ThS. Bùi Quang Long
Học viện Cảnh sát nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Các nghiên cứu tại Việt Nam, các nghiên cứu về khả năng thích ứng nghề nghiệp của lực lượng Công an nhân dân đã chỉ ra rằng, sự hỗ trợ từ lãnh đạo và đồng nghiệp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thích ứng trong môi trường công việc đặc thù này. Trên cơ sở những nghiên cứu trước đây, bài viết được thực hiện từ 350 cán bộ công an đang công tác tại đơn vị công an xã (không tính công an phường, thị trấn) thuộc các tỉnh, thành phố phía Bắc và thành phố Huế. Kết quả cho thấy, sự hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã; đặc biệt là từ lãnh đạo, chỉ huy và người dân, qua đó, xem xét các khía cạnh của sự hỗ trợ xã hội, như: quan tâm, kiểm soát, tìm hiểu, khám phá, tự tin và hợp tác.
Từ khóa: Khả năng thích ứng nghề nghiệp; ảnh hưởng; sự hỗ trợ xã hội; công an xã; địa bàn cơ sở.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tình hình an ninh trật tự ở địa bàn cơ sở ngày càng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp và khó lường, việc tăng cường năng lực cho lực lượng giữ gìn an ninh trật tự tại địa bàn cơ sở trở thành yêu cầu mang tính cấp thiết và lâu dài. Chủ trương điều động lực lượng công an chính quy về xã là một bước đi quan trọng của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an nhằm từng bước nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự, góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Thực tế cho thấy, lực lượng công an xã chính quy sau khi được điều động về địa bàn đã đóng vai trò nòng cốt trong công tác bảo đảm an ninh trật tự ở địa bàn cơ sở. Tuy nhiên, để thực hiện tốt nhiệm vụ trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao, cán bộ công an xã không chỉ cần có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có khả năng thích ứng nghề nghiệp cao, đặc biệt là trước các tình huống phức tạp, nhạy cảm về chính trị, xã hội. Khả năng thích ứng nghề nghiệp giúp cá nhân ứng phó kịp thời và phù hợp với yêu cầu công việc trong môi trường thay đổi liên tục. Trong đó, sự hỗ trợ xã hội, bao gồm: hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, người quan trọng khác và cộng đồng đóng vai trò như một nguồn lực tâm lý quan trọng giúp cá nhân duy trì động lực, giảm thiểu căng thẳng và tăng cường khả năng thích ứng nghề nghiệp.
Một số nghiên cứu khác cũng đã đề cập đến mối liên hệ giữa yếu tố hỗ trợ xã hội và khả năng thích ứng nghề nghiệp trong lực lượng Công an (Trần Thu Hương, 2016)1. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay còn thiếu những khảo sát chuyên sâu trên khách thể là lực lượng công an xã chính quy, đặc biệt là nghiên cứu dựa trên thang đo khả năng thích ứng nghề nghiệp và hợp tác, gồm 5 chiều cạnh: (1) Quan tâm; (2) Kiểm soát; (3) Khám phá (4) Tự tin; (5) Hợp tác (Savickas & Porfeli, 2012)2.
Từ thực tiễn công tác cũng như khoảng trống trong nghiên cứu, việc tìm hiểu những ảnh hưởng của sự hỗ trợ xã hội đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã tại địa bàn cơ sở là nội dung cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu không chỉ góp phần lý giải các yếu tố tác động đến năng lực thích ứng của lực lượng công an xã mà còn cung cấp căn cứ cho việc xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và hỗ trợ lực lượng này, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo đảm an ninh trật tự trong tình hình mới.
