Tác động của biến đối khí hậu đến sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

ThS. Trần Thị Phương Huỳnh
Học viện Chính trị khu vực IV
NCS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến mọi mặt vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt là phải đối mặt với những thách thức lớn do mực nước biển dâng, bị tổn hại do xâm  nhập mặn ngày càng trầm trọng hơn trong thời gian qua. Chính vì vậy, bài viết chỉ ra những tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp vùng; qua đó, đề xuất giải pháp thúc đẩy nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển theo hướng bền vững.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu; đồng bằng sông Cửu Long; sản xuất nông nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 6 tỉnh, thành phố: An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên, đất đai và khí hậu rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt cho sản xuất lúa gạo, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Hằng năm, vùng đóng góp 56% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 70% diện tích nuôi trồng thủy sản với 60% xuất khẩu thủy sản của cả nước1. Đây là vùng kinh tế trọng điểm, có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Với lợi thế tài nguyên nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp nhiều vào sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Tuy nhiên, đây cũng là vùng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất do tác động của biến đổi khí hậu. Nhiều nghiên cứu dự báo cho thấy, đồng bằng sông Cửu Long sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn do mực nước biển dâng.

Nếu mực nước biển dâng cao 1 m sẽ có 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và thiệt hại 10% GDP. Các nghiên cứu dự báo cho thấy, ở đồng bằng sông Cửu Long mực nước biển dâng lên trung bình 20 cm trong vòng 50 năm qua, tăng 9 cm (năm 2010), 33 cm (năm 2050), 45 cm (năm 2070) và 1 m (năm 2100)2. Điều này cho thấy, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ phải đối mặt với những nguy cơ lớn do mực nước biển dâng trong những thập niên sau; cũng có nghĩa là những hệ thống canh tác hiện tại sẽ bị phá hủy, sản xuất và đời sống người dân sẽ chịu những tác động lớn do biến đổi khí hậu.

Để khai thác, phát huy các tiềm năng, lợi thế của vùng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, đề ra mục tiêu tới năm 2050 và tầm nhìn tới năm 2100 phát triển thịnh vượng, an toàn, bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long. Qua hơn 8 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP vẫn còn một số tồn tại, thách thức: các cơ chế, chính sách cần có thời gian để phát huy hiệu quả, đồng thời phải phù hợp với tổng thể chung của cả nước; thể chế điều phối vùng vừa mới được hình thành và cần có thời gian để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, đặc biệt là đề xuất những dự án lớn, có sức lan tỏa, tạo xung lực cho phát triển kinh tế – xã hội; các công trình, dự án có tính liên vùng, liên ngành, có quy mô lớn nhằm thay đổi cơ bản bức tranh phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn còn chậm triển khai thực hiện; cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư từ khối tư nhân và xã hội còn gặp nhiều khó khăn, chưa tạo được đột phá; tình trạng sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển vẫn đang diễn biến phức tạp, một số công trình được đầu tư xây dựng nhưng chưa phát huy được hiệu quả; chưa có hệ thống giám sát, dự báo sạt lở bờ sông, bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn… Trong khi đó, vẫn còn thiếu các giải pháp bền vững để nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

2. Thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

Biến đổi khí hậu, thiên tai đang ngày càng diễn ra nhanh, phức tạp và sẽ tiếp tục khó lường, khó dự báo do tính thất thường, cực đoan, đặc biệt là những tác động ngắn hạn. Các hoạt động khai thác, sử dụng nước ở phía thượng nguồn, đặc biệt là các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mê Công ngày càng phức tạp hơn, trong khi cơ chế điều phối tiểu vùng đã cho thấy những bất cập, khó phát huy tối đa hiệu quả, tình trạng thiếu cát, thiếu màu, thiếu nước được dự báo sẽ còn tiếp diễn nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến phát triển đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ nhất, biến đổi khí hậu gây ra những thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, đó là tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn. Nếu như trước kia, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn chỉ phổ biến ở một vài nơi thì hiện nay tình trạng này có xu hướng ngày càng mở rộng ra các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó 3 tỉnh chịu thiệt hại năng nề nhất là tỉnh Cà Mau, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ.

