ThS. Đào Thu Hà
Trường Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn với quá trình chuyển đổi số, sinh viên ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam. Với tư cách là lực lượng trí thức trẻ năng động, sinh viên đóng vai trò chủ thể trong việc tiếp thu, sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa, góp phần hình thành môi trường văn hóa lành mạnh và thúc đẩy phát triển văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích vai trò của sinh viên trong xây dựng văn hóa học đường, quảng bá văn hóa Việt Nam trên không gian số và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Sinh viên; văn hóa Việt Nam; toàn cầu hóa; xây dựng và phát triển.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình toàn cầu hóa, văn hóa chính là sức mạnh nội sinh quan trọng, đồng thời là nền tảng tinh thần của xã hội bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định nhiệm vụ: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”1 và tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là những định hướng mang tính chiến lược, đề cao vai trò của con người, chủ thể sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, sinh viên với tư cách là lực lượng trí thức trẻ, sáng tạo, năng động, nhạy bén với sự biến đổi của thời đại – càng giữ vai trò quan trọng trong việc hiện thức hóa quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Không chỉ là người thụ hưởng các giá trị văn hóa, sinh viên còn là chủ thể sáng tạo, kế thừa, phát huy và lan tỏa bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại và đóng góp vào quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Đồng thời là yêu cầu mang tính cấp thiết nhằm gìn giữ, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc, góp phần tạo nguồn lực văn hóa mới cho sự phát triển của đất nước.
2. Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
Văn hóa là khái niệm đa chiều, được tiếp cận khác nhau tùy theo ngành nghiên cứu. Ở khía cạnh văn hóa học, vai trò của biểu tượng và sự lựa chọn cá nhân trong việc hình thành văn hóa, tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc2. Ở góc độ sử học, văn hóa được hình thành từ mối quan hệ giữa con người và điều kiện tự nhiên, xã hội – lịch sử của cộng đồng, phản ánh cách thức một dân tộc ứng phó với môi trường sống và các thách thức lịch sử3. Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam được thể hiện:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu và động lực phát triển.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998), Đảng khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội… Xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”4. Đến Đại hội XII, quan điểm này tiếp tục được khẳng định, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa5. Đồng thời, xây dựng con người Việt Nam toàn diện gắn liền với việc hình thành các giá trị mới: trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, tinh thần dân chủ, chủ động, sáng tạo và khát vọng vươn lên.
Văn kiện Đại hội XIII khẳng định vai trò trọng yếu của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, coi phát triển văn hóa là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021 – 2030. Văn hóa, không chỉ phản ánh trình độ phát triển xã hội mà còn định hướng giá trị, lối sống và hành vi của con người Việt Nam trong quá trình hội nhập, là nền tảng để phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng (khóa XIV) khẳng định: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia; xây dựng và hoàn thiện thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, xây dựng văn hoá trong kinh tế và trong chính trị; xây dựng môi trường văn hoá số”6.
Hai là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là mục tiêu cốt lõi, xuyên suốt trong chiến lược phát triển của đất nước, đồng thời là nhân tố quyết định để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, thúc đẩy sự phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của chiến lược phát triển. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời phát triển con người một cách toàn diện. Văn kiện Đại hội xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của Nhân dân”7. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”8.
Phát triển con người toàn diện gắn với văn hóa. Mục tiêu xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới là phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo và ý thức công dân. Đại hội XIII khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”9. Con người Việt Nam thời kỳ mới cần được bồi dưỡng những phẩm chất cơ bản: yêu nước, nhân ái, trung thực, đoàn kết, sáng tạo và trách nhiệm. Song song với việc phát triển con người, văn hóa cần được phát triển toàn diện, đồng bộ, vừa bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế”10. Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Quan điểm, đường lối đề cao vị trí, vai trò của văn hóá giúp nhận thức về sức mạnh của văn hóa ngày càng sâu sắc, phong phú, toàn diện hơn”11.
Phát huy sức mạnh nội sinh và vai trò chủ thể của Nhân dân. Điều này yêu cầu cơ chế giải phóng tiềm năng, khuyến khích sáng tạo, thực hiện dân chủ trực tiếp và đại diện, bảo đảm minh bạch thông tin để Nhân dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội và quản lý xã hội. Đại hội XIII khẳng định: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước… Có cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo, động viên Nhân dân tham gia phát triển kinh tế và quản lý phát triển xã hội”12. Đại hội khóa XIV của Đảng khẳng định: “Phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhân tố nội sinh cốt lõi và động lực của sự phát triển bền vững”13.
Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên, được xác định là lực lượng chủ chốt trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”14.
Với tri thức, khả năng tiếp cận thông tin và công nghệ, sinh viên không chỉ là người tiếp nhận văn hóa mà còn là những người tiên phong trong sáng tạo, quảng bá và lan tỏa giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Nghị quyết số 25-NQ/TW (khóa X) nhấn mạnh vai trò chiến lược của thanh niên đối với tương lai của dân tộc và thành công của cách mạng Việt Nam, khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”15.
