đến vận hành, bảo dưỡng và xử lý thiết bị vào cuối vòng đời. Sự liên kết giữa các khâu này quyết định đáng kể đến chi phí đầu tư, tiến độ triển khai và hiệu quả khai thác của dự án (Global Wind Energy Council – GWEC & Boston Consulting Group – BCG, 2023). Trong khi đó, sự phụ thuộc vào một số thị trường cung cấp công nghệ, linh kiện và nguyên vật liệu, cùng với những rủi ro về logistics và gián đoạn thương mại, có thể làm gia tăng mức độ dễ bị tổn thương của chuỗi cung ứng (IEA, 2023). Vì vậy, phát triển chuỗi cung ứng điện gió đồng bộ, linh hoạt và có khả năng chống chịu là điều kiện quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn năng lượng này, đồng thời củng cố an ninh năng lượng trong dài hạn.
Đối với Việt Nam, tiềm năng phát triển điện gió trên bờ và ngoài khơi tạo cơ hội đa dạng hóa nguồn điện, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa tiềm năng này còn đối mặt với những hạn chế về năng lực sản xuất thiết bị trong nước, mức độ nội địa hóa, khả năng tiếp cận công nghệ, hạ tầng logistics chuyên dụng và chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, yêu cầu phát triển đồng bộ lưới điện, hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn vốn dài hạn cũng ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và hiệu quả vận hành của các dự án. Những vấn đề này đã được nhận diện trong các nghiên cứu về lộ trình điện gió ngoài khơi và dịch vụ hỗ trợ tại Việt Nam (Nguyễn et al., 2022; Phạm & Dư, 2024; World Bank, 2021).
2. Thực trạng phát triển chuỗi cung ứng điện gió ở Việt Nam
2.1. Bức tranh toàn cảnh quy hoạch điện gió
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.000 km và nguồn tài nguyên gió thuận lợi cho phát triển điện gió, đặc biệt tại các khu vực ven biển miền Trung và miền Nam. World Bank (2021) ước tính tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 599 GW, thường được làm tròn thành 600 GW. Đây là tiềm năng kỹ thuật, chưa đồng nghĩa với công suất có thể triển khai về mặt kinh tế, môi trường và xã hội. Việc phân biệt tiềm năng tài nguyên với khả năng đầu tư thực tế có ý nghĩa quan trọng khi xác định quy mô thị trường cho các nhà cung ứng thiết bị và dịch vụ. Với tiềm năng như vậy, Việt Nam theo đuổi mục tiêu phát triển điện gió như một bộ phận quan trọng cho năng lượng tương lai.
Ngày 15/4/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 768/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII). Quy hoạch đã xác định rõ ba mục tiêu cụ thể: (1) Bảo đảm an ninh năng lượng; (2) Chuyển đổi năng lượng công bằng; (3) Phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo. Quy hoạch nhấn mạnh phương án phát triển tối đa nguồn điện từ năng lượng tái tạo; trong đó đẩy mạnh điện gió trên bờ, gần bờ và ngoài khơi, phù hợp với khả năng hấp thụ của hệ thống và khả năng giải tỏa công suất của lưới điện (Thủ tướng Chính phủ, 2025b).
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã xác lập định hướng phát triển điện gió theo hướng mở rộng quy mô nguồn điện tái tạo, đa dạng hóa cơ cấu năng lượng và từng bước khai thác tiềm năng điện gió ngoài khơi. Theo đó, điện gió không chỉ đóng vai trò bổ sung nguồn điện phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong nước mà còn được định hướng trở thành một trong những nền tảng quan trọng để phát triển các ngành năng lượng mới, như hydro xanh và amoniac xanh.