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên tình trạng xâm nhập mặn xuất hiện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sớm hơn so với cùng kỳ trung bình hàng năm gần 2 tháng, nước mặn từ biển vào sâu trong đất liền hơn 90 km. Từ năm 2016 đến nay, ở các bờ sông, bờ biển đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1.191 km, trong đó, sạt lở đặc biệt nguy hiểm là 315 điểm/601 km (sạt lở bờ sông 214 điểm/254 km, sạt lở bờ biển 101 điểm/347 km)3. Bên cạnh đó, theo các kết quả nghiên cứu, hầu hết các vùng ở đồng bằng sông Cửu Long đều xảy ra lún từ 0,5-3 cm/năm; các vùng ven biển phổ biến lún từ 1,5-2,5 cm/năm. Thời gian xảy ra sụt lún thường xuất hiện trong mùa khô, đặc biệt là tại những năm hạn hán kéo dài. Trong 20 năm qua, đồng bằng sông Cửu Long chỉ có lũ vừa đến nhỏ, thời gian chỉ từ 3 – 4 tháng so với 5 – 6 tháng như trước đây, tuy nhiên, ngập úng do triều cường và mưa có xu thế ngày càng gia tăng4.

Xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp và nhiều đến nguồn lực tự nhiên, chủ yếu là diện tích sản xuất lúa, cây ăn trái và cây màu. Khi diện tích canh tác giảm, sản lượng nông sản giảm, các dịch vụ liên quan giảm và ảnh hưởng đến cơ hội việc làm, thu nhập cũng như các hoạt động khác trong xã hội. Để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, người dân đã chủ động chuyển sang hình thức sản xuất mới với công nghệ hiện đại hơn như nuôi tôm công nghệ cao, nuôi cua quản canh, đây là dấu hiệu tích cực cho thấy sự chủ động của người dân trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, biến đổi khí hậu dẫn đến sự phát triển không bền vững của ngành nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long, làm thiệt hại lợi ích của các thế hệ tương lai. Biến đổi khí hậu không chỉ gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống người dân mà còn ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhiều vùng nuôi tôm ở Cà Mau, thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long bị dịch bệnh, tôm chết do nắng nóng kéo dài, thiếu nước ngọt bổ sung; nhiều vườn cây ăn trái bị chết. Xâm nhập mặn cũng là một yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, làm cho đất canh tác bị nhiễm mặn, đất đai bị giảm chất lượng. Đất đai nhiễm mặn với nồng độ trên 1‰ có khả năng làm giảm năng suất cây trồng, nhiễm mặn với nồng độ 4‰ sẽ làm cây trồng rụng bông, lá, trái non và chết. Xâm nhập mặn ngày càng đi sâu vào đất liền, với nhiều mức độ nhiễm mặn khác nhau. Với hệ thồng sông ngòi chằng chịch nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây thiệt hạo cho cây trồng đặc biệt là cây lúa và vườn cây ăn trái.

Những hoạt động mưu sinh của các hộ gia đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian xâm nhập mặn là rất đa dạng từ nuôi tôm, trồng lúa, chăn nuôi, trồng màu, làm thuê nông nghiệp và phi nông nghiệp đều được hầu hết người dân trong vùng chọn làm phương thức mưu sinh của gia đình mỗi khi bị xâm nhập mặn. Ngoài ra, còn có các hộ đi làm thuê phi nông nghiệp như làm hồ, làm công nhân ở thành phố hoặc khu công nghiệp để tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Đây cũng là nguồn thu nhập chính của những hộ có đất sản xuất ít với nguồn thu nhập từ làm thuê là chủ yếu. Hoạt động này đã ít nhiều gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế – xã hội của cả nơi đến và nơi đi của lao động dịch chuyển và cần có những nghiên cứu sâu hơn về tác động của nó. Hoạt động buôn bán tạp hóa hoặc buôn bán nhỏ cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông hộ tham gia vào hoạt động mưu sinh này. Tuy đây là mô hình hoạt động không đem lại nguồn thu nhập cao cho nông hộ nhưng theo nhiều hộ thì đây là hoạt động có thể mưu sinh được đối với những nông hộ không đất hoặc ít đất sản xuất.

