Some theoretical perspectives on institutions for promoting big data development
ThS. Trịnh Huy Hồng
Đại học Bách khoa Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Sự phát triển của nền kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc cách thức tạo lập, phân bổ và khai thác các nguồn lực phát triển. Trong quá trình đó, dữ liệu lớn (big Data) không còn chỉ là sản phẩm phát sinh từ hoạt động số hóa, mà ngày càng trở thành một nguồn lực chiến lược, có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, quản trị và đổi mới sáng tạo. Bài viết tập trung làm rõ khái niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn, nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế nhằm khơi thông nguồn lực dữ liệu, bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu và thúc đẩy phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Dữ liệu lớn; thể chế; kinh tế số; chuyển đổi số; chủ quyền số; an ninh dữ liệu.
Abstract: The development of the digital economy is profoundly transforming the ways in which development resources are created, allocated, and exploited. In this process, big data is no longer merely a by-product of digitalization activities, but is increasingly becoming a strategic resource capable of directly participating in production, governance, and innovation processes. This transformation requires a more comprehensive understanding of the role of institutions in the creation, management, exploitation, and protection of big data. On that basis, the article focuses on clarifying the concept, content, and factors affecting the effectiveness of institutions for promoting big data development. It thereby emphasizes the need to improve these institutions in order to unlock data resources, safeguard digital sovereignty and data security, and promote national development in the new period.
Keywords: Big data; institutions; digital economy; digital transformation; digital sovereignty; data security
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi sâu sắc nền tảng kỹ thuật, phương thức tổ chức sản xuất và cơ chế vận hành của đời sống kinh tế – xã hội hiện đại. Trong tiến trình đó, dữ liệu lớn không còn là một hiện tượng kỹ thuật gắn với sự gia tăng về quy mô, tốc độ và tính đa dạng của dữ liệu, mà ngày càng trở thành biểu hiện tập trung của lực lượng sản xuất số. Sự hội tụ giữa công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, điện toán đám mây và các nền tảng số đã làm cho dữ liệu được tạo lập, thu thập, xử lý, kết nối và khai thác với quy mô chưa từng có. Từ chỗ chủ yếu được xem như sản phẩm phụ của hoạt động quản lý, giao dịch và tương tác xã hội, dữ liệu đang chuyển hóa thành một nguồn lực phát triển mới, một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của nền kinh tế số. Dữ liệu không trực tiếp thay thế lao động con người, nhưng có khả năng hỗ trợ, mở rộng và nâng cao năng lực của lao động; qua đó góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tái cấu trúc phương thức sản xuất hiện đại.
Dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự phát triển của dữ liệu lớn trong điều kiện kinh tế số phản ánh một bước vận động mới của lực lượng sản xuất hiện đại. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng, các quan hệ kinh tế – xã hội gắn với việc tạo lập, sở hữu, kiểm soát, chia sẻ, khai thác, bảo vệ và phân phối lợi ích từ dữ liệu cũng tất yếu biến đổi, đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng cho phù hợp. Vì vậy, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn không thể chỉ được hiểu là những quy định kỹ thuật về quản lý dữ liệu, mà cần được nhận thức như hệ thống quan điểm, nguyên tắc, chính sách, cơ chế và thiết chế nhằm xác lập “luật chơi” cho toàn bộ quá trình hình thành, lưu thông, chia sẻ, bảo vệ, khai thác và phân phối giá trị từ dữ liệu. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, việc nghiên cứu và hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần khơi thông nguồn lực dữ liệu, khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, cát cứ, lãng phí hoặc lạm dụng, đồng thời tạo điều kiện để dữ liệu trở thành động lực thực sự cho phát triển đất nước.
2. Cơ sở lý luận về thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn
Thể chế là phạm trù được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, song về cơ bản đều xuất phát từ nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Khi các quan hệ xã hội ngày càng phát triển, đa dạng và phức tạp, con người cần xác lập những nguyên tắc, chuẩn mực và cách thức vận hành chung để định hướng hành vi, điều chỉnh lợi ích, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho phát triển. Vì vậy, thể chế không phải là sự áp đặt tùy ý, mà là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định. Trong kinh tế học thể chế, thể chế thường được xem là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực và cơ chế định hình hành vi của các chủ thể trong đời sống kinh tế, xã hội. Tiêu biểu là quan điểm của Douglass North (1991)1, coi thể chế là mối quan hệ ràng buộc của xã hội, bao gồm cả các quy tắc chính thức như hiến pháp, pháp luật, chính sách, hợp đồng và các quy tắc phi chính thức như tập quán, đạo đức, niềm tin, văn hóa. Các quy tắc này góp phần giảm thiểu các bất ổn, từ đó định hướng tương tác xã hội và tạo lập khuôn khổ cho các hoạt động phát triển.