Quy hoạch xác định đến năm 2030 tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066 – 38.029 MW. Đối với điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước, quy mô 6.000 – 17.032 MW dự kiến được đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030 – 2035; đến năm 2050 định hướng đạt 113.503 – 139.097 MW. Quy hoạch đồng thời định hướng phát triển khoảng 15.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050 để sản xuất các năng lượng mới như hydro xanh và amoniac xanh (Thủ tướng Chính phủ, 2025b). Đối với phục vụ xuất khẩu, ưu tiên phát triển các nguồn điện từ năng lượng tái tạo. Đến năm 2030, tăng quy mô xuất khẩu điện sang Campuchia lên khoảng 400 MW. Dự kiến đến năm 2035, quy mô công suất xuất khẩu điện sang Malaysia, Singapore và các đối tác khác trong khu vực đạt khoảng 5.000 – 10.000 MW và duy trì ở mức 10.000 MW đến năm 2050, có thể cao hơn tùy theo nhu cầu của bên nhập khẩu, trên cơ sở hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng trong nước và an ninh quốc phòng (Thủ tướng Chính phủ, 2025b).
Các mục tiêu công suất nêu trên là định hướng quy hoạch, không phải số liệu về công suất đã vận hành. Vì vậy, nhu cầu đối với chuỗi cung ứng cần được xem xét gắn với tiến độ chuẩn bị và thực hiện từng dự án. Ngày 02/12/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2634/QĐ-TTg phê duyệt danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng. Việc đưa các dự án điện gió ngoài khơi vào danh mục này thể hiện định hướng ưu tiên tổ chức triển khai các công trình có ý nghĩa đối với hệ thống năng lượng và khả năng xuất khẩu điện (Thủ tướng Chính phủ, 2025a).
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cho thấy, chiến lược phát triển điện gió của Việt Nam đang chuyển từ việc mở rộng các dự án phát điện trên bờ sang một mô hình phát triển đa dạng hơn, kết hợp điện gió trên bờ, gần bờ, ngoài khơi và các chuỗi sản xuất năng lượng mới. Trong ngắn hạn, điện gió trên bờ và gần bờ vẫn là nhóm nguồn điện quan trọng, góp phần bổ sung công suất cho hệ thống. Trong trung và dài hạn, điện gió ngoài khơi được định hướng mở rộng mạnh mẽ, đồng thời tạo cơ sở để phát triển công nghiệp phụ trợ, dịch vụ kỹ thuật biển và các ngành năng lượng có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu quy hoạch và công suất thực tế được triển khai sẽ phụ thuộc vào mức độ đồng bộ giữa cơ chế, chính sách, quy hoạch không gian, hạ tầng truyền tải, nguồn vốn và thị trường tiêu thụ. Đây cũng là cơ sở để đánh giá tính khả thi của kế hoạch đầu tư vào chuỗi cung ứng, thay vì chỉ căn cứ vào tổng công suất mục tiêu (Phạm & Dư, 2024).
2.2. Chuỗi cung ứng điện gió ở Việt Nam
Theo World Bank (2021), Việt Nam là một thị trường điện gió mới nổi và đã có sẵn chuỗi cung ứng trong các ngành công nghiệp như dầu khí, đóng tàu, xây dựng công trình biển và cơ khí chế tạo. Việt Nam có tiềm năng tận dụng kinh nghiệm hiện có trong các ngành công nghiệp có năng lực kỹ thuật tương đồng để cung cấp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các dự án điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Xét đến vị trí thuận lợi trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giao thông hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng trở thành trung tâm chuỗi cung ứng các bộ phận trong cấu trúc điện gió ngoài khơi, đặc biệt trong các lĩnh vực: gia công móng dạng giàn (jacket), sản xuất trụ, dịch vụ vận hành và bảo dưỡng. Khả năng phát triển các khâu này cần được phân biệt với triển vọng đầu tư mới vào lắp ráp cụm máy tua-bin (nacelle), vốn đòi hỏi công nghệ và tổ chức sản xuất chuyên biệt. Nghiên cứu về doanh nghiệp dịch vụ dầu khí cho thấy cơ hội chuyển đổi năng lực sang khảo sát, thiết kế, chế tạo và cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi (Nguyễn et al., 2022). Hệ thống cảng biển cũng tạo cơ sở để hình thành các trung tâm logistics phục vụ ngành, với điều kiện được nâng cấp phù hợp (OWC, 2024).