Qua nghiên cứu cho thấy, đối với các nguồn lực sinh kế của nông hộ, xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp và nhiều đến nguồn lực tự nhiên, chủ yếu là diện tích sản xuất lúa, cây ăn trái và cây màu. Những nguồn lực sinh kế khác chưa ghi nhận ảnh hưởng trực tiếp song những ảnh hưởng gián tiếp đã có. Khi diện tích canh tác giảm, sản lượng nông sản giảm, các dịch vụ liên quan giảm và ảnh hưởng đến cơ hội việc làm, thu nhập cũng như các hoạt động khác trong xã hội.

Thứ ba, biến đổi khí hậu tác động nghiêm trọng đến sinh kế của nhiều hộ gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long. Cụ thể về từng nguồn vốn sinh kế cho thấy, đối với nguồn vốn con người và tài chính là hai nguồn vốn trong tổng số năm nguồn vốn sinh kế (được đánh giá là quan trọng nhất nhưng chỉ số tổn thương ở mức khá, lần lượt là 0.343 và 0.377)5. Xét riêng về nguồn vốn con người, chỉ số tổn thương ở mức khá là do phần lớn hộ không có việc làm phi nông nghiệp và trình độ học vấn của chủ hộ vẫn còn thấp. Đối với nguồn vốn tự nhiên và vật thể là hai nguồn vốn có chỉ số tổn thương thấp nhất, lần lượt là 0.248 và 0.1016. Tính dễ bị tổn thương về nguồn vốn tự nhiên được thể hiện thông qua các chỉ số về tỷ lệ hộ không có đất sản xuất thấp, tỷ lệ hộ gặp nạn do xâm nhập mặn thấp,… Đối với nguồn vốn xã hội, chỉ số tổn thương ở mức trung bình.

Như vậy, chỉ số về tính dễ bị tổn thương của nông hộ ở mức khá, cụ thể là 0.267, trong đó nguồn vốn con người và tài chính là hai nguồn vốn có chỉ số tổn thương cao nhất và có ảnh hưởng lớn đến làm tăng tính dễ bị tổn thương7. Tuy nhiên, hai nguồn vốn con người và tài chính được đánh giá là rất quan trọng trong quá trình thích ứng với xâm nhập mặn. Hình 1 dưới đây thể hiện rõ từng nguồn vốn ảnh hưởng đến chỉ số tổn thương chung của nông hộ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

3. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững

Một là, các tỉnh, thành phố trong vùng cần đẩy mạnh tuyên truyền về biến đổi khí hậu đến người dân, phân tích các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trước những tác động của biến đổi khí hậu để có những giải pháp ứng phó phù hợp, đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương… Đồng thời, tổ chức quán triệt, phổ biến trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân nhằm đạt được sự đồng thuận và thống nhất cao trong nhận thức và hành động về ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời, nâng cao niềm tin và khả năng hội nhập quốc tế cho người nông dân.

Hai là, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tận dụng tối đa tài nguyên sẵn có, chủ động kiểm soát nguồn nước ngọt. Quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, chuyên canh, hữu cơ, công nghệ cao, định hướng thị trường. Chuyển đổi sang nền kinh tế nông nghiệp kết hợp với công nghiệp chế biến – thương mại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp với du lịch sinh thái và các hình thức thương mại trực tiếp. Thực hiện nền nông nghiệp hiện đại, vùng đồng bằng sông Cửu Long cần thực hiện theo hướng thâm canh, tăng dần lợi nhuận trên đơn vị diện tích đất thông qua việc áp dụng giống mới và quy trình sản xuất tiên tiến. Sớm hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với đẩy mạnh cơ giới hóa, đồng bộ các khâu sản xuất, hiện đại hóa công nghệ chế biến. Tiếp tục đầu tư khai thác lợi thế lúa gạo xuất khẩu, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Và phát triển chăn nuôi thủy sản theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, gắn sản xuất với giết mổ, chế biến tập trung. Hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu đủ cung ứng cho chế biến thức ăn chăn nuôi thủy sản, thay thế nguyên liệu nhập khẩu.