Từ góc nhìn của chủ nghĩa Mác – Lênin, thể chế có thể được xem là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được hình thành trên cơ sở những quan hệ sản xuất nhất định và xét đến cùng chịu sự quy định của trình độ phát triển lực lượng sản xuất. Chính vì thế, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn cần được nhận thức trong mối quan hệ với sự xuất hiện của dữ liệu lớn như một yếu tố mới của lực lượng sản xuất số. Trong điều kiện kinh tế số, dữ liệu lớn không chỉ là kết quả phụ của hoạt động quản lý, sản xuất, tiêu dùng và giao tiếp xã hội, mà ngày càng trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng. Dữ liệu lớn không tự thân tạo ra giá trị, nhưng khi được kết hợp với lao động sống của con người, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số và năng lực tổ chức quản trị hiện đại, nó có thể hỗ trợ quá trình ra quyết định, tối ưu hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong tiến trình phát triển, dữ liệu lớn làm nảy sinh nhiều quan hệ kinh tế – xã hội mới mà các khuôn khổ thể chế truyền thống chưa bao quát đầy đủ. Đó là các quan hệ về tạo lập, thu thập, lưu trữ, xử lý, kiểm soát, chia sẻ, khai thác, thương mại hóa và phân phối lợi ích từ dữ liệu. Một tập dữ liệu có thể do cá nhân tạo ra, doanh nghiệp thu thập, nền tảng số xử lý, Nhà nước quản lý và nhiều chủ thể khác cùng tham gia khai thác. Chính tính liên chủ thể đó làm cho vấn đề quyền đối với dữ liệu, trách nhiệm quản trị dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh dữ liệu, cạnh tranh dữ liệu và phân phối giá trị dữ liệu trở nên phức tạp hơn so với các loại tài sản truyền thống. Điều này dẫn đến xu hướng, khi lực lượng sản xuất đang có những bước phát triển mới, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, trong đó có thể chế, cũng phải được điều chỉnh tương ứng.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn không thể chỉ được hiểu là hệ thống quy định kỹ thuật về quản lý dữ liệu đơn thuần. Đồng thời, về mặt nội hàm khái niệm, thể chế này vẫn cần phản ánh được ba phương diện cơ bản đó là: “luật chơi”, tức hệ thống quan điểm, chủ trương, pháp luật, chính sách, tiêu chuẩn và quy định về dữ liệu; “người chơi”, tức các chủ thể trong hệ sinh thái dữ liệu như Nhà nước, doanh nghiệp, người dân, tổ chức khoa học – công nghệ, nền tảng số và cộng đồng xã hội; và “cách chơi”, tức cơ chế tổ chức thực hiện, phối hợp, giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm và phân phối lợi ích trong quá trình phát triển dữ liệu lớn.
Trong điều kiện Việt Nam, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, chủ quyền số, an ninh dữ liệu và quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đồng thời, thể chế này phải trở thành công cụ điều chỉnh các quan hệ sản xuất mới phát sinh trong quá trình phát triển dữ liệu lớn, qua đó, khơi thông nguồn lực dữ liệu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số.
Từ đó, có thể hiểu, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn ở Việt Nam là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách, cơ chế và thiết chế của Nhà nước nhằm định hướng, điều chỉnh và tổ chức quá trình tạo lập, thu thập, quản lý, chia sẻ, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phân phối lợi ích từ dữ liệu lớn; qua đó, khơi thông nguồn lực dữ liệu, bảo đảm dữ liệu lớn trở thành động lực nội sinh cho phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động xã hội và phục vụ mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Nội dung của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn
Từ cách hiểu trên, có thể thấy thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn là một chỉnh thể thống nhất, vừa định hướng, vừa điều chỉnh toàn bộ quá trình hình thành, vận động và khai thác giá trị của dữ liệu lớn. Vì thế nội dung của thể chế này cần phải được tiếp cận thông qua những phương diện cơ bản gắn với quá trình tạo lập, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu lớn cũng như hoạt động lưu trữ, bảo vệ và bảo đảm chất lượng của dữ liệu trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ nhất, thể chế về hình thành, khai thác và sử dụng dữ liệu lớn.
