Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước

Inheriting and creatively applying Ho Chi Minh Thought in Resolution No. 79-NQ/TW on developing the state economy

ThS. Hà Thị Liên
Trường Đại học Thủy lợi

(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế quốc doanh là di sản lý luận mang tính quy luật và có ý nghĩa chiến lược quyết định đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, những giá trị cốt lõi ấy tiếp tục là kim chỉ nam soi sáng tư duy của Đảng trước những yêu cầu khách quan của thời đại. Trên cơ sở làm rõ nội dung cơ bản trong hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế quốc doanh, bài viết tập trung phân tích sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế quốc doanh trong Nghị quyết số 79-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế nhà nước.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; kinh tế quốc doanh; Nghị quyết số 79-NQ/TW; kinh tế nhà nước.

Abstract: Ho Chi Minh Thought on the state-run economy is a theoretical legacy reflecting objective laws and holding decisive strategic significance for the cause of building socialism in Vietnam. In the new era of the nation, these core values continue to act as a compass illuminating the Party’s thinking in the face of the objective requirements of the times. Based on clarifying the basic contents within Ho Chi Minh’s system of views on the state-run economy, this article focuses on analyzing the inheritance and creative development of Ho Chi Minh Thought regarding the state-run economy in Resolution No. 79-NQ/TW of the Party Central Committee on developing the state economy.

Keywords: Ho Chi Minh Thought; state-run economy; Resolution No. 79-NQ/TW; state economy.

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, kinh tế quốc doanh được Người xác định có vai trò “trụ cột” dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Kinh tế quốc doanh là của chung của nhân dân, nó là lực lượng vật chất mà Chính phủ dựa vào đó để điều tiết kinh tế, thúc đẩy kinh tế nước nhà phát triển”1. Đây là nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam giúp Đảng ta định hình vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời, đây là cơ sở cho Đảng không ngừng đổi mới về tư duy và đề ra chủ trương mang tính đột phá trong khu vực kinh tế nhà nước ở giai đoạn hiện nay. Điều này được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Văn kiện này không chỉ mang tầm chiến lược kinh tế nhà nước thuần túy, mà còn là sự kết tinh sâu sắc của quá trình kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh  trong bối cảnh đương đại, đây là chìa khóa để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế quốc doanh

Thứ nhất, kinh tế quốc doanh giữ vị trí, vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, cải tạo nền kinh tế quốc dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định kinh tế quốc doanh có vai trò đặc biệt quan trọng, là ngọn cờ định hướng phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ sớm, Người đã chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh. Người nói: “…làm cho thành phần kinh tế quốc doanh không ngừng được củng cố và phát triển, ngày càng phát huy tác dụng lãnh đạo toàn bộ kinh tế quốc dân”2, Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên”3.Thành phần kinh tế quốc doanh không tồn tại độc lập mà được Người đặt trong mối quan hệ biện chứng với toàn bộ hệ thống nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế quốc doanh đóng vai trò là hạt nhân dẫn dắt. Điều này được biểu hiện qua cơ chế điều tiết vĩ mô, phân phối năng lực sản xuất, bảo đảm, cân đối,ổn định thị trườngvà cung ứng tư liệu sản xuất cho nền kinh tế. Người yêu cầu, các xí nghiệp trung ương phải mẫu mực và có trách nhiệm “cung cấp ngày càng nhiều tư liệu sản xuất cho nông nghiệp”, thiết lập mối quan hệ liên minh công – nông bền chặt trên nền tảng vật chất kỹ thuật hiện đại. Kinh tế quốc dân  lãnh đạo các thành phần kinh tế khác bằng phương thức hỗ trợ, lan tỏa và cải tạo thông qua liên kết kinh tế. Người nói: “xí nghiệp trung ương phải giúp đỡ công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp”4. Các nhà máy cơ khí quốc doanh trung ương hỗ trợ các hợp tác xã thủ công nghiệp cải tiến công cụ, cung ứng máy móc cỡ nhỏ cho hợp tác xã nông nghiệp. Như vậy, bằng cách nắm giữ các khâu cốt lõi của chuỗi giá trị, xác lập vị trí tiên phong về sức sản xuất, kinh tế quốc doanh giữ được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, từ đó thu hút, định hướng các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư doanh tham gia một cách tự nguyện vào quỹ đạo sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa do Nhà nước điều tiết.

Thứ hai, kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân, hướng tới mục tiêu phục vụ đời sống của Nhân dân.