Theo nghiên cứu của BVG Associates (2021), được thực hiện theo đặt hàng của Equinor, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp có khả năng tham gia cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho điện gió. Nghiên cứu đã nhận diện khoảng 300 doanh nghiệp tiềm năng, trong đó khoảng 64 doanh nghiệp phản hồi trong quá trình khảo sát (BVG Associates, 2021, tr. 13). Kết quả cho thấy, một hệ thống doanh nghiệp có thể tham gia vào nhiều công đoạn của chuỗi cung ứng, từ phát triển dự án, chế tạo, lắp đặt đến vận hành và bảo dưỡng. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam tận dụng năng lực sản xuất đã tích lũy, giảm chi phí hình thành năng lực mới và từng bước mở rộng sự tham gia vào chuỗi cung ứng điện gió quốc tế. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp có kinh nghiệm trong ngành dầu khí hoặc cơ khí không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và quy mô sản xuất của ngành điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi.
Đối với dây và cáp điện, sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh không tự động phản ánh khả năng cung ứng cáp ngầm đáp ứng yêu cầu của dự án điện gió ngoài khơi. Năng lực này cần được đánh giá bằng chủng loại sản phẩm, trình độ công nghệ, chứng nhận kỹ thuật, công suất sản xuất và kinh nghiệm thực hiện hợp đồng. Quan ngại về quy mô sản xuất và khả năng tham gia chuỗi giá trị đã được đặt ra trong nghiên cứu về công nghiệp tua-bin gió nội địa (Nguyễn & Hà-Dương, 2018). Tuy nhiên, không thể suy ra mức độ phân mảnh hay hiệu quả của toàn ngành chỉ bằng cách so sánh số doanh nghiệp trong nước với số hội viên của các hiệp hội quốc tế, do phạm vi thống kê khác nhau. Do đó, lợi thế về nền tảng công nghiệp chỉ tạo ra điều kiện ban đầu; để chuyển thành năng lực cung ứng thực tế, doanh nghiệp vẫn cần đầu tư nâng cấp công nghệ, đào tạo nhân lực và đáp ứng các tiêu chuẩn đặc thù của thị trường.
Việt Nam đã có nền tảng công nghiệp để phát triển chuỗi cung ứng điện gió, nhưng năng lực còn phân hóa giữa các khâu; các khâu công nghệ cao còn có khoảng trống về năng lực cung ứng trong nước (BVG Associates, 2021; OWC, 2024).
Trong lĩnh vực chế tạo móng, kết cấu thép và một số cấu kiện có kích thước lớn, Việt Nam có nền tảng thuận lợi hơn nhờ kinh nghiệm từ ngành dầu khí và cơ khí công trình biển. Trong khi đó, năng lực sản xuất các bộ phận có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như cánh quạt, thiết bị tua-bin, cáp ngầm, tàu lắp đặt chuyên dụng và lắp ráp cụm máy tua-bin còn hạn chế theo các đánh giá tại thời điểm lập báo cáo (OWC, 2024). Đây là những sản phẩm đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ chuyên biệt, quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Việc phát triển cơ sở sản xuất các bộ phận này không chỉ phụ thuộc vào năng lực công nghệ của doanh nghiệp mà còn gắn với triển vọng thị trường, quy mô đơn hàng và khả năng thu hồi vốn đầu tư. Khi nhu cầu và tín hiệu thị trường chưa đủ rõ ràng hoặc tiến độ triển khai dự án khó dự báo, doanh nghiệp có thể thận trọng trong việc đầu tư nhà máy và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không phải là nội địa hóa toàn bộ các bộ phận tua-bin bằng mọi giá mà là xác định những khâu có lợi thế cạnh tranh, khả năng phát triển công nghệ và triển vọng thị trường để ưu tiên đầu tư (Nguyễn & Hà-Dương, 2018), đồng thời duy trì khả năng tiếp cận các nguồn cung quốc tế đối với những sản phẩm chưa phù hợp để sản xuất trong nước.
Hạ tầng lưới điện là điều kiện quyết định đối với khả năng đấu nối, truyền tải và khai thác hiệu quả nguồn điện gió. Theo hiện trạng được mô tả trong báo cáo của World Bank (2021), hệ thống điện Việt Nam khi đó có trên 7.500 km đường dây 500 kV và gần 40.000 km đường dây 110 kV và 220 kV. Hệ thống truyền tải liên miền Bắc – Nam có 2 tuyến đường dây 500 kV song song, mỗi tuyến dài khoảng 1.500 km. Báo cáo cũng nêu năng lực truyền tải trên kết nối Bắc – Trung khoảng 2.600 MW, còn kết nối Trung – Nam khoảng 4.600 MW (World Bank, 2021, tr. 142-143).