Ba là, chủ động xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo đảm ứng phó với những thay đổi của biến đổi khí hậu, đặc biệt là ứng phó với hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt. Đồng thời, các địa phương trong vùng cần xây dựng hệ thống đê kiên cố, hệ thống kênh mương tưới tiêu cho đồng ruộng và hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy có khả năng vận chuyển kịp thời các mặt hàng nông sản ra thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, các ngành cần tập trung vào hoạt động nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm công nghệ phù hợp với những lợi thế của vùng. Đó là sử dụng những công nghệ hiện đại như công nghệ nhà kính, công nghệ giống, công nghệ chế biến các sản phẩm của nông nghiệp và công nghệ tưới nước nhỏ giọt,… để tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Bốn là, thúc đẩy liên kết trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao trình độ và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Theo đó, cần hoàn thiện mối liên kết trong sản xuất nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện của vùng, tạo ra hệ sinh thái nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tạo ra các cụm liên kết vùng nguyên liệu liên tỉnh nhằm tạo vùng nguyên liệu đủ lớn để hình thành các cụm liên kết ngành hàng, thu hút các doanh nghiệp đầu tư theo chuỗi ngành hàng và doanh nghiệp hỗ trợ. Đồng thời, tạo ra hệ sinh thái kinh tế nông thôn, gồm: các hợp tác xã, doanh nghiệp khởi nghiệp nông thôn để hợp tác với các doanh nghiệp lớn cùng hình thành hệ sinh thái ngành hàng nông sản. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, từ kinh tế thủy sản (nuôi trồng, đánh bắt, chế biến) đến phát triển năng lượng sạch, công nghiệp, vận tải, du lịch, thương mại – dịch vụ, đô thị… Đặc biệt, tạo cơ chế, chính sách thúc đẩy ứng dụng nhanh các sáng kiến, giải pháp cho sản xuất bền vững, nhất là các giải pháp công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu.

Năm là, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu một cách hợp lý. Các địa phương cần tăng cường các giải pháp về khoa học – công nghệ để thích ứng với biến đổi khí hậu, chẳng hạn như nghiên cứu các giống tôm, cá chịu được hạn, mặn; các loại cây có thể trồng được trên vùng đất bị xâm nhập mặn. Đồng thời, cần nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả, như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, “4 đúng” để tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả cây trồng và bảo vệ môi trường. Phát triển nông nghiệp gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới để phối hợp nguồn lực, đẩy mạnh tăng trưởng mọi mặt của sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn.

Sáu , tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mêkông và cộng đồng quốc tế để ứng phó với biến đổi khí hậu.Một mặt, cần tăng cường hợp tác trao đổi với các quốc gia trong việc chia sẻ thông tin, khai thác nguồn nước của sông Mê Kông. Mặt khác, cần tăng cường hợp tác với các quốc gia có kinh nghiệm trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, như: Hà Lan, Israel, Australia nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp giải quyết vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, hướng đến nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

4. Kết luận

Trước những tác động của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong thích ứng với biến đổi khí hậu là quan trọng và cấp thiết. Các hộ gia đình cần thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp mới theo hướng hiện đại và bền vững để từng bước thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Để làm được điều này, vai trò của chính quyền địa phương rất quan trọng trong định hướng chiến lược về sinh kế bền vững cho các hộ dân trong vùng cũng như hỗ trợ về nguồn lực tài chính, triển khai và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả đã được ứng dụng trong thực tiễn.

Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân, bằng tư duy phát triển mới dựa trên tri thức, khoa học – công nghệ và nguyên tắc “thuận thiên”. Chỉ khi đó, nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long mới có thể phát triển bền vững, bảo đảm sinh kế cho người dân và đóng góp lâu dài cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Chú thích:
1. Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012). Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Hà Nội.
3, 4. Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long. https://thiennhienmoitruong.vn/chu-dong-ung-pho-bien-doi-khi-hau-vung-dong-bang-song-cuu-long.html, ngày 07/4/2025.
5, 6, 7. Nguyễn Duy Cần (2019). Nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu cho hộ dân ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Đại học Cần Thơ, tr. 24, 67, 68.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
3. Phạm Ngọc Hòa (2022). Một số vấn đề kinh tế – xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. H. NXB Đại học Cần Thơ.
4. Nâng cao năng lực thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long. https://thiennhienmoitruong.vn/nang-cao-nang-luc-thich-ung-bien-doi-khi-hau-vung-dong-bang-song-cuu-long.html
5. Đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững trước biến đổi khí hậu. https://dantocphattrien.vietnamnet.vn/dong-bang-song-cuu-long-phat-trien-ben-vung-truoc-bien-doi-khi-hau-1608973623883.htm