TS. Nguyễn Thị Tuyết Loan
TS. Tô Tuấn Đạt
Trường Chính trị thành phố Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kết tinh ý chí chính trị, trí tuệ tập thể và khát vọng phát triển đất nước, giữ vai trò định hướng chiến lược đối với toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị. Trong bối cảnh phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đặt ra là phải đưa nghị quyết thành hành động thực chất, kịp thời và quyết liệt. Bài viết phân tích tính tất yếu của việc đưa nghị quyết vào cuộc sống, làm rõ vai trò, trách nhiệm và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đặc biệt nhấn mạnh tinh thần dấn thân vào việc khó, việc mới. Từ đó, đề xuất giải pháp thôi thúc cán bộ, công chức, viên chức dấn thân vào việc khó, việc mới góp phần đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào cuộc sống.
Từ khóa: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đội ngũ cán bộ, thôi thúc, dấn thân, việc khó, việc mới, giải pháp.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, các nghị quyết của Đảng luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là kết tinh trí tuệ tập thể, là sự hội tụ ý chí chính trị, bản lĩnh lãnh đạo và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Mỗi kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng không chỉ là dấu mốc chính trị có ý nghĩa lịch sử mà còn là thời điểm xác lập những quyết sách chiến lược, định hướng tương lai phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được thông qua trong thời điểm có ý nghĩa đặc biệt, khi đất nước đứng trước những vận hội lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi tư duy mới, cách làm mới và quyết tâm chính trị cao hơn bao giờ hết.
Đưa nghị quyết vào cuộc sống chính là mệnh lệnh chính trị và thực tiễn, thôi thúc đội ngũ cán bộ phải dấn thân vào việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ. Thực tiễn cho thấy, những đột phá trong phát triển, những chuyển biến tích cực trong quản lý và điều hành chỉ có thể đạt được khi có đội ngũ cán bộ đủ tâm, đủ tầm, đủ bản lĩnh, dám nghĩ khác, làm khác vì lợi ích chung. Dấn thân vào việc khó không phải là hành động mạo hiểm hay chủ quan, mà là biểu hiện của tinh thần trách nhiệm, của khát vọng cống hiến và của lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đã xác định. Đây vừa là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới, vừa là thước đo bản lĩnh, trí tuệ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.
2. Đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành hành động là yêu cầu khách quan của sự phát triển
2.1. Nghị quyết là định hướng chiến lược, hành động là thước đo hiệu quả
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tầm nhìn phát triển toàn diện của đất nước trong giai đoạn 2026 -2030 và những năm tiếp theo, với mục tiêu cao nhất là đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao; vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”1. Nghị quyết thể hiện rõ tư duy chiến lược, tầm nhìn thời đại và khát vọng phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là sự kế thừa những thành tựu lý luận và thực tiễn qua các nhiệm kỳ đại hội mà còn là bước phát triển mới trong nhận thức về mô hình tăng trưởng, phát triển con người và quản trị quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng.
Văn kiện Đại hội XIV đề ra mục tiêu “tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, với tỉ trọng kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP”2. Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế, Nghị quyết còn nhấn mạnh những mục tiêu quan trọng về phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Hệ thống mục tiêu này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, giữa hiệu quả kinh tế với giá trị nhân văn, qua đó định hướng cho sự vận hành đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương tới cơ sở trong giai đoạn phát triển mới.
Tuy nhiên, giá trị cốt lõi và sức sống thực tiễn của Nghị quyết không chỉ nằm ở nội dung lý luận hay các chỉ tiêu phát triển được xác lập, mà được đo lường trước hết và cuối cùng bằng hành động và kết quả cụ thể trong thực tiễn. Nghị quyết chỉ thực sự phát huy vai trò định hướng khi được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, sáng tạo và hiệu quả; khi các chủ trương, đường lối được chuyển hóa thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể gắn với trách nhiệm của từng tổ chức, từng cấp ủy và từng cán bộ, đảng viên. Do đó, hành động chính là thước đo phản ánh năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh chính trị của Đảng, đồng thời, là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ thành công của Nghị quyết trong đời sống xã hội.