3. Một số kết quả của việc phát huy vai trò của sinh viên đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
Thứ nhất, sinh viên từng bước khẳng định vai trò là chủ thể tiếp nhận, thực hành và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam.
Sinh viên là bộ phận xã hội có trí tuệ, năng động, tiếp nhận cái mới nhạy bén và có ý thức chính trị – đạo đức tương đối cao. Những năm gần đây, sinh viên đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc tiếp nhận, thực hành và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thông qua quá trình học tập các môn lý luận chính trị, lịch sử, văn hóa, nhận thức của sinh viên về vai trò của xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam ngày càng được nâng cao. Nhiều sinh viên thể hiện sự trân trọng đối với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần nhân ái, yêu thương con người, đoàn kết, ý thức cộng đồng và truyền thống hiếu học, sáng tạo, cần cù trong lao động.
Các giá trị văn hóa truyền thống này được sinh viên tiếp nhận, thực hành và lan tỏa thông qua hoạt động học tập, tham gia Đoàn – Hội và các phong trào thanh niên. Nhiều phong trào tiêu biểu đã tạo môi trường để sinh viên rèn luyện và lan tỏa giá trị văn hóa, trong đó có phong trào “Sinh viên 5 tốt”, chương trình “Thanh niên sống đẹp – sống có ích”, các chiến dịch Mùa hè xanh, hay các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa tại Hội An (Đà Nẵng), Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Những hoạt động này góp phần cụ thể hóa chủ trương của Đảng về xây dựng văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời khẳng định vai trò của sinh viên như một lực lượng quan trọng trong truyền bá giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, sinh viên không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn trở thành chủ thể sáng tạo, góp phần lan tỏa và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam trong cộng đồng.
Thứ hai, sinh viên góp phần xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh.
Môi trường học đường là không gian trực tiếp góp phần hình thành nhân cách, hệ giá trị và chuẩn mực văn hóa của sinh viên. Trong thời kỳ toàn cầu hóa, nhiều cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng ở Việt Nam đã chú trọng xây dựng môi trường học tập dân chủ, thân thiện, năng động, sáng tạo gắn với mục tiêu phát triển toàn diện con người theo định hướng của Đảng.
Những năm gần đây, nhiều trường đại học, cao đẳng đã chú trọng xây dựng môi trường học tập lấy người học làm trung tâm, nâng cao kỹ năng phản biện, khuyến khích đối thoại học thuật, tôn trọng sự khác biệt cũng như thúc đẩy sự năng động, sáng tạo của sinh viên. Qua đó, các trường đã góp phần hình thành phong cách học đường hiện đại, nhân văn. Sinh viên không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn giữ vai trò chủ thể kiến tạo văn hóa học đường. Điều này thể hiện qua việc tuân thủ và thực hành các chuẩn mực ứng xử, thái độ nghiêm túc trong học tập và liêm chính trong nghiên cứu khoa học, văn hóa giao tiếp trên không gian mạng xã hội cũng như thái độ tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, hợp tác học thuật và đóng góp phục vụ cộng đồng.
Nhiều trường đại học triển khai mô hình “Văn hóa học đường” và các bộ quy tắc, nội quy trường học ứng xử văn minh; trong đó sinh viên là lực lượng quan trọng trong thực thi và lan tỏa văn hóa, góp phần hình thành môi trường học đường kỷ cương, nhân văn và sáng tạo.
Thứ ba, sinh viên giữ vai trò quan trọng trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong thời kỳ toàn cầu hóa, sinh viên đã và đang thể hiện vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, đạo đức, lối sống và năng lực hội nhập. Đó là minh chứng rõ ràng cho việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện theo quan điểm của Đảng. Thông qua các phong trào học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động tình nguyện, các cuộc thi tài năng và khởi nghiệp sáng tạo, sinh viên không ngừng hoàn thiện và phát triển bản thân cả về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ, qua đó góp phần lan tỏa các giá trị nhân văn, thương người trong xã hội. Sinh viên ngày càng chú trọng rèn luyện kỷ luật lao động, khả năng làm việc nhóm, tác phong công nghiệp và tư duy năng động, sáng tạo. Đây là những phẩm chất đáng trân trọng của con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Thứ tư, sinh viên giữ vai trò cầu nối giao lưu và quảng bá văn hóa dân tộc trong thời đại số.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số mạnh mẽ, sinh viên đã tích cực tham gia sáng tạo nội dung, hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, truyền thông và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới trên nền tảng số. Thông qua các chương trình trao đổi sinh viên, hội nghị khoa học quốc tế và các diễn đàn sinh viên, với khả năng tiếp cận công nghệ và tư duy mở, sinh viên đã triển khai nhiều hoạt động nhằm lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc ra thế giới.