2. Khách thể và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm: 350 cán bộ công an xã đang công tác tại các địa bàn các tỉnh miền Bắc (gồm các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh) đến Thành phố Huế. Thông tin khách thể nghiên cứu được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Một số thông tin khách thể
TT | Tiêu chí | Số lượng | Tỷ lệ % | |
1 | Giới tính | Nam | 320 | 91.4 |
Nữ | 30 | 8.6 | ||
2 | Trình độ học vấn | Trung cấp | 261 | 74.6 |
Cao đẳng | 18 | 5.1 | ||
Đại học | 69 | 19.7 | ||
Sau đại học | 2 | 0.6 | ||
3 | Thời gian công tác | Dưới 5 năm | 19 | 5.4 |
Từ 5 – 10 năm | 98 | 28.0 | ||
Từ 10 – 15 năm | 183 | 52.3 | ||
Trên 15 năm | 50 | 14.3 | ||
4 | Địa bàn công tác | Khu vực 1 | 95 | 27.1 |
Khu vực 2 | 102 | 29.1 | ||
Khu vực 3 | 153 | 43.7 |
2.2 Phương pháp nghiên cứu
(1) Phương pháp khả năng thích ứng nghề nghiệp
Nghiên cứu sử dụng thang đo khả năng thích ứng nghề nghiệp và hợp tác (Career Adapt Adaptabilitíe Scale + Cooperation – CAAS+ C) của Savickas và cộng sự3. Thang đo bao gồm 5 tiểu thang đo với 33 items, gồm: sự quan tâm (6 items); sự kiểm soát (6 items); sự tìm hiểu khám phá (6 items); sự tự tin (6 items); sự hợp tác (9 items). Các thang đo được kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha đạt mức rất tốt.
Khách thể sẽ đánh giá những mệnh đề trên các tiểu thang đo đúng với bản thân ở mức độ nào theo thang Likert 6 điểm, như sau: 1 điểm – hoàn toàn không giống tôi; 2 điểm – không giống tôi; 3 điểm – không giống tôi nhiều hơn; 4 diểm – giống tôi nhiều hơn; 5 điểm – giống tôi; 6 điểm – hoàn toàn giống tôi, điểm trung bình của các mệnh đề trong một tiểu thang đo phản ánh mức độ khả năng thích ứng nghề nghiệp của khách thể. Điểm trung bình của thang đo càng cao thì khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã càng cao.
(2) Phương pháp sự hỗ trợ xã hội
Sự hỗ trợ xã hội được đo lường bằng cách sử dụng thang đo đa chiều gồm 12 items để đo mức độ nhận thức hỗ trợ xã hội, như gia đình, bạn bè và những người quan trọng khác (những người quan trọng khác có thể là đồng nghiệp hoặc những người mà khách thể nghiên cứu cho là đặc biệt đối với bản thân) (Zimet et al., 1990)4. Tuy nhiên, trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu trước và phù hợp với khách thể nghiên cứu là cán bộ công an xã, nhóm tác giả đã thay đổi “sự hỗ trợ từ những người quan trọng khác”thành “sự hỗ trợ từ đồng chí, đồng đội”. Bên cạnh đó, trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu về khả năng thích ứng nghề nghiệp trong lực lượng Công an nhân dân cho thấy, vai trò của người lãnh đạo, chỉ huy và của người dân có tác động lớn đến khả năng thích ứng nghề nghiệp. Vì vậy, nhóm tác giả bổ sung thêm các items liên quan đến “sự hỗ trợ của lãnh đạo chỉ huy” và “sự hỗ trợ của người dân” đối với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã nâng tổng số items thành 20 items, bao gồm: sự hỗ trợ của gia đình: 1 – 4 items; sự hỗ trợ của bạn bè: 5 – 8 items; sự hỗ trợ của đồng đội: 9 – 12 items; sự hỗ trợ của lãnh đạo, chỉ huy: 13 – 16 items; sự hỗ trợ của người dân: 17 – 20 items. Tiểu thang đo này được thực hiện với số điểm như sau: 1 điểm – hoàn toàn không đồng ý; 2 điểm – không đồng ý; 3 điểm – khá đồng ý; 4 điểm – đồng ý một phần; 5 điểm – đồng ý; 6 điểm -hoàn toàn đồng ý.
