Digital competency requirements for the performance of official duties by public officials and civil servants
TS. Trần Thị Bích Ngọc
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: ngocttb@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, năng lực số trở thành điều kiện quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Năng lực số không chỉ là khả năng sử dụng công nghệ, nền tảng và công cụ số mà còn bao gồm tư duy số, năng lực khai thác dữ liệu, phối hợp trên môi trường số, bảo đảm an toàn thông tin và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Trên cơ sở tiếp cận lý luận về năng lực số, phân tích khuôn khổ pháp lý và thực tiễn chuyển đổi số trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, bài viết làm rõ thực trạng, nhận diện bảy nhóm yêu cầu mới đối với năng lực số trong thực thi công vụ và đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Năng lực số; thực thi công vụ; cán bộ, công chức; chuyển đổi số; Chính phủ số.
Abstract: In the context of national digital transformation, digital competence has become a key determinant of the quality and effectiveness of public duty performance among public officials and civil servants. Digital competence encompasses not only the ability to use digital technologies, platforms and tools, but also digital thinking, data literacy, digital collaboration, information security and the responsible use of artificial intelligence. Drawing on theoretical perspectives, Vietnam’s legal framework and the practice of digital transformation in public administrative agencies, this article examines the current situation, identifies seven groups of emerging requirements for digital competence in public duty performance, and proposes solutions to develop the digital competence of public officials and civil servants in the digital era.
Keywords: Digital competence; public duty performance; public officials; digital transformation; digital government.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức tổ chức và vận hành của nền hành chính nhà nước. Việc phát triển các nền tảng dùng chung, cơ sở dữ liệu và dịch vụ công trực tuyến không chỉ thay đổi công cụ làm việc mà còn tác động trực tiếp đến quy trình giải quyết công việc, phương thức phối hợp, trách nhiệm giải trình và mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp. Chất lượng thực thi công vụ vì thế ngày càng phụ thuộc vào khả năng làm chủ môi trường số của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thời gian qua, Tạp chí Quản lý nhà nước đã đăng tải một số nghiên cứu về năng lực số của cán bộ, công chức. Thiều Huy Thuật (2026) làm rõ nội hàm năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã, đánh giá thực trạng tại tỉnh Đắk Lắk và đề xuất các giải pháp xây dựng khung năng lực, rà soát, đánh giá và bồi dưỡng. Lưu Song Hà & Lê Thị Thanh Bình (2026) xây dựng, kiểm định thang đo năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã gồm 4 nhân tố với 48 biến quan sát. Hoàng Ngọc Hải (2026) hệ thống hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và đề xuất khung năng lực số quốc gia cho cán bộ, công chức trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tiếp nối các nghiên cứu đó, bài viết tiếp cận năng lực số từ góc độ yêu cầu của thực thi công vụ, gắn với vị trí việc làm và kết quả công việc.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực đổi mới phương thức quản trị quốc gia (Bộ Chính trị, 2024). Tại khoản 1 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2025 bổ sung nghĩa vụ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực thi nhiệm vụ, qua đó chuyển yêu cầu ứng dụng công nghệ từ hoạt động mang tính hỗ trợ thành một nội dung của trách nhiệm công vụ (Quốc hội, 2025b). Cùng với đó, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 làm thay đổi khối lượng, tính chất và phương thức xử lý công việc, nhất là ở cấp xã (Quốc hội, 2025a).
