Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp xanh ở tỉnh An Giang

Solutions for promoting private sector development in green agriculture in An Giang Province

ThS. Lê Nhân Mỹ
Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh kinh tế xanh như hiện nay, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân rất quan trọng. Sự đóng góp của khu vực này đối với nền kinh tế ở tỉnh An Giang là rất lớn, không chỉ góp phần nâng cao giá trị GRDP mà còn giúp giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả mà khu vực này mang lại vẫn còn hạn chế do nhiều vấn đề liên quan đến chính sách thể chế chưa hoàn thiện, chiến lược chưa phù hợp, áp dụng trình độ công nghệ chưa đồng đều. Trong quá trình hướng đến nông nghiệp xanh, khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh An Giang cũng có rất nhiều cơ hội và những thách thức. Do đó, cần phải có những giải pháp thiết thực để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, ngày càng giữ vững vai trò của mình và nâng cao hiệu quả sản xuất để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển bền vững.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; tăng trưởng xanh; nông nghiệp xanh; phát triển bền vững.

Abstract: In the current context of a green economy, the role of the private sector is crucial. This sector’s contribution to An Giang province’s economy is significant, not only increasing GRDP but also creating jobs for many workers. However, alongside these achievements, there are still limitations stemming from incomplete institutional policies, ill-suited strategies, and uneven technology adoption. In the process of moving towards green agriculture, the private sector in An Giang province faces many opportunities and challenges. Therefore, practical solutions are needed to develop the private sector, ensuring it maintains its role, improves production efficiency, participates in global value chains, and achieves sustainable development.

Keywords: Private sector, green growth, green agriculture, sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, phát triển nông nghiệp xanh đã trở thành xu hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, An Giang đang tích cực thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp xanh. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực, ứng dụng khoa học – công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp xanh vẫn còn gặp nhiều khó khăn về chính sách, vốn, công nghệ và năng lực liên kết sản xuất. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp xanh ở tỉnh An Giang là cần thiết nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng của địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Các khái niệm về kinh tế tư nhân

Theo Nguyễn Đình Luận (2015)1: kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể.

Theo Vũ Đình Ánh (2019)2, khu vực kinh tế tư nhân đồng nghĩa với khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nói cách khác, khu vực kinh tế tư nhân là một nửa của nền kinh tế quốc gia và nửa kia chính là khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể (dưới dây viết tắt là khu vực kinh tế nhà nước). Chính vì vậy, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trước hết được quy định bởi bản thân khu vực kinh tế đó, đồng thời liên hệ biện chứng với vai trò của khu vực kinh tế nhà nước.

Tại Đại hội XIII của Đảng năm 2021, xác định cơ cấu các thành phần kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế.

2.2. Các khái niệm về tăng trưởng xanh, nông nghiệp xanh

(1) Tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh được định nghĩa là một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, tách rời mối quan hệ giữ tăng trưởng kinh tế gắn với suy thoái môi trường với việc tập trung vào giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển xã hội, bền vững môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu và hạn chế suy giảm đa dạng sinh học và đảm bảo cho việc tiếp cận năng lượng sạch và nước (Allen and Clouth 2012)3

Tăng trưởng xanh, theo OECD, là một cách tiếp cận mới đối với mô hình phát triển kinh tế gắn với việc thúc đẩy tính bền vững về môi trường, các bon thấp và một xã hội phát triển toàn diện. Tăng trưởng xanh quay ngược các giới hạn về tài nguyên và khủng hoảng về khí hậu thành các cơ hội phát triển kinh tế thông qua việc đầu tư vào phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội gắn với việc sử dụng ít tài nguyên hơn, thải ít chất thải hơn đối với các hoạt động kinh tế quan trọng như sản xuất thực phẩm, giao thông và vận tải, xây dựng, công nghiệp nặng, năng lượng và nước (UNEP 2014)4.