Đặc biệt, trên không gian mạng, nhiều nhóm sinh viên xây dựng và phát triển các kênh truyền thông số về lễ hội, áo dài, ẩm thực, dân ca, lịch sử Việt Nam; sản xuất video chia sẻ tri thức văn hóa; lối sống và con người Việt Nam hay tổ chức các dự án truyền thông về di sản, như: ca trù, quan họ, nhã nhạc cung đình Huế. Một số dự án nổi bật như “Sử Việt 3 phút”, các podcast văn hóa của sinh viên giới thiệu văn hóa Việt Nam bằng tiếng Anh đã thu hút lượng lớn người theo dõi và tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần nâng cao mức độ hiện diện của văn hóa Việt Nam trong môi trường thế giới, đồng thời thể hiện năng lực thích ứng và sáng tạo của giới trẻ trong thời kỳ toàn cầu hóa.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của sinh viên trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, đòi hỏi phải được nhận diện đầy đủ để có giải pháp khắc phục phù hợp.
Một là, nhận thức về văn hóa và trách nhiệm giữ gìn giá trị văn hóa của dân tộc của một bộ phận sinh viên còn hạn chế.
Mặc dù được tiếp cận với các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời đại mới, nhưng trên thực tế, không ít sinh viên chưa thấy được vai trò của văn hóa trong xây dựng và phát triển đất nước. Một bộ phận sinh viên vẫn coi văn hóa là lĩnh vực mang tính hỗ trợ, chưa gắn chặt với mục tiêu phát triển của bản thân và trách nhiệm cá nhân. Ở các trường đại học, cao đẳng, việc học tập các môn lý luận chính trị, văn hóa, lịch sử – xã hội Việt Nam của một bộ phận sinh viên còn mang tính đối phó, nặng về ghi nhớ kiến thức, thiếu sự gắn kết với thực tiễn đất nước. Điều này dẫn đến tình trạnh sinh viên còn mơ hồ và hiểu biết chưa đầy đủ về giá trị văn hóa Việt Nam, từ đó chưa có ý thức tự giác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hai là, một bộ phận sinh viên có xu hướng lệch chuẩn về lối sống và giá trị văn hóa, khả năng chọn lọc và đề kháng văn hóa trước các sản phẩm văn hóa ngoại lai còn yếu.
Dưới tác động của toàn cầu hóa, một bộ phận sinh viên có biểu hiện chạy theo lối sống thực dụng, đề cao hưởng thụ vật chất, ích kỷ, tư lợi cá nhân, bàng quan với các vấn đề xã hội, coi nhẹ các giá trị văn hóa truyền thống như nhân ái, khoan dung, đoàn kết, chia sẻ với cộng đồng. Trong thời kỳ toàn cầu hóa, với sự phát triển của internet, mạng xã hội, sinh viên có thể tiếp cận nhanh chóng với các trào lưu văn hóa quốc tế. Thực tế có thể thấy, có một bộ phân sinh viên có xu hướng giải trí thiếu lành mạnh, lối sống chạy theo thần tượng trên mạng, sính ngoại, xa rời các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Điều này không chỉ làm phai nhạt giá trị văn hóa dân tộc mà còn tiềm ẩn nguy cơ lệch chuẩn xã hội về nhân cách.
Bốn là, việc tham gia các hoạt động văn hóa của sinh viên còn mang tính phong trào, thiếu tính chiều sâu và tính bền vững.
Nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng chủ yếu tổ chức theo đợt, gắn với các ngày lễ, sự kiện và chưa được thường xuyên. Một bộ phận sinh viên tham gia các hoạt động văn hóa ở trường học và cộng đồng còn mang tính hình thức, chưa thực sự xuất phát từ sự yêu thích và ý thức trách nhiệm đối với văn hóa dân tộc. Các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam trên không gian mạng còn chưa nhiều. Thậm chí, một số sinh viên còn vô tình tiếp tay cho việc lan truyền thông tin sai lệch, sản phẩm văn hóa phản cảm, đi ngược với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Điều này làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng và chưa tạo được sự chuyển biến bền vững trong nhận thức và hành vi của sinh viên đối với xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Những hạn chế trên đây cho thấy, việc phát huy vai trò của của sinh viên trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam vẫn chưa tương xứng với vị trí, tiềm năng và kỳ vọng mà Đảng và xã hội đặt ra đối với thế hệ sinh viên. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nếu không kịp khắc phục những hạn chế này, sinh viên có thể trở thành đối tượng bị hòa tan trong tiến trình hội nhập.