Tuy nhiên, đầu tư hạ tầng và triển khai nền tảng số chưa đồng nghĩa với nâng cao tương ứng chất lượng thực thi công vụ. Vấn đề đặt ra không chỉ là trang bị kỹ năng sử dụng công cụ số mà quan trọng hơn là xác định đúng nội hàm, yêu cầu và phương thức phát triển năng lực số gắn với vị trí việc làm và kết quả công việc. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp chính sách và đối chiếu thực tiễn để làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý, thực trạng và những yêu cầu mới đối với năng lực số của cán bộ, công chức, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý về năng lực số trong thực thi công vụ
2.1. Khái niệm và đặc trưng của năng lực số trong thực thi công vụ
Thuật ngữ năng lực (competency) được sử dụng rộng rãi trong quản trị nguồn nhân lực kể từ nghiên cứu Spencer & Spencer (1993), năng lực là những đặc điểm nền tảng của cá nhân, gồm động cơ, tố chất, quan niệm về bản thân, kiến thức và kỹ năng, có quan hệ nhân quả với kết quả thực thi công việc vượt trội theo một chuẩn tham chiếu xác định. Khái quát lại, có thể hiểu năng lực là tổ hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và các thuộc tính cá nhân khác, được huy động và thể hiện qua hành vi, bảo đảm cho cá nhân hoàn thành nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể.
Khung năng lực số DigComp 2.2 của Liên minh châu Âu (EU) xác định năm nhóm năng lực: khai thác thông tin và dữ liệu; giao tiếp và hợp tác; sáng tạo nội dung số; an toàn; giải quyết vấn đề, đồng thời, nhấn mạnh sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ trong sử dụng công nghệ số một cách tự tin, có tính phê phán và an toàn (Vuorikari, R& cộng sự, 2022). Ở Việt Nam, Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản ban hành kèm theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ có phụ lục riêng dành cho cán bộ, công chức, viên chức, gồm kiến thức số cơ bản (về chuyển đổi số, công nghệ số và AI) và các nhóm kỹ năng: sử dụng thiết bị số và phần mềm; khai thác thông tin và dữ liệu số; giao tiếp và hợp tác trên môi trường số; sáng tạo nội dung số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; giải quyết vấn đề nhờ ứng dụng công nghệ số (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Ở góc độ khu vực công, OECD (2021) nhấn mạnh chuyển đổi số không chỉ cần chuyên gia công nghệ mà đòi hỏi mọi công chức có kỹ năng số phù hợp với vai trò của mình, cùng với môi trường tổ chức, sự dẫn dắt của lãnh đạo và cơ chế quản lý nhân sự thuận lợi để các kỹ năng đó được phát huy.
Tuy nhiên, năng lực số trong thực thi công vụ có những đặc điểm riêng, bởi hoạt động công vụ gắn với thực hiện quyền lực nhà nước, tuân thủ pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Từ đó, có thể hiểu: năng lực số trong thực thi công vụ là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, tư duy, thái độ và khả năng vận dụng công nghệ, dữ liệu, nền tảng và công cụ số của cán bộ, công chức để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao một cách đúng pháp luật, hiệu quả, an toàn, minh bạch và hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Năng lực số trong thực thi công vụ có ba đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, gắn với nhiệm vụ và vị trí việc làm: yêu cầu đối với công chức lãnh đạo, quản lý khác với công chức tham mưu hay công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính. Thứ hai, tích hợp giữa năng lực công nghệ và năng lực công vụ: một công chức thành thạo phần mềm nhưng không kiểm soát được tính chính xác, hợp pháp của thông tin vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Thứ ba, tính thích ứng và phát triển liên tục, bởi công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu, thay đổi rất nhanh. Với các đặc trưng đó, năng lực số là một bộ phận cấu thành năng lực thực thi công vụ: nó giúp nâng cao năng suất xử lý công việc, chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ giấy và kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Cụ thể hơn, năng lực số tác động đến chất lượng thực thi công vụ ở bốn phương diện: (1) Về năng suất, việc sử dụng thành thạo hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số và cơ sở dữ liệu giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm thao tác thủ công và trùng lặp. (2) Về chất lượng tham mưu, khả năng thu thập, kiểm chứng và phân tích dữ liệu giúp đánh giá tình hình chính xác hơn và nhận diện vấn đề kịp thời. (3) Về trách nhiệm giải trình, khi quy trình được thực hiện và ghi nhận trên hệ thống điện tử, việc xác định trách nhiệm, kiểm soát tiến độ và đánh giá kết quả trở nên thuận lợi hơn, với điều kiện dữ liệu được cập nhật chính xác. (4) Về chất lượng phục vụ, công chức có năng lực số tốt không chỉ vận hành được hệ thống mà còn hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến và xử lý linh hoạt những vướng mắc phát sinh.