(2) Nông nghiệp xanh

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)5, nông nghiệp xanh là cách thức phát triển ngành nông nghiệp, trong đó, tối đa hóa cơ hội khai thác các nguồn tài nguyên sạch, dẫn đến một mô hình nông nghiệp tăng trưởng bền vững gắn kết hơn với bảo vệ môi trường. Nông nghiệp xanh cơ bản bảo đảm 4 nguyên tắc: sức khỏe; sinh thái; công bằng; cẩn trọng, dần trở thành hướng đi mới nhằm xây dựng một nền nông nghiệp văn minh thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nông nghiệp xanh là một hướng tiếp cận và phương pháp trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và tăng cường sức khỏe con người. Điều quan trọng trong nông nghiệp xanh là sự cân nhắc giữa sự phát triển sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Nông nghiệp xanh tập trung vào sử dụng các phương pháp canh tác thông minh, sử dụng phân bón hữu cơ, giảm sử dụng hóa chất và thuốc trừ sâu, áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước, đặc biệt là sử dụng công nghệ số để quản lý hiệu quả hơn (Nguyễn Nguyên Cự, 2024)6.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Tổng quan tình hình khu vực kinh tế tư nhân và ngành nông nghiệptỉnh An Giang giai đoạn 2020 – 2024

Trong giai đoạn 2020 – 2024, tỷ lệ đóng góp của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước vào GRDP của tỉnh luôn đạt trên 70%. Điều này cho thấy, tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Mặc dù những năm gần đây khu vực này có sụt giảm nhẹ, nhưng nhìn chung mức đóng góp vẫn khá cao.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 5 năm đạt 5,68%, tổng thu ngân sách ước đạt khoảng 113.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt trên 325.000 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 9,76%/năm, chiếm 27,19% GRDP7.

Bảng 3.1. Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo loại hình kinh tế ở tỉnh An Giang
giai đoạn 2020 – 2024

(Đơn vị: %)

Năm20202021202220232024
Doanh nghiệp Nhà nước19,0419,1720,9821,6221,62
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước75,9775,7673,3771,9471,62
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài1,321,482,072,973,44
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh An Giang

Các lĩnh vực thương mại – dịch vụ, đặc biệt là bán lẻ và du lịch nội địa, ghi nhận mức tăng trưởng mạnh. Tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân cũng dần được cải thiện, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng chung của tỉnh. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu chú trọng hơn vào chuyển đổi số, bán hàng trực tuyến và mở rộng thị trường.

Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp ngày càng lớn vào GRDP, cho thấy vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế địa phương. Đáng chú ý, xu hướng đầu tư vào các lĩnh vực chế biến nông sản, năng lượng và du lịch sinh thái ngày càng rõ rệt. Trong giai đoạn 2020-2024, nguồn vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh An Giang có sự gia tăng và thay đổi theo từng khu vực. Cụ thể, đối với khu vực ngoài Nhà nước, có sự sụt giảm từ 5.285,1 tỷ đồng xuống còn 4.959,6 tỷ đồng năm 2021 và 4.890,8 tỷ đồng năm 2022. Có thể trong giai đoạn này, nền kinh tế đang trải qua thời kỳ khó khăn khi phải đối mặt với dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, đến năm 2023 và 2024, số vốn đầu tư của khu vực này đã tăng đáng kể lên 5.892,9 tỷ đồng và 6.484 tỷ đồng (Bảng 3.2)8.

Bảng 3.2. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá so sánh 2010 phân theo nguồn vốn ở tỉnh An Giang
giai đoạn 2020 – 2024

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm20202021202220232024
Vốn khu vực Nhà nước5285,14959,64890,85892,96484,0
Vốn khu vực ngoài Nhà nước8266,06224,27204,65486,56610,0
Vốn khu vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài195,3173,0161,4112,099,0
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh An Giang

Trong năm 2025, tỉnh cấp mới quyết định chủ trương đầu tư/giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 32 dự án, với tổng vốn đăng ký 130.059 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2025, lũy kế toàn tỉnh đã cấp chủ trương đầu tư cho 1.548 dự án, với diện tích 38.233 ha và tổng vốn đăng ký 615.673 tỷ đồng9.

Trong bức tranh phát triển kinh tế của tỉnh An Giang những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng. Giai đoạn 2020 – 2024 chứng kiến nhiều biến động, đặc biệt là cú sốc từ đại dịch Covid-19, nhưng cũng là thời kỳ phục hồi mạnh mẽ và tái cấu trúc của khu vực này.

Năm 2021 được xem là thời điểm khó khăn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân tại An Giang. Dưới tác động của giãn cách xã hội kéo dài, hoạt động sản xuất – kinh doanh bị gián đoạn, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, khiến số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng lên. Toàn tỉnh chỉ duy trì khoảng 4.300 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó số công ty tư nhân giảm nhẹ so với trước đây (Bảng 3.3)10. Nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ phải đóng cửa hoặc chuyển đổi ngành nghề để tồn tại.