Đây là nhóm nội dung hướng tới mục tiêu khơi thông nguồn lực dữ liệu, làm cho dữ liệu từ trạng thái phân tán, cục bộ, rời rạc trở thành nguồn lực có khả năng phục vụ quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó, thể chế về tạo lập và hình thành nguồn dữ liệu giữ vai trò khởi điểm, với các quy định cụ thể về thu thập dữ liệu; số hóa hồ sơ, tài liệu, các quy trình quản lý truyền thống; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu địa phương và cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp.
Tiếp đó, thể chế về khai thác dữ liệu giữ vai trò làm cho dữ liệu được lưu thông và chuyển hóa thành thông tin, tri thức, công cụ hỗ trợ ra quyết định. Vì dữ liệu lớn thường do nhiều chủ thể cùng tạo ra, nắm giữ và xử lý nên nếu thiếu quy định về quyền tiếp cận, nghĩa vụ chia sẻ, cơ chế kết nối, liên thông, xử lý và phân tích dữ liệu thì dữ liệu sẽ bị chia cắt, cát cứ, không phát huy được giá trị. Do đó, nội dung này tất yếu phải bao gồm các quy định về chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, giữa khu vực công và khu vực tư, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp; cơ chế tiếp cận dữ liệu; khung pháp lý cho xử lý, phân tích, tích hợp, thương mại hóa và cung cấp dịch vụ dữ liệu. Sau cùng, thể chế về sử dụng dữ liệu hướng tới việc đưa kết quả khai thác dữ liệu vào thực tiễn quản lý, sản xuất và đời sống xã hội.
Thứ hai, thể chế về lưu trữ, bảo vệ và bảo đảm chất lượng dữ liệu lớn.
Với tư cách là một nguồn lực phát triển, dữ liệu lớn chỉ có thể phát huy vai trò khi đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: có nơi tồn tại bền vững, được bảo vệ trước các rủi ro và đạt chất lượng cần thiết cho quá trình ra quyết định. Vì thế trong nội dung thể chế cần bao trùm trên cả ba bộ phận là lưu trữ, bảo vệ và bảo đảm chất lượng dữ liệu.
Dữ liệu lớn có quy mô lớn, tốc độ tăng nhanh, định dạng đa dạng và nhu cầu truy cập thường xuyên, do đó không thể được quản lý bằng các phương thức lưu trữ phân tán, thủ công hoặc thiếu tiêu chuẩn. Vì vậy, thể chế về lưu trữ dữ liệu phải tất yếu bao trùm được các chính sách phát triển trung tâm dữ liệu; phát triển hệ thống điện toán đám mây, hạ tầng kết nối, nền tảng lưu trữ; cũng như chỉ rõ tiêu chuẩn kiến trúc dữ liệu, định dạng dữ liệu, phân loại dữ liệu, mã định danh và quản lý vòng đời dữ liệu từ khi hình thành, cập nhật, lưu trữ, khai thác đến khi hủy bỏ.
Tiếp đó, thể chế về bảo vệ và bảo mật dữ liệu giữ vai trò kiểm soát rủi ro trong quá trình vận động của dữ liệu. Khi dữ liệu được thu thập, chia sẻ và khai thác ngày càng rộng rãi, nguy cơ lộ lọt dữ liệu, xâm phạm quyền riêng tư, lạm dụng dữ liệu, tấn công mạng, độc quyền dữ liệu hoặc sử dụng dữ liệu trái pháp luật cũng gia tăng. Do đó, thể chế bảo vệ dữ liệu phải bao gồm các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, phân quyền truy cập, mã hóa, giám sát, ứng phó sự cố và xử lý vi phạm. Sau cùng, thể chế về bảo đảm chất lượng dữ liệu giữ vai trò kiểm định giá trị nội tại của dữ liệu. Dữ liệu chỉ có ý nghĩa đối với quản trị, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo khi bảo đảm độ chính xác, đầy đủ, nhất quán, kịp thời, có khả năng kiểm chứng và phù hợp với mục đích sử dụng. Nếu dữ liệu sai lệch, thiếu cập nhật, không được chuẩn hóa hoặc không tương thích giữa các hệ thống, thì các quyết định dựa trên dữ liệu có thể dẫn đến sai lầm trong quản lý và tổn thất trong hoạt động kinh tế, xã hội.