Bảng 2: Độ tin cậy của các thang đo
STT | Các tiểu thang đo | Cronbach’s Alpha |
1 | Thang đo khả năng thích ứng nghề nghiệp theo các chiều cạnh | 0.965 |
1.1 | Sự quan tâm | 0.903 |
1.2 | Sự kiểm soát | 0.881 |
1.3 | Sự tìm hiểu khám phá | 0.830 |
1.4 | Sự tự tin | 0.913 |
1.5 | Sự hợp tác | 0.966 |
2 | Thang đo sự hỗ trợ xã hội | 0.899 |
(3) Phương pháp xử lý số liệu
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 27.0 để xử lý và phân tích các số liệu với các phương pháp sau: (1) Phân tích thống kê mô tả với điểm trung bình, độ lệch chuẩn; (2) Phân tích tương quan nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến; (3) Phân tích hồi quy tuyến tính nhằm xem xét mối liên hệ giữa các biến.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã tại địa bàn cơ sở
Thứ nhất, thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã tại địa bàn cơ sở theo chiềucạnh.
Dựa trên nền tảng lý thuyết xây dựng nghề nghiệp của Savickas và các cộng sự5, nghiên cứu đã sử dụng thang đo khả năng thích ứng nghề nghiệp kết hợp với hợp tác (CAAS+C) để phân tích thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của cán bộ công an xã tại cơ sở, nhằm bảo đảm tính đầy đủ, khách quan, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp trên 5 chiều cạnh: (1) Sự quan tâm; (2) Sự kiểm soát; (3) Sự tìm hiểu, khám phá; (4) Sự tự tin; (5) Sự hợp tác. Kết quả được thể hiện qua Bảng 3 như sau:
Bảng 3: Thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã theo các chiều cạnh (N = 350)
Chiều cạnh | Điểm trung bình | Độ lệch chuẩn |
Sự tự tin | 4.81 | 0.90 |
Sự kiểm soát | 4.77 | 0.94 |
Sự hợp tác | 4.61 | 0.79 |
Sự tìm hiểu, khám phá | 4.49 | 0.89 |
Sự quan tâm | 4.34 | 1.11 |
Khả năng thích ứng nghề nghiệp chung | 4.60 | 0.82 |
Dựa vào kết quả phân tích trên thì khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã nhìn chung đạt mức khá tốt với điểm trung bình = 4.60 trên thang điểm 6 và độ lệch chuẩn = 0.82, cho thấy, mức độ đồng thuận tương đối giữa các khách thể trong mẫu khảo sát. Kết quả này phản ánh công an xã có khả năng thích ứng nghề nghiệp tốt, được biểu hiện qua sự sẵn sàng vượt qua khó khăn thử thách để thực hiện nhiệm vụ, khả năng kiểm soát và chủ động trong những tình huống bất ngờ, tích cực tìm hiểu khám phá các nhiệm vụ và có định hướng rõ ràng với nhiệm vụ tại địa bàn cơ sở.
Đây là kết quả có sự khác biệt so với một số kết quả nghiên cứu trước, bởi nghiên cứu đưa ra kết quả các chiều cạnh với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã mang những đặc trưng riêng biệt. Cụ thể, đối với lực lượng Công an nhân dân nói chung và công an xã nói riêng, việc tuân thủ Điều lệnh, quy định, quy trình công tác là điều bắt buộc và được quán triệt đến từng cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, khả năng sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được quy định rõ trong lời thề danh dự của Công an nhân dân: “Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Đảng, Nhà nước và Nhân dân cần đến”, đây là yếu tố tạo nên sự khác biệt của lực lượng Công an nhân dân nói chung và công an xã nói riêng.
Thứ hai, khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã theo yếu tố hỗ trợ xã hội.