Thực tiễn cho thấy, ngay sau khi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được thông qua, các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn bộ hệ thống chính trị đã khẩn trương triển khai công tác quán triệt, học tập Nghị quyết; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành, từng địa phương. Quá trình này không chỉ dừng lại ở việc phổ biến nội dung Nghị quyết mà quan trọng hơn là cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược thành những nhiệm vụ khả thi, có lộ trình, có phân công trách nhiệm rõ ràng. Chính sự gắn kết chặt chẽ giữa định hướng chiến lược của Nghị quyết với hành động thực tiễn của các chủ thể trong hệ thống chính trị sẽ quyết định mức độ hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2.2. Bối cảnh mới đặt ra nhiều việc khó, việc mới
Một là, chuyển đổi số, kinh tế số và kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là yêu cầu mới mang tính chiến lược.
Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ được đề cập như những xu hướng tất yếu của thời đại mà đã được xác định rõ là những trụ cột chiến lược, giữ vai trò then chốt trong mô hình tăng trưởng và phát triển đất nước giai đoạn mới. Đây là sự chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Nghị quyết nhấn mạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và các mô hình sản xuất, kinh doanh mới nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và giá trị gia tăng của nền kinh tế. Theo đó, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hay sản xuất mà là quá trình chuyển đổi toàn diện phương thức tổ chức nền kinh tế, phương thức quản trị xã hội và cung cấp dịch vụ công. Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển bền vững, hướng tới giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên, tái tạo năng lượng và hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái.
Việc hiện thực hóa các định hướng chiến lược này đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản và đồng bộ về thể chế, chính sách, hệ thống pháp luật, hạ tầng số và năng lực quản trị quốc gia. Trong đó, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp cho các mô hình kinh doanh mới, hoàn thiện hạ tầng số hiện đại, bảo đảm an toàn, an ninh mạng, đồng thời nâng cao năng lực quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số là những yêu cầu mang tính cấp thiết. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay công nghệ, mà là thách thức lớn về tư duy quản lý, phương thức điều hành và tổ chức thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Để biến các mục tiêu về chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn thành hiện thực sinh động trong đời sống kinh tế – xã hội, các cấp, các ngành và địa phương cần chủ động xây dựng và triển khai các chương trình hành động cụ thể, có lộ trình rõ ràng và giải pháp khả thi. Trọng tâm là đẩy nhanh phát triển hạ tầng công nghệ số, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi để doanh nghiệp và người dân tham gia sâu rộng vào quá trình chuyển đổi. Đây là lĩnh vực mới, khó và phức tạp, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao, tư duy đổi mới mạnh mẽ, sự phối hợp liên ngành chặt chẽ và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm, dấn thân của đội ngũ cán bộ trong việc thiết kế, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách.
Hai là, giải quyết các vấn đề phức tạp từ thực tiễn cơ sở.
Bối cảnh mới còn đặt ra yêu cầu tranh thủ khơi thông các “điểm nghẽn” trong thể chế và chính sách nhằm hỗ trợ phát triển, từ cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế đến nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước ở cả trung ương và địa phương. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh cần “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hoà giữa tăng trưởng và phát triển”3.
Những nhiệm vụ này đòi hỏi không chỉ kiến thức quản lý mà cả kỹ năng thực tiễn, khả năng phối hợp liên ngành và sự nhạy bén trong nhận diện và xử lý vấn đề phát sinh tại cơ sở từ các vấn đề phát triển kinh tế, an sinh xã hội đến ứng phó biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Đây là những thách thức đa chiều, phức tạp và chưa từng có tiền lệ, yêu cầu cán bộ và hệ thống chính trị phải xem xét, thích ứng và hành động linh hoạt.
Ba là, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và phục vụ Nhân dân.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ yêu cầu: “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”4. Điều này thể hiện sự chuyển trọng tâm từ quản lý hành chính nhà nước sang lãnh đạo điều hành mang tính tiên phong, sáng tạo và phục vụ Nhân dân một cách thiết thực hơn.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân không chỉ là yêu cầu về mặt tổ chức hay kỹ thuật quản lý mà còn là sự thay đổi căn bản về tư duy, phong cách và văn hóa lãnh đạo. Theo đó, hiệu quả lãnh đạo được đo lường bằng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, bằng chất lượng giải quyết các vấn đề thực tiễn và khả năng kiến tạo môi trường phát triển. Phương thức lãnh đạo mới đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa kỷ cương, kỷ luật với tính linh hoạt, sáng tạo; giữa quyền lực với trách nhiệm giải trình; giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với việc phát huy dân chủ, trí tuệ và quyền làm chủ của Nhân dân. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng học tập, rèn luyện năng lực chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo, quản trị hiện đại và bản lĩnh chính trị, từ đó đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể, thiết thực và bền vững.