2.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
Về định hướng chiến lược, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia, trong đó có nhiệm vụ bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức (Thủ tướng Chính phủ, 2021; Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Về chế độ công vụ, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 quy định nghĩa vụ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực thi nhiệm vụ (khoản 1 Điều 7); xác định mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số là một căn cứ xác định vị trí việc làm (điểm c khoản 1 Điều 23) và đổi mới đánh giá công chức gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ (Điều 25, Điều 26). Nghị định số 361/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định mỗi vị trí việc làm công chức phải có bản mô tả công việc và khung năng lực, tạo cơ sở để tích hợp yêu cầu năng lực số vào từng vị trí (Chính phủ, 2025). Đặc biệt, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đến hết năm 2026, 100% cán bộ, công chức, viên chức có hiểu biết về chuyển đổi số, sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số phục vụ công việc; từ năm 2027, 100% hoàn thành bồi dưỡng theo chương trình, học liệu cập nhật, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Đây là văn bản trực tiếp nhất, chuyển yêu cầu phát triển năng lực số từ định hướng thành chỉ tiêu có thời hạn cụ thể.
Về dữ liệu và công nghệ mới, Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 tạo nền tảng pháp lý cho quản lý, khai thác và bảo vệ dữ liệu (Quốc hội, 2024; Quốc hội, 2025c). Luật Chuyển đổi số năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định nguyên tắc, chính sách bảo đảm chuyển đổi số, trong đó có chính phủ số và trách nhiệm của các chủ thể (Quốc hội, 2025đ). Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, xác lập nguyên tắc duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người (khoản 2 Điều 4) và khẳng định việc ứng dụng AI trong quản lý nhà nước không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm quyết định của người ra quyết định (khoản 2 Điều 27) (Quốc hội, 2025d). Các quy định này cho thấy, yêu cầu đối với cán bộ, công chức đang chuyển từ “biết ứng dụng công nghệ” sang “làm việc, khai thác dữ liệu và chịu trách nhiệm công vụ trong môi trường số”.
3. Thực trạng năng lực số của cán bộ, công chức ở Việt Nam
3.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, nhận thức về vai trò của năng lực số từng bước được nâng cao. Chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình công tác của các cơ quan hành chính; nhiều cơ quan, địa phương đã tổ chức tập huấn, phổ cập kỹ năng số. Nhận thức không chỉ dừng ở coi công nghệ là công cụ hỗ trợ mà đã hướng tới đổi mới quy trình làm việc và phương thức cung cấp dịch vụ công. Việc Chính phủ ban hành chỉ tiêu cụ thể về kỹ năng số cho toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 cho thấy, năng lực số đã trở thành yêu cầu bắt buộc, không còn là lựa chọn của từng cá nhân.
Thứ hai, môi trường thực thi công vụ số được mở rộng. Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, chữ ký số, thư điện tử công vụ và hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đã trở thành công cụ làm việc thường xuyên. Theo kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW công bố cuối năm 2025, tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến và dịch vụ công trực tuyến toàn trình ở cấp trung ương lần lượt đạt 53,3% và 31,36%; ở cấp địa phương đạt 93,9% và 45% (Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 25/12/2025). Đây là chỉ tiêu triển khai dịch vụ công, không phải số đo trực tiếp mức độ thành thạo năng lực số của từng công chức, nhưng phản ánh môi trường làm việc số đang mở rộng nhanh.