Như vậy, hai nhóm nội dung có quan hệ biện chứng với nhau. Nhóm thể chế về hình thành, khai thác và sử dụng dữ liệu lớn hướng tới việc tạo nguồn, khơi thông dòng chảy và chuyển hóa dữ liệu thành giá trị phát triển. Nhóm thể chế về lưu trữ, bảo vệ và bảo đảm chất lượng dữ liệu lớn hướng tới việc tạo lập nền tảng tồn tại, an toàn và tin cậy cho dữ liệu trong quá trình vận động. Do đó, hai nhóm nội dung này phải được thiết kế đồng bộ, thống nhất và phù hợp với điều kiện Việt Nam, bảo đảm dữ liệu lớn vừa được khai thác rộng rãi để phục vụ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động xã hội, vừa được quản trị an toàn, minh bạch, có trách nhiệm, phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc, chủ quyền số và quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Trong bối cảnh nền kinh tế số, thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn không chỉ đơn thuần là các quy định hành chính mà đóng vai trò là cấu phần quan trọng của kiến trúc thượng tầng, có chức năng tổ chức, định hướng và điều tiết dữ liệu như một nguồn lực phát triển chiến lược.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn
Thể chế là sản phẩm của quá trình vận động xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đồng thời phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và nhu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội mới nảy sinh. Chính vì thế, hiệu quả của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn không chỉ phụ thuộc vào nội dung của các quy định pháp luật, mà còn chịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố gắn với chủ thể thể chế, điều kiện phát triển của quốc gia và mức độ hội nhập quốc tế. Các nhân tố này tác động đến hiệu quả của thể chế dữ liệu lớn một cách sâu rộng và có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định khả năng chuyển hóa dữ liệu thành nguồn lực phát triển trong nền kinh tế số.
Trước hết, hiệu quả của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn phụ thuộc trực tiếp vào các chủ thể tham gia xây dựng, thực thi và vận hành thể chế cũng như mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Trong hệ sinh thái dữ liệu, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết thông qua việc ban hành pháp luật, xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu và tổ chức cơ chế chia sẻ dữ liệu trong toàn xã hội. Trong khi đó, doanh nghiệp và các tổ chức công nghệ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo lập, khai thác và chuyển hóa dữ liệu thành giá trị kinh tế; còn các cơ sở nghiên cứu và cộng đồng khoa học góp phần phát triển tri thức và công nghệ phục vụ khai thác dữ liệu. Hiệu quả của thể chế không chỉ phụ thuộc vào từng chủ thể riêng lẻ mà còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Nếu thiếu cơ chế liên kết và chia sẻ phù hợp, dữ liệu dễ bị phân tán, cát cứ và không phát huy được giá trị trong phát triển kinh tế, xã hội.
Bên cạnh đó, năng lực phát triển tổng thể của quốc gia cũng là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của thể chế dữ liệu lớn. Trong điều kiện kinh tế số, dữ liệu lớn chỉ có thể được khai thác hiệu quả khi quốc gia có hạ tầng số, năng lực công nghệ và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thu thập, lưu trữ, xử lý và phân tích dữ liệu ở quy mô lớn. Đồng thời, trình độ quản trị quốc gia và điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia cũng tác động trực tiếp đến cách thức thiết kế và vận hành thể chế dữ liệu. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, quá trình hoàn thiện thể chế dữ liệu lớn phải gắn liền với xây dựng hạ tầng số, phát triển nguồn nhân lực số và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia nhằm bảo đảm thể chế có khả năng vận hành hiệu quả trong thực tiễn.
Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mức độ hội nhập quốc tế cũng trở thành nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn. Dữ liệu ngày càng mang tính xuyên biên giới, gắn với các chuẩn mực quốc tế về quản trị dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chia sẻ dữ liệu toàn cầu. Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để các quốc gia tiếp cận kinh nghiệm quản trị tiên tiến, tham gia vào mạng lưới dữ liệu toàn cầu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm hài hòa giữa hội nhập quốc tế với việc giữ vững chủ quyền số, an ninh dữ liệu và lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, khả năng thích ứng của hệ thống thể chế với môi trường dữ liệu toàn cầu trở thành điều kiện quan trọng quyết định hiệu quả của thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn trong giai đoạn hiện nay.
