ThS. Lê Thị Phương Dung
Trường Đại học Tài chính – Kế toán
(Quanlynhanuoc.vn) – Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là quan điểm nhất quán và xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIV. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội bền vững. Bài viết tập trung làm rõ quan điểm, nội dung, giải pháp thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Thực hiện tốt những quan điểm của Đảng về thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội góp phần nâng cao đời sống Nhân dân và bảo đảm mọi người được thụ hưởng thành quả phát triển; tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; khẳng định bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Từ khóa: Tiến bộ, công bằng xã hội; Đại hội XIV của Đảng; kỷ nguyên phát triển mới.
1. Đặt vấn đề
Một trong nội dung, biện pháp quan trọng được Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ là: “Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người”1. Đây là mục tiêu, nhiệm vụ lớn đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc, trong đó cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền địa phương các cấp là lực lượng trực tiếp, chủ yếu, thường xuyên thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội cho các đối tượng trong xã hội.
Đất nước phát triển, đồng nghĩa với việc đời sống của Nhân dân không ngừng được cải thiện cả về vật chất, tinh thần; các cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước đem lại những điều kiện tốt nhất cho người dân để bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”, ai cũng được thừa hưởng những điều kiện thuận lợi từ những chính sách do Đảng, Nhà nước đem lại. Các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa cần được quan tâm đầu tư ngang tầm với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững2.
2. Tiến bộ, công bằng xã hội nền tảng vững chắc để phát triển ổn định, bền vững đất nước, giữ vững ổn định, trật tự an toàn xã hội
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”2. Do đó, việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội có vai trò quan trọng để củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; khẳng định bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của những cơ chế, chính sách do Đảng, Nhà nước ban hành vì dân, vì nước.
Kế thừa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến bộ, công bằng xã hội, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước đã không ngừng bổ sung, phát triển về tiến bộ, công bằng xã hội phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ ở các giai đoạn, thời kỳ lịch sử đặt ra. Quan điểm của Đảng về tiến bộ, công bằng xã hội được thể hiện trong các kỳ Đại hội Đảng, cụ thể hóa thành các nghị quyết trung ương chuyên sâu, khẳng định tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu, nội dung xuyên suốt, đích hướng đến vì một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế.
Đại hội lần thứ XIII (năm 2021) của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người”4. Một trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 được Nghị quyết Đại hội XIV (năm 2026) của Đảng đã xác định: “bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân”5. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đến việc phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, bảo đảm công bằng xã hội, đây chính là sự khẳng định rất biện chứng, thống nhất giữa phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với thực hiện chính sách xã hội. Hai vấn đề đó không được tách rời, gắn kết với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ trong từng hoạt động, từng lĩnh vực. Đây cũng chỉ là sự thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, vì con người của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phân hóa thu nhập và chênh lệch vùng miền vẫn còn. Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định Nhà nước là trung tâm, hệ điều tiết quan trọng của những cơ chế, chính sách một cách hợp lý, bảo đảm phân phối công bằng, tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội không phải là bình quân cào bằng mà là bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng đối với giáo dục, y tế, việc làm, thông tin và các dịch vụ cơ bản; đồng thời khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với thực hiện trách nhiệm xã hội. Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chỉ rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội”6.
Để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh đến việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội chính là nền tảng quan trọng để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, niềm tin vào Đảng và Nhà nước được củng cố. Sự đồng thuận xã hội chính là “lá chắn mềm” vững chắc trước những âm mưu chia rẽ, kích động gây mất ổn định của các thế lực thù địch, phản động.
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho việc hoàn thiện chính sách phát triển vùng, bảo đảm phân bổ nguồn lực hợp lý; thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế; chú trọng phát triển miền núi, biên giới, hải đảo. Điều đó không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc, góp phần giữ vững và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Kết quả thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của Đảng, Nhà nước trong thời gian vừa qua
Đảng chỉ rõ: “Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Việt Nam là điểm sáng về ổn định chính trị, an ninh, an toàn và ổn định xã hội. Đảng ta đã thể hiện sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển, chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”7. Cụ thể, về kinh tế, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, thách thức song dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, điều hành Chính phủ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, duy trì ổn định các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ. Việt Nam lọt top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất thế giới, thuộc 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật về tăng trưởng và ổn định vĩ mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, thu nhập bình quân đầu người/năm ước đạt 125,5 triệu đồng/ người. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo thu hẹp.