Báo cáo nhận diện tuyến truyền tải Bắc – Nam chịu mức tải cao, đặc biệt trong mùa mưa, trùng với thời kỳ có gió lớn. Điều này cho thấy bài toán truyền tải liên vùng đã được nhận diện là một yếu tố quan trọng đối với việc phát triển các nguồn điện tái tạo, trong đó có điện gió. Nguy cơ nghẽn mạch lưới điện được xác định trong kịch bản năm 2030, liên quan đến khoảng 27 GW công suất từ các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có 5 GW điện gió ngoài khơi (World Bank, 2021, tr. 142-143). Các số liệu trên phản ánh bối cảnh và kịch bản của báo cáo năm 2021, không phải hiện trạng lưới điện tại thời điểm công bố bài viết. Nếu quy hoạch nguồn điện và quy hoạch lưới điện không được triển khai đồng bộ, việc bổ sung công suất phát điện có thể vượt quá khả năng tiếp nhận của hệ thống tại một số địa điểm hoặc trong một số thời kỳ. Khi đó, dự án có thể đối mặt với rủi ro chậm đấu nối, hạn chế khả năng phát điện hoặc phát sinh thêm chi phí đầu tư hạ tầng.
Về hạ tầng cảng biển, khác với hoạt động vận chuyển hàng hóa thông thường, các cấu kiện điện gió ngoài khơi có kích thước và khối lượng lớn, đòi hỏi mặt bằng tập kết, khả năng chịu tải, thiết bị nâng hạ và điều kiện tiếp cận đường thủy phù hợp. Theo báo cáo của World Bank (2021), năng lực của các cảng biển tại Việt Nam khác nhau giữa các khu vực; một số địa điểm có thể tận dụng lợi thế từ hoạt động dầu khí và chế tạo kết cấu lớn, trong khi những địa điểm khác còn gặp hạn chế về diện tích, điều kiện tiếp cận hoặc khả năng đáp ứng các yêu cầu chuyên biệt. Tại thời điểm lập báo cáo, World Bank (2021, tr. 151) ghi nhận khoảng 320 cảng theo phạm vi thống kê của nghiên cứu, trong đó có 44 cảng biển; các cảng lớn tập trung tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng. Cần phân biệt số lượng cảng với năng lực phục vụ cấu kiện điện gió ngoài khơi của từng địa điểm. Mặc dù có nền tảng hạ tầng cảng, Việt Nam vẫn cần đánh giá và nâng cấp các cảng được lựa chọn theo yêu cầu chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng điện gió ngoài khơi; không thể coi mọi cảng là đã sẵn sàng phục vụ các chức năng này (OWC, 2024). Việc phát triển hạ tầng cần gắn với quy hoạch nguồn điện, quy hoạch không gian biển, quy hoạch cảng biển và định hướng phát triển công nghiệp. Nếu các quyết định đầu tư về hạ tầng thiếu sự phối hợp, doanh nghiệp chế tạo có thể gặp khó khăn trong việc vận chuyển sản phẩm, trong khi các dự án nâng cấp cảng cũng khó bảo đảm hiệu quả khi nhu cầu sử dụng chưa rõ ràng. Vì vậy, phát triển hạ tầng logistics cần được xem là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển chuỗi cung ứng điện gió, thay vì chỉ là điều kiện hỗ trợ cho từng dự án riêng lẻ.
3. Giải pháp phát triển chuỗi cung ứng điện gió góp phần bảo đảm an ninh năng lượng ở Việt Nam
Một là, hoàn thiện định hướng chiến lược phát triển chuỗi cung ứng điện gió gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Cần xây dựng định hướng phát triển chuỗi cung ứng điện gió như một bộ phận của chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển công nghiệp năng lượng quốc gia. Trọng tâm là chuyển từ mục tiêu chủ yếu mở rộng nguồn điện sang cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa phát triển công suất phát điện, nâng cao năng lực cung ứng thiết bị, làm chủ các khâu kỹ thuật quan trọng và tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống trước những biến động bên ngoài. Trên cơ sở đó, cần xây dựng một lộ trình phát triển chuỗi cung ứng điện gió có tính liên ngành, trong đó xác định các phân khúc ưu tiên theo năng lực thực tế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường đầu tư để khuyến khích phát triển chuỗi cung ứng.