Bảng 4: Thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã theo yếu tố hỗ trợ xã hội (N = 350)
Yếu tố | Điểm trung bình | Độ lệch chuẩn |
Gia đình | 4.51 | 0.96 |
Bạn bè | 3.06 | 1.16 |
Đồng đội | 3.97 | 1.10 |
Lãnh đạo | 3.96 | 1.26 |
Người dân | 4.68 | 0.91 |
Toàn thang đo sự hỗ trợ xã hội | 4.04 | 0.77 |
Phân tích dữ liệu từ Bảng 4 cho thấy, điểm trung bình toàn thang đo hỗ trợ xã hội đối với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã là 4.04 (trên thang 6 điểm), với độ lệch chuẩn = 0.77, cho thấy mức độ hỗ trợ xã hội được đánh giá ở mức tốt và tương đối đồng đều giữa các cán bộ tham gia khảo sát (N = 350). Điều này cho thấy, trong môi trường công tác mang tính áp lực cao, tiềm ẩn những nguy hiểm thì sự hiện diện của các nguồn hỗ trợ xã hội đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực thích ứng nghề nghiệp của lực lượng công an xã. Đặc biệt là trong các nguồn lực xã hội là sự hỗ trợ từ người dân (điểm trung bình = 4.68; độ lệch chuẩn = 0.91) – đây là kết quả cao nhất trong các yếu tố khảo sát. Từ đó, phản ánh sự gắn kết giữa công an xã, quần chúng nhân dân và vai trò của người dân tại địa bàn như một nguồn lực xã hội tích cực. Sự tin tưởng, hợp tác và đồng hành từ người dân không chỉ giúp công an xã thực thi nhiệm vụ thuận lợi hơn mà còn tạo động lực tâm lý vững chắc, góp phần làm tăng mức độ tự tin, chủ động và linh hoạt trong xử lý các tình huống nghề nghiệp đa dạng và phức tạp.
Tiếp theo là sự hỗ trợ từ gia đình cũng được đánh giá cao (điểm trung bình = 4.51; độ lệch chuẩn = 0.96) cho thấy, vai trò quan trọng của những người thân trong gia đình trong việc hỗ trợ tinh thần, động viên và tạo cảm giác an toàn tâm lý cho cán bộ công an xã. Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, gia đình có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp, đặc biệt trong môi trường nghề nghiệp áp lực cao (Creed, 2009)6. Ngược lại, sự hỗ trợ từ bạn bè chỉ đạt mức trung bình (điểm trung bình = 3.06; độ lệch chuẩn = 1.16), điều này cho thấy, bạn bè không thực sự có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã.
Nguyên nhân xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp mang tính bí mật, các hoạt động nghiệp vụ không thể được chia sẻ rộng rãi vì vậy cán bộ công an xã khó có thể tìm được sự giúp đỡ từ bạn bè, đặc biệt là những người ngoài lực lượng Công an nhân dân. Trong khi đó, sự hỗ trợ từ đồng đội (điểm trung bình = 3.97; độ lệch chuẩn = 1.10) và lãnh đạo chỉ huy (điểm trung bình = 3.96; độ lệch chuẩn = 1.26) đạt mức độ thích ứng khá tốt thể hiện mối quan hệ trong tổ chức có khả năng hỗ trợ tốt hơn đối với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã.
Tuy nhiên, sự hỗ trợ từ đồng đội và lãnh đạo có độ lẹch chuẩn cao đã cho thấy, sự không đồng đều về mức độ hỗ trợ giữa các đơn vị hoặc giữa các cá nhân trong cùng một đơn vị. Một số cán bộ có thể nhận được sự hỗ trợ tích cực từ chỉ huy, trong khi những người khác lại không nhận được sự hỗ trợ này. Kết quả này gợi mở rằng sự hỗ trợ từ lãnh đạo không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thích ứng mà còn có vai trò điều tiết các yếu tố tâm lý nghề nghiệp, như: mức độ cam kết tổ chức, sự hài lòng công việc và động lực làm việc (Trần Thu Hương, 2016)7. Theo Gong (2020), lãnh đạo là một trong những tác nhân then chốt trong cấu trúc hỗ trợ xã hội tại nơi làm việc; hỗ trợ từ lãnh đạo có thể làm tăng cảm nhận về sự công bằng, năng lực và tính bền vững trong phát triển nghề nghiệp.