Thứ ba, hoạt động nghiên cứu và bồi dưỡng năng lực số bước đầu được hệ thống hóa. Ngày 16/12/2024, Viện Khoa học tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) nghiệm thu đề tài cấp Bộ “Cơ sở khoa học xây dựng khung năng lực số của công chức trong cơ quan hành chính nhà nước”, đề xuất xây dựng khung năng lực số, hệ thống đánh giá và chương trình bồi dưỡng dành riêng cho công chức (Viện Khoa học tổ chức nhà nước & Bộ Nội vụ, 2024). Cùng với Quyết định số 757/QĐ-BKHCN và Chỉ thị số 14/CT-TTg, việc phát triển năng lực số đang được tiếp cận theo hướng chuẩn hóa.
Thứ tư, yêu cầu phục vụ người dân trên môi trường số ngày càng rõ. Kế hoạch nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình ban hành kèm theo Quyết định số 1565/QĐ-TTg ngày 18/7/2025 đặt mục tiêu đến năm 2026 thời gian xử lý hồ sơ trực tuyến giảm tối thiểu 30% so với hình thức trực tiếp và tỷ lệ người dân, doanh nghiệp hài lòng đạt tối thiểu 95% (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Mục tiêu này tạo áp lực tích cực để công chức phát triển năng lực số gắn với kết quả phục vụ.
3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, năng lực số chưa đồng đều giữa các nhóm cán bộ, công chức và vị trí việc làm. Trong cùng một cơ quan, có người chủ động khai thác dữ liệu và cải tiến công việc, nhưng cũng có người chủ yếu thực hiện thao tác cơ bản theo quy trình có sẵn. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc lớn hơn và yêu cầu xử lý liên thông làm sự chênh lệch này bộc lộ rõ hơn. Ở nhiều địa phương, một bộ phận công chức trước đây làm việc ở cấp huyện hoặc cấp xã cũ phải đồng thời tiếp cận nhiệm vụ mới, quy trình mới và hệ thống thông tin mới, khiến nhu cầu bồi dưỡng năng lực số trở nên cấp thiết hơn.
Thứ hai, năng lực số còn thiên về sử dụng công cụ, chưa chú trọng khai thác dữ liệu và giải quyết vấn đề. Công chức có thể thành thạo hệ thống quản lý văn bản nhưng chưa khai thác dữ liệu về tiến độ giải quyết công việc; có thể tiếp nhận hồ sơ trực tuyến nhưng chưa chủ động tái sử dụng thông tin sẵn có để giảm kê khai cho người dân. Khi đó, số hóa chỉ thay đổi hình thức xử lý công việc mà chưa tạo chuyển biến tương ứng về chất lượng quản trị.
Thứ ba, năng lực quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và sử dụng công nghệ mới còn hạn chế. Dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa không chỉ do hạ tầng mà còn do kỹ năng và trách nhiệm của người cập nhật, khai thác. Sự phổ biến của công cụ trí tuệ nhân tạo tạo cơ hội hỗ trợ tổng hợp, soạn thảo, nhưng nếu thiếu năng lực đánh giá kết quả, công chức có thể sử dụng thông tin chưa được kiểm chứng hoặc đưa dữ liệu thuộc phạm vi hạn chế tiếp cận lên các hệ thống không được phép.
Thứ tư, bồi dưỡng và đánh giá năng lực số chưa gắn chặt với kết quả thực thi công vụ. Nội dung bồi dưỡng còn thiên về giới thiệu công nghệ, hướng dẫn thao tác; kết quả chủ yếu được ghi nhận qua số lớp học, thời gian tham gia hoặc chứng nhận hoàn thành, khó phản ánh chuyển biến thực chất trong thực hiện nhiệm vụ.
Những hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu: nhận thức về năng lực số ở một số nơi còn đồng nhất với kỹ năng sử dụng phần mềm; mặc dù Nghị định số 361/2025/NĐ-CP và Chỉ thị số 14/CT-TTg đã tạo cơ sở pháp lý, yêu cầu năng lực số vẫn chưa được cụ thể hóa đồng bộ thành tiêu chí cho từng nhóm vị trí việc làm; điều kiện hạ tầng, mức độ hoàn thiện hệ thống thông tin và chất lượng dữ liệu giữa các cơ quan, địa phương còn khác biệt; phương pháp bồi dưỡng chưa xuất phát từ tình huống thực tế và thiếu cơ chế đánh giá năng lực dựa trên sản phẩm công việc.