Bảng 3.3. Số doanh nghiệp hoạt động ở tỉnh An Giang giai đoạn 2020 – 2023

Năm2020202120222023
Doanh nghiệp Nhà nước11111111
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước3.8954.2884.5244.637
Tư nhân905879854822
Công ty TNHH2.7403.2013.4263.585
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài12151718
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh An Giang.

Bước sang năm 2022, khi các biện pháp phòng dịch được nới lỏng, nền kinh tế mở cửa trở lại, khu vực kinh tế tư nhân nhanh chóng phục hồi. Số doanh nghiệp tăng từ 4.288 lên 4.524, trong đó số doanh nghiệp thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn tăng đáng kể từ 3.201 lên 3.426 (Bảng 3.3). Đà phục hồi tiếp tục được duy trì trong năm 2023 và 2024.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã tham gia vào chuỗi giá trị, đặc biệt là chế biến gạo và thủy sản – những thế mạnh truyền thống của An Giang. Ở khu vực dịch vụ, các điểm du lịch như Châu Đốc hay Núi Cấm thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch.

3.2. Thực trạng ngành nông nghiệp ở tỉnh An Giang giai đoạn 2020 – 2024

Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh An Giang, nông nghiệp luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là ngành sản xuất chủ lực mà còn là ngành cốt lõi của nền kinh tế trong những giai đoạn khó khăn. Từ năm 2021 đến 2024, ngành Nông nghiệp An Giang trải qua nhiều biến động, song vẫn duy trì tăng trưởng ổn định và từng bước chuyển đổi theo hướng hiện đại, bền vững. Cụ thể, trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ rất cao, luôn đạt trên 35% (Bảng 3.4)11.

Bảng 3.4. Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn một số ngành theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế ở tỉnh An Giang
giai đoạn 2020 – 2024

(Đơn vị: %)

Năm20202021202220232024
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản35,9136,6535,1035,2535,60
Công nghiệp chế biến, chế tạo8,58,59,099,239,49
Xây dựng3,723,673,753,723,72
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh An Giang

Theo công bố của Cục Thống kê, ước tính tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 của tỉnh An Giang đạt 8,39%, đứng thứ 1 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và thứ 14 cả nước; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,53%, hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết do Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra12. Điều này cũng cho thấy, vị thế của tỉnh trong khu vực: tỉnh là một trong những địa phương sản xuất nông nghiệp trọng điểm của vùng.

Đến năm 2025, nông nghiệp của tỉnh An Giang cơ bản phát triển theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và các tiêu chuẩn thị trường quốc tế đối với các mặt hàng chủ lực của tỉnh. Cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc bảo đảm tính minh bạch và chất lượng sản phẩm. Tỷ lệ sản lượng sản phẩm trồng trọt, thủy sản nuôi trồng được cấp chứng nhận sản xuất bền vững trên 20%.

Trong giai đoạn 2020-2024, số lao động trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số, khoảng 25-30% qua các năm. Tuy nhiên, qua các năm, tỷ lệ này có xu hướng suy giảm, có thể do số lượng lao động thay đổi hoặc dịch chuyển sang các lĩnh vực khác. Cụ thể, trong năm 2024, số lao động đã giảm còn 227.147 người, so với năm trước là 238.549 người (Bảng 3.5)13. Điều này cho thấy, xu hướng việc làm cũng đã ảnh hưởng đến lao động trong các ngành trên địa bàn tỉnh.

Bảng 3.5 Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc một số ngành ở tỉnh An Giang giai đoạn 2020-2024

(Đơn vị: Người)

Năm20202021202220232024
Tổng số962.359883.741902.817900.125900.664
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản299.780263.242249.629238.549227.147
Công nghiệp chế biến, chế tạo130.192108.317121.322127.245129.953
Xây dựng105.34596.81595.75888.90788.500
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh An Giang

Theo Cục Thống kê tỉnh An Giang, năm 2024 ước tính Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,57%, giảm 0,01% so với cùng kỳ năm 202314. Thị trường lao động chưa thật sự ổn định; người lao động có trình độ, kỹ năng nghề hạn chế; nguồn nhân lực có kỹ năng nghề chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường lao động, nên công tác tuyển dụng của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

3.3. Thực trạng phát triển nông nghiệp xanh ở tỉnh An Giang

Có thể nhận thấy, trong thời gian qua, tỉnh An Giang cũng đã đưa ra nhiều phương án để xây dựng ngành nông nghiệp theo hướng xanh, gắn với việc bảo vệ môi trường và nhằm nâng cao giá trị nông sản trên địa bàn và trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững. An Giang đã và đang đẩy mạnh thực hiện nhiều giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp và triển khai có hiệu quả Đề án Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.