5. Một số khuyến nghị hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn
Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế về tạo lập, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu lớn theo hướng thống nhất, liên thông và lấy giá trị phát triển làm trung tâm. Nội dung đã chỉ ra rằng dữ liệu lớn chỉ có thể trở thành nguồn lực phát triển khi được tạo lập, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả, thay vì tồn tại trong trạng thái phân tán, cục bộ, rời rạc. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và tiêu chuẩn về thu thập, số hóa, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, giữa khu vực công và khu vực tư, cũng như giữa các doanh nghiệp.
Thứ hai, xây dựng đồng bộ thể chế về lưu trữ, bảo vệ, bảo mật và bảo đảm chất lượng dữ liệu lớn. Cùng với yêu cầu khai thác dữ liệu, nội dung đã nhấn mạnh rằng dữ liệu lớn chỉ có thể phát huy vai trò khi có nền tảng tồn tại bền vững, được bảo vệ an toàn và đạt chất lượng cần thiết cho quá trình ra quyết định. Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định về phát triển trung tâm dữ liệu, hạ tầng điện toán đám mây, nền tảng lưu trữ, kiến trúc dữ liệu, phân loại dữ liệu, mã định danh và quản lý vòng đời dữ liệu. Đồng thời, phải tăng cường thể chế bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, phân quyền truy cập, mã hóa, giám sát và xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, cần thiết lập các tiêu chuẩn bắt buộc về chất lượng dữ liệu như độ chính xác, đầy đủ, nhất quán, cập nhật, khả năng kiểm chứng và khả năng tương thích giữa các hệ thống.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và xã hội trong hệ sinh thái dữ liệu, đồng thời gắn phát triển dữ liệu lớn với chủ quyền số và hội nhập quốc tế. Hiệu quả của thể chế dữ liệu lớn không chỉ phụ thuộc vào quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc vào các chủ thể tham gia xây dựng, thực thi và vận hành thể chế. Do đó, cần xác lập rõ vai trò của Nhà nước với tư cách chủ thể kiến tạo, điều tiết và bảo đảm lợi ích công; vai trò của doanh nghiệp trong tạo lập, khai thác và thương mại hóa dữ liệu; vai trò của các cơ sở nghiên cứu trong phát triển tri thức, công nghệ và nhân lực dữ liệu; cũng như vai trò của người dân trong giám sát, sử dụng và bảo vệ quyền lợi liên quan đến dữ liệu. Cùng với đó, Việt Nam cần chủ động tiếp thu các chuẩn mực quốc tế về quản trị dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới, nhưng phải đặt trong nguyên tắc bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu và lợi ích quốc gia – dân tộc.
6. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, dữ liệu lớn đang trở thành nguồn lực phát triển quan trọng và là một biểu hiện mới của lực lượng sản xuất hiện đại. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội mới phát sinh trong quá trình tạo lập, khai thác, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu. Thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn vì thế không chỉ là hệ thống quy định kỹ thuật, mà còn là công cụ quan trọng để khơi thông nguồn lực dữ liệu, bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu và thúc đẩy phát triển kinh tế số. Đồng thời, hiệu quả của thể chế này còn chịu tác động của nhiều nhân tố như năng lực quốc gia, sự phối hợp giữa các chủ thể và mức độ hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển dữ liệu lớn ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy vai trò của dữ liệu như một động lực nội sinh cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và phục vụ mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chú thích:
1. North, Douglass C. (1991). Institutions. Journal of Economic Perspectives, 5 (1): 97-112.DOI: 10.1257/jep.5.1.97, p.97.
Tài liệu tham khảo:
1. Ha-Joon Chang (2011). Institutions and economic development: theory, policy and history. Journal of Institutional Economics, Volume 7, Issue 4, December 2011, pp. 473 – 498. DOI: https://doi.org/10.1017/S1744137410000378
2. North, Douglass C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge: Cambridge University Press.
3. Năng lực thể chế và cải cách hành chính công ở Việt Nam trong bối cảnh kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/09/nang-luc-the-che-va-cai-cach-hanh-chinh-cong-o-viet-nam-trong-boi-canh-ky-nguyen-moi/.
4. Những yêu cầu về hoàn thiện thể chế kinh tế nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/12/21/nhung-yeu-cau-ve-hoan-thien-the-che-kinh-te-nham-xay-dung-nen-kinh-te-thi-truong-hien-dai-hoi-nhap-quoc-te/.
5. Ngô Tuấn Nghĩa (2025). Thể chế phát triển – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.