Về xã hội, Đảng, Nhà nước ban hành nhiều nghị quyết để thực hiện chính sách xã hội về giáo dục (Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tao), văn hóa (Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam), y tế (Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân… Qua đó, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, xây dựng môi trường trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển, tạo nguồn lực phong phú, đa dạng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường và giữ vững thông qua thực hiện những cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với từng giai cấp trong xã hội; đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới hệ thống y tế dự phòng, trường học được xây dựng, đầu tư mới đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân.
Đảng, Nhà nước luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế, tạo ra những lợi thế mới cho đất nước để nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước đã đánh thức, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh, tinh thần, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng cho từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội còn một số hạn chế, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn tồn tại điểm nghẽn, nút thắt. Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”.
4. Nội dung, biện pháp thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
Một là, gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội.
Văn kiện Đại hội XIV xác định mục tiêu phát triển kinh tế phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Thành quả tăng trưởng kinh tế phải được phân phối hợp lý, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng, đặc biệt là người nghèo, người yếu thế và các vùng còn khó khan. Chính vì vậy, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đến yêu cầu, nhiệm vụ lồng ghép mục tiêu công bằng xã hội trong tất cả các chính sách từ kinh tế, đầu tư, tài chính, tiền lương đến phát triển vùng và ngành; trong đó Nhà nước giữ vai trò điều tiết, bảo đảm phân phối hợp lý giữa các khu vực, tầng lớp dân cư.
Để gắn kết chặt chẽ, bền vững giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, Đại hội XIV xác định những nội dung, biện pháp trọng tâm, chủ yếu là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa, thuế, tiền lương và phúc lợi xã hội hợp lý nhằm phân phối lại thu nhập, giảm bất bình đẳng xã hội. Đẩy mạnh các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đầu tư phát triển giáo dục, y tế, nhà ở xã hội, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ cơ bản với chất lượng ngày càng cao.
Phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, mở rộng thị trường lao động. Đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động, tạo việc làm ổn định cho người dân. Nhà nước tăng cường quản lý, giám sát việc thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm công bằng, minh bạch.
Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng trong thực hiện an sinh xã hội. Gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội là yêu cầu có tính chiến lược và lâu dài. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố ổn định chính trị – xã hội, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Hai là, tăng cường chính sách giảm nghèo bền vững, thu hẹp chênh lệch vùng, miền.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định giảm nghèo bền vững và thu hẹp chênh lệch vùng, miền là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài. Việc thực hiện hiệu quả các chính sách này không chỉ giúp nâng cao đời sống Nhân dân mà còn góp phần củng cố ổn định xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước, được thực hiện đồng bộ với quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Giảm nghèo không chỉ nhằm nâng cao thu nhập mà còn phải bảo đảm cho người dân được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và việc làm. Do đó, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, cần đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo. Đây là những khu vực còn nhiều khó khăn, trình độ phát triển thấp cần được ưu tiên đầu tư để phát triển toàn diện.
Đại hội XIV nhấn mạnh việc thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều, không chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập mà còn xem xét khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này giúp giải quyết tận gốc nguyên nhân của nghèo đói, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân một cách toàn diện. Đồng thời, chú trọng hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững, nâng cao năng lực tự vươn lên, hạn chế tình trạng tái nghèo. Vì thế cần tập trung nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội ở các vùng khó khăn về giao thông, điện, nước, trường học, cơ sở y tế.
Việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng giúp tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, nâng cao đời sống Nhân dân; khuyến khích phát triển các ngành kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, phát huy lợi thế địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư cho các vùng khó khăn, bảo đảm phân bổ nguồn lực công bằng, hợp lý giữa các vùng, miền. Điều này góp phần tạo sự phát triển cân đối và hài hòa trên phạm vi cả nước.
Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng và thực hiện các chương trình giảm nghèo. Đồng thời, phát huy vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội ở vùng khó khăn. Thực hiện tốt những nội dung, biện pháp nêu trên trực tiếp góp phần: Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý trên cơ sở hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Khuyến khích các mô hình, cách làm sáng tạo trong quản trị phát triển cộng đồng bền vững”9.
Ba là, phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội , bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là cơ chế quan trọng để bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Đây không chỉ là yêu cầu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn là điều kiện bảo đảm các chính sách phát triển được thực hiện công bằng, hiệu quả, vì lợi ích của Nhân dân.