2.3. Hành động chậm trễ đồng nghĩa với bỏ lỡ cơ hội phát triển
Một là, thực tiễn vận động nhanh, nếu không quyết liệt sẽ tụt hậu.
Trong bối cảnh thế giới hiện đại vận hành với tốc độ nhanh chưa từng có, việc chậm trễ hay trì trệ trong tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh và cơ hội phát triển. Nghị quyết Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu phát triển con người, nâng cao chỉ số phát triển con người, giảm nghèo đa chiều, cải thiện môi trường sống, và thuộc nhóm các quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao, là những mục tiêu đều mang tính thời sự và cần hành động quyết liệt.
Thực tiễn cho thấy, khoảng cách giữa chủ trương đúng đắn và kết quả đạt được phụ thuộc rất lớn vào tốc độ và chất lượng của khâu tổ chức thực hiện. Trong điều kiện môi trường kinh tế – xã hội biến động nhanh, nếu việc cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động không theo kịp thực tiễn, thì ngay cả những mục tiêu được thiết kế hợp lý, có tính khả thi cao cũng dễ trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với bối cảnh mới. Khi đó, chi phí điều chỉnh chính sách sẽ gia tăng, hiệu quả sử dụng nguồn lực bị suy giảm và khả năng hoàn thành các chỉ tiêu chiến lược của Nghị quyết cũng bị ảnh hưởng.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao tính chủ động, linh hoạt và quyết đoán trong tổ chức thực hiện nghị quyết, coi đây là yếu tố then chốt để chuyển hóa tầm nhìn chiến lược thành kết quả cụ thể trong thực tiễn. Hành động chậm trễ đồng nghĩa với việc tự đánh mất thời cơ phát triển, trong khi hành động kịp thời, hiệu quả sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh mới, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững mà Nghị quyết Đại hội XIV đã đề ra.
Hai là, đòi hỏi tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Nguyên tắc thực hiện nghị quyết được lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhấn mạnh là “chọn đúng việc – làm nhanh – làm kỹ – đo lường bằng kết quả cụ thể”, chuyển từ “lời nói sang hành động”, “từ nhận thức sang kết quả thực tiễn”. Điều này yêu cầu mỗi cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan và đơn vị trong hệ thống chính trị phải thể hiện tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để khi thực thi nghị quyết không bị trì hoãn, ngại khó.
Tinh thần này còn bao gồm việc phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và kết quả công việc cần đạt được, gắn với kiểm tra, giám sát và đánh giá thường xuyên nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện nghị quyết một cách thực chất. Chỉ khi cán bộ chủ động và sáng tạo trong hành động không chỉ là tuân thủ, mà còn là phát triển những cách làm hiệu quả thì nghị quyết mới trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn diện sự phát triển của đất nước.
3. Dấn thân vào việc khó, việc mới là thước đo bản lĩnh và trách nhiệm cán bộ, công chức, viên chức
Thứ nhất, việc khó, việc mới là “phép thử” khách quan của đội ngũ cán bộ.
Trong mọi giai đoạn cách mạng, đội ngũ cán bộ luôn giữ vai trò quyết định đối với sự thành công của đường lối, chủ trương của Đảng. Thực tiễn cho thấy, năng lực và bản lĩnh của cán bộ, công chức, viên chức không thể chỉ được đánh giá qua lời nói, báo cáo hay thành tích hình thức mà phải được kiểm nghiệm thông qua khả năng giải quyết những vấn đề khó, phức tạp, mới phát sinh từ thực tiễn. Chính trong những nhiệm vụ như vậy, phẩm chất chính trị, năng lực thực tiễn và tinh thần trách nhiệm của cán bộ mới được bộc lộ một cách rõ nét và chân thực nhất.