4. Những yêu cầu mới về năng lực số trong thực thi công vụ
Từ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn nêu trên, tác giả đề xuất bảy nhóm yêu cầu đối với năng lực số trong thực thi công vụ. Đây là hệ thống yêu cầu mang tính đề xuất, không phải khung năng lực pháp lý đã được ban hành thống nhất.
Một là, tư duy số và khả năng thích ứng. Công chức cần chủ động chuyển từ phương pháp thủ công sang quy trình điện tử, từ xử lý thông tin phân tán sang sử dụng dữ liệu được kết nối; nhận diện hạn chế của quy trình, đề xuất cải tiến và thích nghi khi hệ thống hoặc nhiệm vụ thay đổi, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hướng dẫn kỹ thuật.
Hai là, năng lực khai thác, quản trị và sử dụng dữ liệu. Đây là thành tố cốt lõi của năng lực số công vụ. Công chức cần biết thu thập, cập nhật, kiểm tra và khai thác dữ liệu đúng nhiệm vụ, quyền hạn; đánh giá tính chính xác, đầy đủ, cập nhật của dữ liệu; biết dữ liệu nào do cơ quan nào quản lý, điều kiện khai thác và trách nhiệm xử lý khi có sai lệch. Đối với công chức giải quyết thủ tục hành chính, yêu cầu quan trọng là tái sử dụng dữ liệu hợp pháp để giảm giấy tờ, thời gian và chi phí cho người dân. Đối với công chức tham mưu, tổng hợp, năng lực này thể hiện ở khả năng dùng dữ liệu để phân tích tình hình, nhận diện xu hướng và đánh giá tác động của phương án chính sách, thay vì chỉ dựa vào báo cáo định tính.
Ba là, năng lực làm việc và phối hợp trên môi trường số. Công chức cần sử dụng thành thạo hệ thống quản lý văn bản, hồ sơ điện tử, chữ ký số, nền tảng giải quyết thủ tục hành chính và các hệ thống chuyên ngành; theo dõi tiến độ, kiểm soát chất lượng và phối hợp liên thông trên môi trường điện tử. Kế hoạch hoạt động năm 2026 đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã được bố trí trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công việc và có chữ ký số cá nhân để giải quyết công việc trên môi trường điện tử (Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, 2026).
Bốn là, năng lực phân tích, giải quyết vấn đề và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Chẳng hạn, trong quản lý trật tự xây dựng, công chức có thể khai thác bản đồ số, dữ liệu quy hoạch và phản ánh của người dân để nhận diện vấn đề nhưng kết luận về tính hợp pháp của công trình vẫn phải căn cứ vào quy định pháp luật, hồ sơ được kiểm chứng và thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Công nghệ hỗ trợ nhưng không thay thế trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức.
Năm là, năng lực bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và đạo đức số. Hoạt động công vụ liên quan đến dữ liệu cá nhân, thông tin hạn chế tiếp cận và thông tin thuộc bí mật nhà nước; việc quản lý, sử dụng các loại thông tin này phải tuân thủ Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Công chức cần biết nhận diện rủi ro, bảo vệ tài khoản công vụ, chỉ sử dụng hệ thống được phép, không sử dụng dữ liệu công vụ vì mục đích cá nhân và chịu trách nhiệm về hành vi của mình trên môi trường số.
Sáu là, năng lực ứng dụng AI có trách nhiệm. Công chức cần hiểu khả năng, giới hạn và rủi ro của AI; lựa chọn công cụ được phép sử dụng; kiểm chứng thông tin đầu ra và không đưa dữ liệu nhạy cảm lên hệ thống chưa được phép. Trong tham mưu, xây dựng văn bản và giải quyết công việc tác động đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân, AI chỉ là công cụ hỗ trợ; kết quả do AI tạo ra không phải căn cứ pháp lý và không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của người ra quyết định theo khoản 2 Điều 27 Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.