3.2. Tương quan giữa sự hỗ trợ xã hội với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã
Kết quả tương quan giữa sự hỗ trợ xã hội với khả năng thích ứng nghề nghiệp của Công an xã được thể hiện qua Bảng 5 dưới đây:
Bảng 5: Tương quan giữa sự hỗ trợ xã hội với khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã (N = 350)
Ghi chú: * p < 0.05; ** p < 0.01; *** p < 0.001
Các yếu tố ảnh hưởng | Hệ số tương quan | Hệ số hồi quy | ||||||
Khả năng thích ứng nghề nghiệp chung | Quan tâm | Kiểm soát | Tìm hiểukhám phá | Tự tin | Hợp tác | Khả năng thích ứngnghề nghiệp chung | ||
B | R² | |||||||
Sự hỗ trợ xã hội | 0.392** | 0.313** | 0.322** | 0.359** | 0.315** | 0.432** | 0.418 | 0.151*** |
Gia đình | 0.243** | 0.197** | 0.214** | 0.241** | 0.208** | 0.231** | 0.207 | 0.057*** |
Bạn bè | 0.079 | 0.086 | 0.021 | 0.108* | 0.031 | 0.097 | 0.055 | 0.003 |
Đồng đội | 0.255** | 0.192** | 0.197** | 0.249** | 0.182** | 0.308** | 0.190 | 0.062*** |
Lãnh đạo | 0.423** | 0.343** | 0.366** | 0.367** | 0.369** | 0.446** | 0.273 | 0.176*** |
Người dân | 0.401** | 0.295** | 0.361** | 0.311** | 0.351** | 0.462** | 0.362 | 0.158*** |
Kết quả trên cho thấy, yếu tố hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng lớn đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của cán bộ công an xã, cả ở góc độ tương quan và hồi quy tuyến tính. Về mặt tổng thể, yếu tố hỗ trợ xã hội có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với khả năng thích ứng nghề nghiệp chung (r = 0.392, p < 0.01). Kết quả hồi quy cho thấy, biến hỗ trợ xã hội có hệ số B = 0.418 và giá trị R² = 0.151 (p < 0.001), nghĩa là hỗ trợ xã hội giải thích khoảng 15,1% mức độ biến thiên của khả năng thích ứng nghề nghiệp. Đây là tỷ lệ tương đối lớn trong các nghiên cứu về hành vi nghề nghiệp, tầm quan trọng của môi trường xã hội đối với quá trình thích nghi với công việc.
Phân tích cụ thể từng nguồn hỗ trợ xã hội cho thấy, các yếu tố có mức độ ảnh hưởng không đồng đều đến khả năng thích ứng nghề nghiệp chung và các chiều cạnh thích ứng của công an xã. Sự hỗ trợ từ người dân là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng thích ứng nghề nghiệp chung (r = 0.401, B = 0.362, R2 = 0.158, p < 0.001). Đặc biệt, đây cũng là nguồn hỗ trợ có tương quan cao nhất với các thành phần như chiều cạnh sự hợp tác (r = 0.462, p < 0.001) và sự tự tin (r = 0.351, p < 0.01). Điều này có thể lý giải, bởi tính chất công việc đặc thù của Công an xã là làm việc gần dân, sát dân, thực hiện công tác quản lý hành chính, xử lý các vụ việc an ninh trật tự tại địa bàn. Sự phối hợp, hợp tác và tin tưởng từ người dân đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thông tin và phối hợp bảo vệ an ninh trật tự tại địa bàn; đồng thời, sự ủng hộ của người dân có thể giúp cán bộ công an xã tự tin hơn trong thực thi nhiệm vụ, từ đó, nâng cao khả năng thích nghi với các thay đổi, thách thức trong nghề nghiệp. Sự hỗ trợ từ lãnh đạo cũng có ảnh hưởng rất lớn (r = 0.423, B = 0.369, R2 = 0.146, p <0.001), đặc biệt với các chiều cạnh sự kiểm soát (r = 0.338, p < 0.01) và sự hợp tác (r = 0.416, p < 0.01). Điều này phản ánh vai trò định hướng, tạo động lực và cung cấp nguồn lực của lãnh đạo, chỉ huy trong quá trình cán bộ thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Đối với nghề nghiệp đặc thù như công an xã phải thường xuyên đối mặt với các tình huống căng thẳng, phức