“Việc khó, việc mới” thường gắn với những lĩnh vực nhạy cảm, nhiều áp lực, dễ va chạm lợi ích, đòi hỏi tư duy đổi mới, cách làm sáng tạo và tinh thần dám chịu trách nhiệm. Đây cũng là những nhiệm vụ có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý, điều hành và đến niềm tin của Nhân dân. Do đó, việc cán bộ, công chức, viên chức có dám nhận, dám làm và làm đến nơi đến chốn hay không trở thành thước đo quan trọng phản ánh bản lĩnh chính trị và đạo đức công vụ.
Thực tiễn cũng chỉ ra sự phân hóa rõ rệt trong đội ngũ cán bộ khi đứng trước việc khó, việc mới. Một bộ phận cán bộ thể hiện tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; trong khi đó, vẫn còn cán bộ có biểu hiện né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm, lựa chọn “an toàn”. Sự khác biệt này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nghị quyết, mà còn tác động trực tiếp đến uy tín của tổ chức Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Vì vậy, có thể khẳng định: việc khó, việc mới chính là “phép thử” khách quan và công bằng nhất để nhận diện cán bộ, phân biệt rõ giữa cán bộ có khát vọng cống hiến với cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm; giữa cán bộ dám hành động vì lợi ích chung với cán bộ chỉ tìm cách giữ mình an toàn.
Thứ hai, tinh thần dấn thân là yêu cầu tất yếu của giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn, tinh thần dấn thân của đội ngũ cán bộ không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Thực tiễn cho thấy, không thể có đổi mới thực chất nếu cán bộ chỉ lựa chọn việc dễ, việc quen; càng không thể có đột phá nếu thiếu quyết tâm, thiếu trách nhiệm và thiếu bản lĩnh hành động.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, cải cách hành chính, xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, nhiều vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo và quyết đoán. Nếu cán bộ không chủ động dấn thân, không kịp thời nắm bắt cơ hội, thì không chỉ bỏ lỡ thời cơ phát triển mà còn có nguy cơ tụt hậu so với yêu cầu của thực tiễn. Khi đó, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả sẽ ngày càng bị nới rộng, làm giảm hiệu quả lãnh đạo và điều hành.
Tinh thần dấn thân còn là biểu hiện sinh động của trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai của đất nước. Mỗi quyết định, mỗi hành động dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đều góp phần cụ thể hóa nghị quyết, biến mục tiêu chính trị thành kết quả phát triển thực chất. Ngược lại, sự chần chừ, né tránh và an toàn thái quá không chỉ làm chậm tiến trình đổi mới mà còn làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị.
Vì vậy, xây dựng và lan tỏa tinh thần dấn thân vào việc khó, việc mới cần được xác định là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, công chức, viên chức hiện nay. Đây không chỉ là yêu cầu về phẩm chất cá nhân mà còn là đòi hỏi về văn hóa công vụ, về phương thức lãnh đạo và quản lý trong giai đoạn phát triển mới. Chỉ khi đội ngũ cán bộ thực sự dấn thân, dám hành động vì lợi ích chung thì nghị quyết của Đảng mới có thể đi vào cuộc sống một cách sâu sắc, bền vững và hiệu quả.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng trong toàn hệ thống chính trị về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của việc tổ chức thực hiện nghị quyết. Phải xác định rõ, thực hiện nghị quyết không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng và từng cán bộ, đảng viên. Nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng; ngược lại, nhận thức mơ hồ, hình thức sẽ kéo theo việc triển khai chậm trễ, thiếu quyết liệt.
Cùng với đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần phát huy tinh thần tự giác, chủ động “tự soi, tự sửa, tự nâng cao” trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Việc đưa nghị quyết vào cuộc sống không thể trông chờ hoàn toàn vào chỉ đạo từ cấp trên, mà đòi hỏi ý thức trách nhiệm cá nhân gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ ở vị trí nào phải chủ động cụ thể hóa nghị quyết ở vị trí đó, biến mục tiêu chung thành kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Hai là, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu.
Thực tiễn cho thấy, ở đâu người đứng đầu thực sự gương mẫu, quyết liệt, dám chịu trách nhiệm thì ở đó nghị quyết được triển khai nghiêm túc, hiệu quả; ngược lại, nơi nào người đứng đầu thiếu quyết tâm, né tránh, thì việc thực hiện nghị quyết dễ rơi vào hình thức. Vì vậy, cần đặc biệt coi trọng vai trò nêu gương của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nghị quyết.