Cần rà soát, làm rõ và hoàn thiện các chính sách về cơ chế giá, đấu nối lưới điện, quy mô dự án, thủ tục pháp lý và các ưu đãi tài chính, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với các quy định liên quan đến đầu tư sản xuất thiết bị điện gió, công nghiệp hỗ trợ, chuyển giao công nghệ, tín dụng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực. Những quy định có phạm vi điều chỉnh chồng chéo hoặc chưa làm rõ điều kiện áp dụng cần được sửa đổi theo hướng minh bạch và thống nhất hơn. Kinh nghiệm hệ thống hóa quy trình phát triển dự án cho thấy sự rõ ràng về trình tự và yêu cầu thủ tục là cơ sở để nhà đầu tư chuẩn bị dự án; khi vận dụng, cần đối chiếu với quy định đang có hiệu lực thay vì sử dụng nguyên trạng hướng dẫn cũ (Agut et al., 2016).
Ba là, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung thiết bị và linh kiện từ bên ngoài.
Cần xây dựng chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực của các nhà cung ứng trong nước theo từng nhóm sản phẩm. Đối với kết cấu thép, móng và các cấu kiện liên quan đến ngành dầu khí ngoài khơi, cần hỗ trợ nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, kiểm định, quản lý chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đối với cáp điện, thiết bị điện, hệ thống điều khiển và các bộ phận có khả năng sản xuất trong nước, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ, tăng cường nghiên cứu và phát triển, cải tiến quy trình sản xuất, đồng thời tham gia các chương trình đánh giá nhà cung ứng của các tập đoàn quốc tế. Đối với các cấu kiện có hàm lượng công nghệ cao, cần ưu tiên hình thức hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, cấp phép sản xuất và phát triển đội ngũ kỹ sư trong nước.
Bốn là, phát triển đồng bộ hạ tầng lưới điện, cảng biển và logistics phục vụ chuỗi cung ứng điện gió.
Đối với lưới điện, cần ưu tiên các công trình truyền tải có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận công suất điện gió tại các khu vực tập trung nguồn điện. Việc đầu tư đường dây, trạm biến áp và hệ thống đấu nối cần được thực hiện đồng bộ với tiến độ của dự án nguồn điện. Đối với điện gió ngoài khơi, cần tính toán thống nhất hệ thống cáp ngầm dưới biển, trạm biến áp ngoài khơi, điểm tiếp bờ và mạng lưới truyền tải trên đất liền. Đồng thời, cần tăng cường năng lực dự báo sản lượng, điều độ và vận hành linh hoạt để hệ thống có thể hấp thụ tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng, đồng thời vẫn bảo đảm an toàn và ổn định.
Đối với cảng biển, cần rà soát và phân loại các cảng theo chức năng phục vụ chuỗi cung ứng: cảng chế tạo kết cấu, cảng tập kết và lắp ráp, cảng phục vụ thi công, cảng hậu cần vận hành và bảo dưỡng. Các tiêu chí đánh giá phải bao gồm diện tích mặt bằng, tải trọng bề mặt, độ sâu luồng tàu, khả năng tiếp nhận tàu chuyên dụng, thiết bị nâng hạ và khả năng kết nối với các cơ sở sản xuất. Trên cơ sở đó, cần lựa chọn các cụm cảng có lợi thế để ưu tiên nâng cấp, đồng thời xem xét khả năng sử dụng chung giữa các dự án nhằm giảm chi phí và tránh đầu tư trùng lặp.
Cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc phối hợp quy hoạch, phê duyệt và triển khai các công trình hạ tầng. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế huy động vốn tư nhân đối với các hạng mục có khả năng khai thác thương mại, bảo đảm nguyên tắc phân bổ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Đối với các công trình có tính chất hạ tầng thiết yếu và lợi ích lan tỏa lớn, cần đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế – xã hội, không chỉ dựa trên doanh thu trực tiếp của từng dự án.