Bảy là, năng lực giao tiếp, hỗ trợ và phục vụ người dân trên môi trường số. Công chức cần hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trực tuyến, sử dụng tài khoản định danh điện tử, chuẩn bị hồ sơ điện tử và hỗ trợ những người gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ. Yêu cầu này đặc biệt quan trọng tại trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã, nơi thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 (Chính phủ, 2025). Năng lực số không chỉ đo bằng tốc độ thao tác mà còn bằng khả năng giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm tiếp cận bình đẳng và nâng cao sự hài lòng của người dân.
Mức độ biểu hiện của bảy nhóm yêu cầu nêu trên khác nhau theo từng nhóm vị trí việc làm, được tác giả tổng hợp tại Bảng 1. Việc phân tầng giúp tránh tình trạng bồi dưỡng “đồng loạt một nội dung” cho mọi đối tượng, đồng thời là gợi ý để các cơ quan cụ thể hóa yêu cầu năng lực số trong khung năng lực của từng vị trí việc làm theo Nghị định số 361/2025/NĐ-CP.
Bảng 1. Yêu cầu năng lực số theo nhóm vị trí việc làm
| Nhóm yêu cầu | Lãnh đạo, quản lý | Công chức tham mưu, tổng hợp | Công chức giải quyết thủ tục hành chính |
| 1. Tư duy số, thích ứng | Định hướng chuyển đổi số của đơn vị; quản lý sự thay đổi | Đề xuất cải tiến quy trình, phương pháp làm việc | Chủ động thích ứng với quy trình, hệ thống mới |
| 2. Dữ liệu số | Điều hành dựa trên dữ liệu; phân công trách nhiệm dữ liệu | Phân tích dữ liệu, đánh giá tác động chính sách | Khai thác, đối chiếu, tái sử dụng dữ liệu đã có |
| 3. Làm việc, phối hợp số | Chỉ đạo, kiểm soát tiến độ trên hệ thống | Phối hợp, tổng hợp, xây dựng văn bản trên môi trường điện tử | Xử lý hồ sơ điện tử, liên thông, ký số |
| 4. Giải quyết vấn đề dựa trên dữ liệu | Ra quyết định có căn cứ, chịu trách nhiệm cuối cùng | Xây dựng phương án dựa trên bằng chứng | Phát hiện điểm nghẽn, lỗi trong quy trình |
| 5. An toàn thông tin, đạo đức số | Ban hành quy chế, kiểm tra việc tuân thủ | Bảo mật tài liệu, kiểm chứng nguồn tin | Bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân |
| 6. Ứng dụng AI có trách nhiệm | Quyết định phạm vi, quy chế sử dụng AI | Dùng AI hỗ trợ tổng hợp, có kiểm chứng | Dùng trợ lý ảo hỗ trợ tra cứu, hướng dẫn |
| 7. Giao tiếp, phục vụ người dân | Lắng nghe, xử lý phản ánh qua kênh số | Truyền thông chính sách trên môi trường số | Hướng dẫn, hỗ trợ người dân dùng dịch vụ công trực tuyến |
5. Một số giải pháp phát triển năng lực số đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ
Thứ nhất, đổi mới nhận thức về năng lực số. Cần thống nhất rằng, năng lực số là thành tố của năng lực thực thi công vụ, không đơn thuần là kỹ năng sử dụng máy tính hay phần mềm. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần phát huy vai trò dẫn dắt, thúc đẩy phương thức làm việc dựa trên dữ liệu và kết quả; mỗi cán bộ, công chức phải xác định tự học, phát triển năng lực số là trách nhiệm nghề nghiệp thường xuyên.