Người đứng đầu không chỉ dừng lại ở việc ban hành kế hoạch hay phân công nhiệm vụ mà phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Việc dám nhận những nhiệm vụ khó, việc mới, việc phức tạp sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và động lực hành động trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nêu gương của người đứng đầu vì vậy chính là yếu tố then chốt để biến nghị quyết thành hành động thực chất.
Ba là, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm
Một trong những điều kiện quan trọng để nghị quyết đi vào cuộc sống là phải tạo môi trường khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong khuôn khổ cho phép. Thực tiễn cho thấy, nếu không có cơ chế động viên, bảo vệ phù hợp, cán bộ dễ rơi vào tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm, từ đó chọn giải pháp an toàn, thiếu đột phá. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có cách làm hay, mô hình hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân và xã hội. Đồng thời, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhất là trong quá trình thử nghiệm các mô hình mới, cách làm mới chưa có tiền lệ, nhưng phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Bốn là, gắn thực hiện nghị quyết với kết quả cụ thể, đo đếm được.
Để tránh tình trạng triển khai nghị quyết mang tính hình thức, cần chuyển mạnh từ tư duy “làm cho có” sang tư duy “làm cho xong, làm cho tốt và làm ra kết quả cụ thể”. Mỗi chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết cần được lượng hóa bằng các chỉ tiêu, sản phẩm, mốc thời gian và trách nhiệm cụ thể, bảo đảm có thể kiểm tra, giám sát và đánh giá một cách khách quan.
Đặc biệt, cần lấy hiệu quả thực tiễn và mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo quan trọng đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết. Những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế – xã hội, trong cải cách hành chính, trong chất lượng phục vụ Nhân dân chính là minh chứng sinh động nhất cho giá trị của nghị quyết. Khi nghị quyết được hiện thực hóa bằng kết quả cụ thể, niềm tin của Nhân dân sẽ được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai các chủ trương lớn trong giai đoạn tiếp theo.
5. Kết luận
Đưa nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào cuộc sống không chỉ là yêu cầu khách quan của sự phát triển mà còn là nhiệm vụ chính trị cấp bách trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Việc tổ chức thực hiện nghị quyết một cách nghiêm túc, hiệu quả chính là thước đo sinh động nhất phản ánh năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn hệ thống chính trị.
Trong quá trình đó, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải xác định việc đưa nghị quyết thành hành động cụ thể không chỉ là nhiệm vụ được giao, mà là mệnh lệnh từ thực tiễn, là trách nhiệm chính trị trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai phát triển của đất nước. Thực hiện nghị quyết không dừng lại ở học tập, quán triệt hay xây dựng kế hoạch mà phải được thể hiện bằng hành động quyết liệt, bằng kết quả thực chất và bằng những chuyển biến rõ nét trong đời sống kinh tế – xã hội.
Thực tiễn đã và đang khẳng định: chỉ khi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự dám dấn thân vào việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ thì nghị quyết mới có thể đi sâu vào cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy đổi mới và phát triển. Tinh thần dấn thân, trách nhiệm và bản lĩnh của cán bộ chính là cầu nối trực tiếp giữa ý chí chính trị và hành động cụ thể. Khi cầu nối ấy được xây dựng vững chắc, nghị quyết của Đảng sẽ không chỉ dừng lại ở định hướng mà sẽ tạo ra những chuyển biến thực chất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc.
Chú thích:
1, 2, 3, 4. Toàn văn: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm, ngày 26/02/2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Vững bước dưới cờ Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/03/vung-buoc-duoi-co-dang, ngày 03/02/2026.
2. Một số giải pháp tiếp tục tạo đột phá trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/12/mot-so-giai-phap-tiep-tuc-tao-dot-pha-trong-sap-xep-tinh-gon-bo-may-hien-nay, ngày 12/02/2026.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo. https://lyluanchinhtri.vn/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-xay-dung-doi-ngu-can-bo-dam-nghi-dam-lam-dam-doi-moi-sang-tao-9219.html, ngày 20/10/2025 .
4. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trường Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. https://lyluanchinhtri.vn/phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-cua-can-bo-dang-vien-truong-dang-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-7044.html, ngày 29/7/2025.