Việc phát huy vai trò của Nhân dân sẽ góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội là điều kiện quan trọng để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Thông qua hoạt động giám sát, Nhân dân có thể theo dõi việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là các chính sách liên quan đến an sinh xã hội, giảm nghèo, giáo dục, y tế và phân phối nguồn lực. Khi Nhân dân tham gia giám sát, các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức phải thực hiện đúng chủ trương, chính sách, bảo đảm công bằng, minh bạch, hạn chế tình trạng tiêu cực, tham nhũng và lợi ích nhóm.
Phản biện xã hội giúp Nhân dân đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách. Những ý kiến từ thực tiễn cuộc sống sẽ góp phần bảo đảm các chính sách phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng lợi ích chính đáng của Nhân dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội một cách thực chất. Nhân dân có thể tham gia giám sát việc thực hiện các chương trình giảm nghèo, hỗ trợ người có công, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách phát triển vùng khó khăn. Qua đó, phát hiện những hạn chế, bất cập hoặc sai phạm trong quá trình thực hiện, góp phần bảo đảm các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân.
Khi Nhân dân tham gia giám sát, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, hạn chế các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm các chính sách phát triển kinh tế – xã hội được thực hiện công bằng, vì lợi ích của Nhân dân. Đồng thời, phản biện xã hội giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhận được những ý kiến đóng góp xác đáng từ thực tiễn, từ đó điều chỉnh, hoàn thiện chính sách theo hướng bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.
Cần tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước; cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tạo điều kiện để Nhân dân tiếp cận thông tin, tham gia góp ý và giám sát. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tôn trọng Nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
Bốn là, xây dựng môi trường xã hội kỷ cương, an toàn, lành mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thực thi pháp luật.
Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ, tiến bộ, công bằng xã hội không chỉ được thể hiện ở việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân mà còn ở việc xây dựng một xã hội ổn định, có trật tự, kỷ cương, mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Môi trường xã hội lành mạnh chính là nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát triển toàn diện và thụ hưởng công bằng các thành quả phát triển.
Xây dựng môi trường xã hội kỷ cương, an toàn, lành mạnh góp phần tạo nền tảng ổn định cho sự phát triển bền vững. Một xã hội có kỷ cương, pháp luật được tôn trọng và thực thi nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự, ổn định, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực và bất công xã hội. Điều này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhất là những nhóm yếu thế như: người nghèo, người lao động, phụ nữ, trẻ em và người có hoàn cảnh khó khăn.
Khi pháp luật được thực thi công bằng, không có sự phân biệt đối xử, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, từ đó góp phần thực hiện công bằng xã hội một cách thực chất. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước là yếu tố quan trọng để bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật, chính sách xã hội, bảo đảm sự công bằng trong phân phối các nguồn lực và cơ hội phát triển.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thực tiễn; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Tăng cường thực thi pháp luật nghiêm minh, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý công bằng, đúng quy định. Việc thực thi pháp luật nghiêm túc không chỉ góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội mà còn bảo vệ các giá trị công bằng, bình đẳng trong xã hội.
5. Kết luận
Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng của sự nghiệp phát triển đất nước. Thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm mọi người đều được thụ hưởng thành quả phát triển. Đây là nền tảng vững chắc để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Khi các vấn đề xã hội được giải quyết hài hòa, sẽ hạn chế những bất bình đẳng, mâu thuẫn và nguy cơ bất ổn trong xã hội. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững. Đồng thời, tiến bộ và công bằng xã hội còn là thước đo bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, bảo đảm công bằng trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển. Phát huy vai trò của Nhà nước và nhân dân trong thực hiện các chính sách xã hội. Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội hài hòa, bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh còn gắn liền với việc phát triển các giá trị văn hóa, đạo đức và lối sống tốt đẹp.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trách nhiệm xã hội và ý thức công dân. Môi trường văn hóa lành mạnh sẽ góp phần hình thành các chuẩn mực xã hội tích cực, hạn chế các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội.
Chú thích:
1. Phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” của Đại hội là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/phuong-cham-doan-ket-dan-chu-ky-cuong-dot-pha-phat-trien-cua-dai-hoi-la-loi-hieu-trieu-la-menh-lenh-cua-trach-nhiem-truoc-lich-su/
2. Tô Lâm (2026). Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tien-len-toan-thang-at-ve-ta-
3. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 21.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.147-148.
5, 7, 8, 9. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/07/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang/
6. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/08/nghi-quyet-so-79-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc/