4. Kết luận
Phát triển chuỗi cung ứng điện gió không chỉ là giải pháp mở rộng nguồn năng lượng tái tạo mà còn là quá trình xây dựng năng lực tự chủ về công nghiệp, công nghệ và hạ tầng năng lượng của Việt Nam. Một chuỗi cung ứng được tổ chức hiệu quả, có mức độ nội địa hóa phù hợp, liên kết chặt chẽ với mạng lưới sản xuất toàn cầu và vận hành đồng bộ với hệ thống điện sẽ góp phần củng cố tính độc lập, khả năng chống chịu và tính bền vững của an ninh năng lượng quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhất quán giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, tổ chức tài chính và đối tác quốc tế; trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và định hướng phát triển, doanh nghiệp là lực lượng trung tâm trong đầu tư, đổi mới công nghệ và tổ chức thực hiện. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, có chi phí hợp lý và tạo nền tảng cho công nghiệp năng lượng hiện đại. Qua đó, Việt Nam có thể thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị năng lượng sạch khu vực và quốc tế, đồng thời củng cố năng lực tự chủ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh nhiều biến động.
Tài liệu tham khảo:
Agut, A., Trần, T. H., Vũ, C. M., & Cattelaens, P. (2016). Hướng dẫn đầu tư điện gió tại Việt Nam: Tập 1 – Phát triển dự án. Dự án Hỗ trợ Mở rộng Quy mô Điện gió tại Việt Nam, MOIT/GIZ. https://www.esp.org.vn/wp-content/uploads/DienGio1_3010.pdf
BVG Associates. (2021). Vietnam supply chain study. Equinor. https://www.norway.no/globalassets/2-world/vietnam/vietnam-supply-chain-study-final-report.pdf
Global Wind Energy Council, & Boston Consulting Group. (2023). Mission critical: Building the global wind energy supply chain for a 1.5°C world. https://gwec.net/wp-content/uploads/2023/12/MISSION-CRITICAL-BUILDING-THE-GLOBAL-WIND-ENERGY-SUPPLY-CHAIN-FOR-A-1.5%C2%B0C-WORLD.pdf
International Energy Agency. (2023). Energy technology perspectives 2023. https://www.iea.org/reports/energy-technology-perspectives-2023
International Renewable Energy Agency (2025). Renewable power generation costs in 2024. https://www.irena.org/-/media/Files/IRENA/Agency/Publication/2025/Jul/IRENA_TEC_RPGC_in_2024_2025.pdf
Nguyễn, H. S., & Hà-Dương, M. (26/6/2018). Phát triển công nghiệp tua bin gió nội địa: Con đường nào cho Việt Nam? Tạp chí Năng lượng Việt Nam. https://nangluongvietnam.vn/phat-trien-cong-nghiep-tua-bin-gio-noi-dia-con-duong-nao-cho-viet-nam-20814.html
Nguyễn, T. H., Vũ, T. V., & Tô, M. H. (2022). Đánh giá tiềm năng thị trường dịch vụ hỗ trợ điện gió ngoài khơi Việt Nam và cơ hội đối với các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí đến năm 2030. Tạp chí Dầu khí, (3), 35–44. https://doi.org/10.47800/PVJ.2022.03-05
OWC. (2024). Offshore wind supply chain for fast-track scenario in Vietnam. Innovation Norway & Đại sứ quán Na Uy tại Hà Nội. https://www.norway.no/globalassets/2-world/vietnam/documents/034625-vietnam-supply-chain-study_eng.pdf
Phạm, Q. N., & Dư, V. T. (2024). Phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam: Cơ hội, rào cản và giải pháp chính sách. Đặc san Dầu khí – Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, (2), 31–40. https://doi.org/10.47800/PVSI.2024.02-03
Thủ tướng Chính phủ (2025a). Quyết định số 2634/QĐ-TTg ngày 02/12/2025 phê duyệt danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/12/2634-ttg.signed.pdf
Thủ tướng Chính phủ (2025b). Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/quyet-dinh-768-qd-ttg-thu-tuong-chinh-phu-phe-duyet-dieu-chinh-quy-hoach-dien-viii-119250417074054718.htm
World Bank (2021). Offshore wind roadmap for Vietnam. https://hdl.handle.net/10986/36249