Thứ hai, xây dựng khung năng lực số theo vị trí việc làm. Trên cơ sở kế thừa Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN và tích hợp vào khung năng lực của vị trí việc làm theo Nghị định số 361/2025/NĐ-CP, cần kết hợp năng lực số nền tảng với năng lực số chuyên biệt: lãnh đạo, quản lý chú trọng tư duy quản trị số, điều hành dựa trên dữ liệu và quản lý thay đổi; công chức tham mưu chú trọng tìm kiếm, kiểm chứng, phân tích thông tin; công chức giải quyết thủ tục hành chính chú trọng xử lý hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu và hỗ trợ người dân. Mỗi nhóm năng lực cần có các mức độ thành thạo làm cơ sở cho đánh giá và bồi dưỡng, phù hợp với đề xuất của nghiên cứu cấp Bộ năm 2024 (Viện Khoa học tổ chức nhà nước & Bộ Nội vụ (16/12/2024).
Thứ ba, đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng. Chương trình bồi dưỡng cần thiết kế theo yêu cầu vị trí việc làm như Chỉ thị số 14/CT-TTg đã đặt ra, tập trung vào khai thác và quản trị dữ liệu, xử lý hồ sơ điện tử, phối hợp trên nền tảng số, an toàn thông tin và ứng dụng AI có trách nhiệm. Về phương pháp, cần tăng cường mô phỏng tình huống và thực hành trên hệ thống; chẳng hạn, công chức cấp xã thực hành xử lý trọn vẹn một hồ sơ trực tuyến từ tiếp nhận, kiểm chứng dữ liệu, phối hợp giải quyết đến trả kết quả. Kết quả bồi dưỡng cần được đánh giá qua khả năng vận dụng vào công việc thay vì chỉ căn cứ thời lượng học.
Thứ tư, gắn năng lực số với quản lý, sử dụng và đánh giá công chức. Yêu cầu năng lực số cần được đưa vào bản mô tả công việc, tiêu chuẩn vị trí việc làm và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo Điều 25, Điều 26 Luật Cán bộ, công chức năm 2025, thông qua các chỉ số như tiến độ, chất lượng giải quyết công việc, khả năng khai thác dữ liệu, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung do lỗi xử lý, việc tuân thủ quy định bảo mật và mức độ hài lòng của người dân. Đồng thời, cần có cơ chế ghi nhận, khen thưởng các sáng kiến ứng dụng công nghệ và cải tiến quy trình.
Thứ năm, bảo đảm điều kiện về hạ tầng, dữ liệu và môi trường làm việc số. Cần hoàn thiện hạ tầng, nền tảng dùng chung và cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu; hạn chế vận hành nhiều hệ thống trùng lặp; phân định rõ trách nhiệm cập nhật, kiểm chứng dữ liệu; bố trí đủ trang thiết bị, chữ ký số, đường truyền và nhân lực hỗ trợ kỹ thuật cho cấp xã. Việc ứng dụng AI cần đi kèm quy chế sử dụng, cơ chế kiểm chứng kết quả và xác định rõ trách nhiệm, bảo đảm nguyên tắc con người chịu trách nhiệm đối với quyết định công vụ. Đối với cấp xã sau sắp xếp, cần ưu tiên bố trí đầu mối hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ hoặc theo cụm, bởi đây là nơi trực tiếp tiếp nhận phần lớn hồ sơ của người dân nhưng điều kiện nhân lực công nghệ thông tin thường hạn chế nhất.
Thứ sáu, đánh giá năng lực số định kỳ theo chu trình khép kín. Trên cơ sở khung năng lực số, các cơ quan có thể tổ chức đánh giá định kỳ thông qua bài kiểm tra thực hành, tình huống mô phỏng và sản phẩm công việc, kết hợp với việc đánh giá, xác nhận hoàn thành trên nền tảng “Bình dân học vụ số” theo Chỉ thị số 14/CT-TTg. Kết quả đánh giá cần được dùng để xác định nhu cầu bồi dưỡng, phát hiện khoảng trống năng lực và điều chỉnh chương trình phát triển đội ngũ. Bên cạnh năng lực cá nhân, cần đánh giá tác động ở cấp cơ quan qua thời gian giải quyết công việc, mức độ tái sử dụng dữ liệu và sự hài lòng của người dân. Như vậy, phát triển năng lực số cần vận hành theo chu trình liên tục: xác định yêu cầu – đánh giá hiện trạng – bồi dưỡng – vận dụng – kiểm tra, đánh giá – hoàn thiện.