Hiện tại, tỉnh cũng đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu ở nông thôn, triển khai nhiều giải pháp canh tác nông nghiệp theo hướng phù hợp chẳng hạn như: Canh tác lúa thông minh thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay, sử dụng các loại phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, … Đặc biệt, trong giai đoạn 2020-2025 tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đã đạt 131.603 tỷ động, tăng trưởng 3,35%/năm (vượt so với nghị quyết đề ra là 2.8%/năm). Diện tích sử dụng giống lúa đạt khoảng 90%, vượt chỉ tiêu 85%; diện tích áp dụng mô hình “1 phải, 5 giảm” đạt 54,9%, vượt mục tiêu đề ra là 50%. Bên cạnh đó, tỉnh có 210 sản phẩm được công nhận là sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, do 140 chủ thể kinh tế sản xuất15.

Trong số các doanh nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân cũng chú trọng đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển bền vững. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 233 hợp tác xã và 2 liên hiệp hợp tác xã hoạt động, trong đó có 83 hợp tác xã liên kết với gần 40 doanh nghiệp, 36 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao và 20 hợp tác xã ứng dụng chuyển đổi số16.

Năm 2025, sau khi sáp nhập với tỉnh Kiên Giang, ngành Nông nghiệp và môi trường trên địa bàn sẽ có vai trò lớn trong việc tiên phong tái cơ cấu không gian phát triển nông nghiệp, khai thác hiệu quả các thế mạnh mới của tỉnh. Trong đó, tập trung phát huy lợi thế vùng ngọt – lợ, vùng nuôi biển – rừng ngập mặn của khu vực Hà Tiên – Kiên Lương – U Minh Thượng; kết hợp chặt chẽ với vùng lúa – cá, nếp – cây ăn trái, rau màu công nghệ cao của các vùng Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Chợ Mới. Điều đặc biệt là việc xác định phát triển nông nghiệp xanh gắn với bảo vệ môi trường là yêu cầu chiến lược.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, tỉnh cần xây dựng các chính sách ưu đãi riêng cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp xanh. Chẳng hạn, có thể ưu đãi, hỗ trợ miễn giảm thuế đối với các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới thành lập, hỗ trợ chi phí chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ; đồng thời cũng cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng nhằm thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này hơn.

Thứ hai, cần có các gói tín dụng hỗ trợ với mức lãi suất ưu đãi, đồng thời thành lập quỹ hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Khuyến khích các ngân hàng thương mại tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường.

Thứ ba, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong quá trình vận hành sản xuất của ngành nông nghiệp. Nông nghiệp xanh không thể phát triển nếu thiếu công nghệ, vì thế, cần khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp (chẳng hạn như hệ thống tưới tiêu tiết kiệm, sử dụng cảm biến, …), phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc rõ ràng, mã QR cho sản phẩm để nhận dạng sản phẩm đạt chất lượng. Bên cạnh đó, cần ứng dụng các phần mềm quản lý công nghệ và thương mại điện tử trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ nông sản.

Thứ tư, cần xây dựng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – hộ nông dân, từ đó phát triển chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các khâu chế biến đạt tiêu chuẩn chất lượng cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, cần tập trung vào một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như lúa gạo, trồng trọt và thủy sản theo hướng xanh và bền vững.

Thứ năm, cần phát triển thị trường đa dạng và xây dựng thương hiệu nông sản xanh. Các doanh nghiệp chưa đủ giá trị thương hiệu nên việc tiếp cận khách hàng khá khó khăn; đặc biệt, việc xây dựng thương hiệu cho các nông sản sạch, hữu cơ là điều rất cần thiết. Mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước có tiêu chuẩn cao như EU, Nhật Bản,… tăng cường xúc tiến giao thương trong và ngoài nước. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp xây dựng niềm tin với đối tác và khách hàng.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực đã qua đào tạo về chuyên môn, kỹ năng và kỹ thuật sản xuất. Thu hút lao động trẻ tham gia vào quá trình khởi nghiệp nông nghiệp xanh; hợp tác với các trường cao đẳng, đại học và các viện nghiên cứu để góp phần chuyển giao công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình hướng tới sản xuất nông nghiệp xanh.