tạp tại địa bàn cơ sở thì sự tin tưởng và hỗ trợ kịp thời từ cấp trên, có thể là chỗ dựa vững chắc giúp cán bộ yên tâm công tác và phát triển năng lực thích ứng. Sự hỗ trợ từ đồng đội cũng là một nguồn hỗ trợ quan trọng (r = 0.255, B = 0.268, R2 = 0.062, p < 0.01), đặc biệt liên quan đến chiều cạnh sự tìm hiểu khám phá (r = 0.249, p < 0.01) và sự hợp tác (r = 0.308, p < 0.01) điều này hoàn toàn phù hợp trong môi trường làm việc tập thể như đơn vị công an xã. Gia đình đóng vai trò hỗ trợ mang tính nền tảng, có sự ảnh hưởng nhất định đến các chiều cạnh sự tìm hiểu khám phá (r = 0.241, p < 0.01) và sự kiểm soát (r = 0.214, p < 0,01) nhưng mức độ tác động không cao (B = 0.207, R2 = 0.057). Đó là sự hỗ trợ về mặt tinh thần giúp cá nhân ổn định cảm xúc, giảm stress nhưng ít có tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các mối quan hệ, như: lãnh đạo, đồng đội và người dân đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ cán bộ công an xã phát triển khả năng thích ứng nghề nghiệp. Điều này cũng gợi mở định hướng xây dựng môi trường làm việc và văn hóa tổ chức gắn bó, chia sẻ của công an xã trong công tác bảo đảm an ninh trật tự tại địa bàn cơ sở.
4. Kết luận và kiến nghị
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, sự hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã tại địa bàn cơ sở. Trong đó, các nguồn hỗ trợ từ người dân, lãnh đạo, chỉ huy và đồng đội có tương quan mạnh và có ý nghĩa thống kê với khả năng thích ứng chung cũng như các chiều cạnh thích ứng, như: sư tự tin, sự hợp tác, sự kiểm soát và sự khám phá nghề nghiệp. Đặc biệt, sự hỗ trợ từ người dân có ảnh hưởng nổi bật nhất, đặc biệt, mối liên kết chặt chẽ giữa công an xã và cộng đồng người dân tại địa bàn chính là động lực thúc đẩy sự thích ứng hiệu quả với môi trường nghề nghiệp mang tính đặc thù cao như công an xã. Mặt khác, sự hỗ trợ từ gia đình được ghi nhận có vai trò hỗ trợ về mặt tinh thần, tạo nền tảng ổn định cảm xúc nhưng không có vai trò lớn trong việc tác động đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của công an xã. Đáng chú ý, sự hỗ trợ từ bạn bè, đặc biệt là những người ngoài lực lượng Công an nhân dân hầu như không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của cán bộ công an xã, điều này phản ánh đặc thù nghề nghiệp có tính bảo mật, kỷ luật cao của lực lượng vũ trang nhân dân.
Vì vậy, từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy, để nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp cho lực lượng công an xã nói chung, công an xã các tỉnh phía Bắc và thành phố Huế nói riêng trong thời gian tới, cần triển khai một số nội dung như sau:
Một là, tăng cường vai trò của lãnh đạo, chỉ huy trong hỗ trợ phát triển nghề nghiệp của cán bộ công an xã: các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy tại các đơn vị công an xã cần thực hiện tốt vai trò hướng dẫn, huấn luyện; đồng thời, thể hiện sự tin tưởng, lắng nghe và hỗ trợ kịp thời nhằm giúp cán bộ tự tin và chủ động hơn trong thích ứng nghề nghiệp.
Hai là, xây dựng văn hóa tổ chức gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau trong đơn vị: tổ chức các hoạt động sinh hoạt tổ, sinh hoạt chuyên môn, giao lưu học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các đồng chí, đồng đội để thúc đẩy tinh thần tập thể, tạo điều kiện để cá nhân học hỏi và thích ứng nhanh chóng với thay đổi từ thực tiễn công tác.