6. Kết luận
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức vận hành của nền hành chính nhà nước. Trong bối cảnh đó, năng lực số không còn đơn thuần là kỹ năng sử dụng công nghệ mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực thực thi công vụ, được xác lập ngày càng rõ trong Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Luật Chuyển đổi số năm 2025, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và Chỉ thị số 14/CT-TTg. Bảy nhóm yêu cầu về tư duy số, dữ liệu, làm việc và phối hợp số, giải quyết vấn đề dựa trên dữ liệu, an toàn thông tin và đạo đức số, ứng dụng AI có trách nhiệm và phục vụ người dân trên môi trường số cho thấy cần một cách tiếp cận toàn diện trong phát triển đội ngũ.
Để đáp ứng các yêu cầu đó, cần hoàn thiện khung năng lực số theo vị trí việc làm, đổi mới bồi dưỡng, gắn năng lực số với đánh giá kết quả công việc và bảo đảm điều kiện hạ tầng, dữ liệu. Năng lực số chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực giải quyết công việc, nâng cao chất lượng quyết định hành chính và tạo ra giá trị thiết thực cho người dân, doanh nghiệp, góp phần xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo
Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 (2026). Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP ngày 27/02/2026 ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo.|
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số.
Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Chính phủ (2025). Nghị định số 361/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về vị trí việc làm công chức.
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (25/12/2025). Năm 2026, phải “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả” trong thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. https://baochinhphu.vn/nam-2026-phai-hanh-dong-dot-pha-lan-toa-ket-qua-trong-thuc-hien-nghi-quyet-57-nq-tw-102251225132751616.htm.
Hoàng Ngọc Hải (2026). Khung năng lực số cho cán bộ, công chức trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp: cơ sở lý luận và đề xuất khung năng lực quốc gia. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/29/khung-nang-luc-so-cho-can-bo-cong-chuc-trong-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-co-so-ly-luan-va-de-xuat-khung-nang-luc-quoc-gia/
Lưu Song Hà & Lê Thị Thanh Bình (2026). Xây dựng và kiểm định thang đo năng lực số của cán bộ, công chức tại các cơ quan hành chính cấp xã. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/05/xay-dung-va-kiem-dinh-thang-do-nang-luc-so-cua-can-bo-cong-chuc-tai-cac-co-quan-hanh-chinh-cap-xa/
OECD (2021). The OECD Framework for digital talent and skills in the public sector. OECD Working Papers on Public Governance, No. 45. Paris: OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/4e7c3f58-en.
Quốc hội (2018). Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số năm 2018.
Quốc hội (2025c). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Quốc hội (2025đ). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.
Spencer, L. M., & Spencer, S. M. (1993). Competence at Work: Models for Superior Performance. New York: John Wiley & Sons.
Thiều Huy Thuật (2026). Một số giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/05/mot-so-giai-phap-nang-cao-nang-luc-so-cho-doi-ngu-can-bo-cong-chuc-cap-xa-tinh-dak-lak/
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1565/QĐ-TTg ngày 18/7/2025 ban hành Kế hoạch nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; cung cấp dịch vụ số mới được cá nhân hóa, dựa trên dữ liệu cho người dân và doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Viện Khoa học tổ chức nhà nước & Bộ Nội vụ (16/12/2024). Nghiệm thu đề tài “Cơ sở khoa học xây dựng khung năng lực số của công chức trong cơ quan hành chính nhà nước”. https://isol.moha.gov.vn/quan-ly-hoat-dong-nghien-cuu-khoa-hoc/nghiem-thu-de-tai-co-so-khoa-hoc-xay-dung-khung-nang-luc-so-cua-cong-chuc-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-43559.html.
Vuorikari, R., Kluzer, S., & Punie, Y. (2022). DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens. Luxembourg: Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2760/115376.