Thứ bảy, tăng cường bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, các doanh nghiệp cần giảm bớt việc sử dụng phân bón hóa học và các loại thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời khuyến khích mô hình nông nghiệp tuần hoàn và quản lý nguồn tài nguyên hiệu quả.

Thứ tám, sau khi sáp nhập tỉnh thì việc kết nối giao thương qua lại trong khu vực là điều cần phải thực hiện sớm, do đó, tỉnh cần triển khai phát triển cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho nông nghiệp xanh, ví dụ như hệ thống thuỷ lợi thông minh, các tuyến đường giao thông khu vực nông thôn cần bảo đảm quá trình vận chuyển không gặp quá nhiều trở ngại. Đồng thời, cũng cần đầu tư vào kho lạnh, trung tâm bảo quản, chế biến và các cơ sở kiểm định chất lượng.

5. Kết luận

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với nông nghiệp xanh tại tỉnh An Giang là hướng đi tất yếu nhằm nâng cao giá trị gia tăng và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt. Khu vực tư nhân, với tính năng động và linh hoạt, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả lâu dài, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ phía Nhà nước về cơ chế, vốn và hạ tầng. Đồng thời, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường liên kết sản xuất cũng là yếu tố then chốt. Khi các giải pháp được triển khai hiệu quả, kinh tế tư nhân sẽ trở thành động lực chính thúc đẩy nông nghiệp xanh phát triển. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và ổn định kinh tế địa phương. Đây cũng là nền tảng để An Giang hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường và hội nhập sâu rộng.

Chú thích:
1. Nguyễn Đình Luận (2015). Vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 25 (35), 12/2015, tr. 25.
2. Vũ Đình Ánh (2019). Khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. https://tapchinganhang.gov.vn/khu-vuc-kinh-te-tu-nhan-trong-nen-kinh-te-thi-truong-viet-nam-7161.html
3. Allen, C., & Clouth, S. (2012). Green economy, green growth, and low-carbon development – history, definitions and a guide to recent publications. UNDESA: A guidebook to the Green Economy. https://sdgs.un.org/publications/guidebook-green-economy-issue-1-green-economy-green-growth-and-low-carbon-development
4. UNEP (2014). Using Indicators for Green Economy Policymaking. https://wedocs.unep.org/rest/api/core/bitstreams/9fe90a37-b64c-436c-954c-89bbfa615435/content
5. OECD (2010). Báo cáo tạm thời về Chiến lược tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết vì một tương lai bền vững. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2010/07/interim-report-of-the-green-growth-strategy_g1g10495/9789264087736-en.pdf
6. Nguyễn Nguyên Cự (2024). Tăng trưởng nông nghiệp xanh ở Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị.Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hòa Bình, số 13/2024, tr. 7.
7. Phát triển kinh tế tư nhânđộng lực thúc đẩy An Giang phát triển mạnh mẽ, bền vững. https://angiang.gov.vn/vi/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-dong-luc-thuc-day-an-giang-phat-trien-manh-me-ben-vung
8, 10, 11, 13, 14. Cục Thống kê An Giang (2024). Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2024, tr. 176, 213, 133, 97, 104.
9, 12. An Giang: Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đứng đầu Đồng bằng sông Cửu Long. https://baochinhphu.vn/an-giang-tang-truong-kinh-te-nam-2025-dung-dau-dong-bang-song-cuu-long-102251230155018246.htm
15, 16. An Giang phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và hữu cơ. https://baoangiang.com.vn/an-giang-phat-trien-nong-nghiep-xanh-tuan-hoan-huu-co-a423327.html
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Thị Nhung, Võ Dao Chi (2013). Phát triển bền vững – lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở Nam Bộ và Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội số 1 (173)
2. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang (2024). Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp giai đoạn 2021–2024.
4. Giải pháp phát triển nông nghiệp xanh ở thành phố Hà Nội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/13/giai-phap-phat-trien-nong-nghiep-xanh-o-thanh-pho-ha-noi/