Ba là, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong hỗ trợ lực lượng Công an xã: đẩy mạnh công tác dân vận, xây dựng mô hình “Công an xã gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ” nhằm củng cố niềm tin, sự hợp tác và hỗ trợ từ phía quần chúng nhân dân trong công tác bảo đảm an ninh trật tự tại địa bàn cơ sở. Đây là yếu tố quan trọng như một “nguồn lực xã hội tích cực” giúp cán bộ công an xã nâng cao khả năng phản ứng linh hoạt, xử lý tình huống hiệu quả.
Bốn là, tích hợp nội dung nâng cao năng lực thích ứng vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng:chương trình đào tạo, tập huấn của cán bộ công an xã, cần bổ sung các nội dung về các kỹ năng, như: kiểm soát cảm xúc, kỹ năng thích ứng với sự biến đổi thường xuyên liên tục của môi trường nghề nghiệp, đặc biệt trong phương thức, thủ đoạn của các đối tượng phạm tôi.
Năm là, xây dựng hệ thống đánh giá và hỗ trợ nghề nghiệp thường xuyên: công an tỉnh, cần tổ chức các buổi gặp mặt, tọa đàm định kỳ để lắng nghe những khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại công an xã, từ đó, hỗ trợ công an xã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Chú thích:
1, 7. Trần Thu Hương (2016). Thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học Công an nhân dân. Luận án tiến sĩ Tâm lý học. Đại học Quốc gia Hà Nội.
2, 5. Savickas, Mark L., & Porfeli, E. J. (2012). Career Adapt-Abilities Scale: Construction, reliability, and measurement equivalence across 13 countries. Journal of Vocational Behavior, 80(3), 661-673. doi: 10.1016/j.jvb.2012.01.011
3, 6. Creed, P. A., Fallon, T., & Hood, M. (2009). The relationship between career adaptability, person and situation variables, and career concerns in young adults. Journal of Vocational Behavior, 74(2), 21-229. doi: 10.1016/j.jvb.2008.12.004.
4. Zimet, G. D., Powell, S. S., Farley, G. K., Werkman, S., & Berkoff, K. A. (1990). Psychometric Characteristics of the Multidimensional Scale of Perceived Social Support. Journal of Personality Assessment, 55(3–4), 610–617. https://doi.org/10.1080/00223891.1990.9674095
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công an (2022). Hội nghị sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng công an xã, thị trấn chính quy năm 2022. Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Kim Chi & Phạm Thị Kim Ngọc (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp viễn thông Việt Nam. Tạp chí Công Thương, số 13 (tháng 10/2018).
3. Nguyễn Thị Nhung (2021). Một số khó khăn tâm lý – xã hội trong hoạt động của lực lượng Công an xã chính quy tại địa bàn cơ sở. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, tháng 03/2021.
4. Denys, A., Ivan, O., & Oleksii, D. (2017). Psychological adaptation of ukrainian national police officers for law enforcement activities. Science and Education, 11. doi: https://doi.org/10.24195/2414-4665-2017-11-4.
5. Gong, Z., Yang, J., Gilal, F. G., Van Swol, L. M., & Yin, K. (2020). Repairing Police Psychological Safety: The Role of Career Adaptability, Feedback Environment, and Goal-Self Concordance Based on the Conservation of Resources Theory. SAGE Open, 10(2). doi: 10.1177/2158244020919510.
6. Oleszkiewicz, S., Weiher, L., & Mac Giolla, E. (2022). The adaptable law enforcement officer: Exploring adaptability in a covert police context. Legal and Criminological Psychology, 27(2), 265–282. doi: 10.1111/lcrp.12209.
7. Savickas, Mark L. (2013). Career Construction Theory and Practice. In Career Development and Counseling: Putting Theory and Research to Work, Second Edition (pp. 147 – 183).
8. Van Vianen, A. E. M., Klehe, U. C., Koen, J., & Dries, N. (2012a). Career adapt-abilities scale – Netherlands form: Psychometric properties and relationships to ability, personality, and regulatory focus. Journal of Vocational Behavior, 80(3), 716–724. https://doi.org/10.1016/j.jvb.2012.01.002.