4. Một số giải pháp trọng tâm
Thứ nhất, tăng cường giáo dục lý tưởng, giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”16. Giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng sống, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân cần được đẩy mạnh thông qua chương trình giảng dạy chính khóa và hoạt động ngoại khóa. Các cơ sở giáo dục đại học cần đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, tăng tính trải nghiệm, sử dụng công nghệ số trong truyền đạt giá trị văn hóa nhằm tạo sự hấp dẫn và phù hợp với đặc điểm thế hệ sinh viên hiện nay. Đồng thời, tổ chức Đoàn – Hội phải phát huy tốt vai trò trong việc tổ chức các diễn đàn, hội thảo, cuộc thi tìm hiểu văn hóa, giúp sinh viên rèn luyện thường xuyên, liên tục và có chiều sâu về văn hóa dân tộc.
Thứ hai, tạo môi trường văn hóa lành mạnh trong các trường đại học, cao đẳng.
Môi trường đại học có ý nghĩa quyết định đối với quá trình hình thành nhân cách và lối sống văn hóa của sinh viên. Vì vậy, cần xây dựng không gian học thuật tôn trọng tri thức, khuyến khích sáng tạo và đề cao các chuẩn mực văn minh. Các thiết chế văn hóa như thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hóa sinh viên phải được đầu tư và vận hành hiệu quả, trở thành không gian để sinh viên rèn luyện, trải nghiệm và phát triển năng lực văn hóa. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong việc phòng ngừa những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, tăng cường giáo dục kỹ năng “đề kháng văn hóa” trước tác động tiêu cực từ mạng xã hội, nội dung giải trí thương mại hóa và các trào lưu thiếu lành mạnh trong đời sống số.
Thứ ba, khuyến khích sinh viên chủ động tham gia sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam.
Sinh viên là nhóm có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ, có tư duy mở và tinh thần đổi mới. Do đó, cần tạo điều kiện để họ tham gia các dự án truyền thông, hoạt động nghệ thuật, chương trình bảo tồn văn hóa, tình nguyện cộng đồng gắn với di sản và bản sắc dân tộc. Nhà trường, tổ chức Đoàn – Hội và cơ quan quản lý văn hóa cần hỗ trợ nguồn lực, chuyên môn và nền tảng công nghệ để sinh viên hình thành các sản phẩm sáng tạo có giá trị. Trên môi trường số, sinh viên cần phát huy vai trò “đại sứ văn hóa”, lan tỏa hình ảnh văn hóa Việt Nam một cách chuẩn mực, hấp dẫn và phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.
Thứ tư, nâng cao kỹ năng số và năng lực hội nhập văn hóa cho sinh viên.
Trong thời đại số, việc xây dựng và phát triển văn hóa không thể tách rời năng lực công nghệ và hiểu biết văn hóa toàn cầu. Các trường đại học cần tích hợp giáo dục kỹ năng số, tư duy phản biện, năng lực chọn lọc thông tin, kỹ năng truyền thông và tiếp biến văn hóa vào chương trình đào tạo. Việc mở rộng các chương trình giao lưu, trao đổi sinh viên quốc tế cũng góp phần giúp sinh viên tiếp cận đa dạng văn hóa thế giới, phát triển tầm nhìn toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc.
Các giải pháp phát huy vai trò của sinh viên trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay đều hướng đến việc nâng cao nhận thức, bồi dưỡng giá trị và kỹ năng văn hóa; đồng thời, tạo môi trường thuận lợi để sinh viên rèn luyện và cống hiến. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân sinh viên giúp hình thành lực lượng trẻ có tri thức, bản lĩnh và trách nhiệm, góp phần giữ gìn và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
5. Kết luận
Sinh viên, với đặc điểm tri thức và sức sáng tạo, là lực lượng quan trọng trong việc hiện thực hóa quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay. Từ việc tiếp nhận và lan tỏa giá trị truyền thống, xây dựng môi trường văn hóa học đường đến sáng tạo và quảng bá văn hóa trong thời đại số, sinh viên đã và đang góp phần làm phong phú đời sống văn hóa dân tộc. Để vai trò này được phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp của nhà trường, tổ chức Đoàn – Hội và chính sinh viên trong việc tạo dựng môi trường rèn luyện, nâng cao tri thức và khuyến khích sáng tạo văn hóa. Sự tham gia chủ động của sinh viên sẽ là nhân tố quan trọng đóng góp vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Chú thích:
1, 8, 9, 10, 12, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 115 – 116, 231, 37, 262, 51, 167.
2. Phan Ngọc (2002). Bản sắc văn hóa Việt Nam. H. NXB Văn hóa Thông tin, tr. 19 – 20.
3. Trần Quốc Vượng (2002). Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. H. NXB. Văn học, tr. 65.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 356 – 357.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 126.
6, 11, 13. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam. https://nhandan.vn/bao-cao-tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-cong-cuoc-doi-moi-theo-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-40-nam-qua-o-viet-nam-post941733.html.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 738.
14. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993). Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới.
15. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.