Kinh tế quốc doanh giữ vai trò dẫn dắt kinh tế quốc dân, thuộc sở hữu của toàn dân, do Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý vĩ mô. Với hình thức sở hữu này, phản ánh sự tiến bộ, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa khi tư liệu sản xuất chủ yếu và cốt lõi của nền kinh tế luôn bảo đảm thuộc về nhân dân. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội. Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng”5. Vấn đề này cũng được cụ thể hóa trong bản Hiến pháp. Bản chất sở hữu toàn dân đòi hỏi mọi nguồn lực vật chất do Nhà nước nắm giữ phải quay trở lại phục vụ trực tiếp cho lợi ích tối cao của quốc gia và đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân. Quán triệt mối quan hệ biện chứng đó, Người đã làm rõ mục tiêu tối thượng của kinh tế quốc doanh là phục vụ đời sống nhân dân, thông qua những nhiệm vụ kinh tế – xã hội cụ thể trong từng giai đoạn. Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải “khôi phục và phát triển dần những xí nghiệp có lợi cho quốc kế dân sinh” nhằm bảo đảm sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân, điều đó không chỉ thực hiện đối với nhân dân miền Bắc, mà còn để chi viện cho cách mạng miền Nam, Người nói: “Củng cố miền Bắc tức là giúp đỡ một cách thiết thực đồng bào miền Nam”6.

Thứ ba, phương thức quản lý xí nghiệp quốc doanh phải bảo đảm nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Để thiết lập và vận hành hiệu quả khu vực kinh tế quốc doanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu phải kết hợp biện chứng giữa đường lối chiến lược của Đảng với năng lực quản lý tập trung của bộ máy Nhà nước, phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người lao động và Nhân dân. Người chỉ rõ: Nhà nước phải quản lý các hoạt động kinh tế thông qua một kế hoạch thống nhất, nhằm khắc phục triệt để tính chất tự phát, hỗn loạn của nền sản xuất. Quá trình đó, cơ quan quyền lực Nhà nước không vận hành một cách quan liêu, mệnh lệnh mà phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của các tổ chức quần chúng như: công đoàn, hợp tác xã để xây dựng và thực thi kế hoạch kinh tế. Trong đó, Người chú trọng đến phương thức quản lý xí nghiệp quốc doanh bảo đảm nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm Thường thức chính trị (1953), Người viết:“Trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởng trưởng, công trình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân. Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân”7. Quan điểm này đã xóa bỏ khoảng cách giữa bộ máy điều hành và người sản xuất trực tiếp, thể hiện quyền làm chủ của tập thể người lao động.

Thứ tư, thực hành tiết kiệm, chống các biểu hiện tiêu cực trong khu vực kinh tế quốc doanh.

Các xí nghiệp quốc doanh là nơi tập trung nguồn lực vật chất của quốc gia, vì thế Người khẳng định: mọi hoạt động sản xuất và phân phối phải quán triệt sâu sắc tinh thần “cần kiệm xây dựng nước nhà”8. Tiết kiệm ở đây được hiểu theo nghĩa là tăng năng suất lao động, giảm định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, sức lao động và thời gian. Ngư nhận thức sâu sắc về nguy cơ đối với nền kinh tế, đó là sự suy thoái về đạo đức của bộ máy quản lý. Người vạch trần bản chất của sự yếu kém, trì trệ trong các xí nghiệp quốc doanh thường bắt nguồn từ bệnh quan liêu và tư duy xa rời quần chúng của đội ngũ lãnh đạo. Vì thế, Người yêu cầu cán bộ quản lý phải nêu gương, thực hành tiết kiệm, Người nói: “Cán bộ quản lý kinh tế phải biết tính toán cẩn thận, phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí”. Muốn thực hành tiết kiệm thì cần phải kiên quyết đấu tranh chống lãng phí, quan liêu và chủ nghĩa cá nhân, những rào cản trực tiếp triệt tiêu động lực phát triển của kinh tế quốc dân, có như vậy mới bảo vệ toàn vẹn nguồn lực vật chất của quốc gia.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong các xí nghiệp quốc doanh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa phải có công nghiệp hiện đại”9. Vì kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân, nơi tập trung những tư liệu sản xuất quan trọng và cốt lõi nhất của quốc gia, nên lực lượng này bắt buộc phải là trung tâm đầu tàu về khoa học, kỹ thuật. Việc đặt khoa học, kỹ thuật bên cạnh lực lượng sản xuất thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người, khoa học, kỹ thuật là chìa khóa để giải phóng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và làm thay đổi diện mạo nền kinh tế. Việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào các xí nghiệp quốc doanh không đơn thuần là việc trang bị máy móc mới mà là một cuộc cách mạng về tư duy; đồng thời, đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, công trình sư và công nhân phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn để làm chủ phương tiện sản xuất hiện đại. Bằng cách đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật này, kinh tế quốc doanh mới có đủ năng lực sản xuất để công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp đáp ứng phần lớn nhu cầu hàng tiêu dùng trong nước, từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường và vững bước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Nhờ có sự dẫn dắt, tiên phong của kinh tế quốc doanh, nước ta đã thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị chiến lược trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Cho đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế quốc doanh vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc được Đảng kế thừa, vận dụng sáng tạo, đặc biệt trong Nghị quyết số 79-NQ/TW.

3. Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nhà nước

Thứ nhất, tái khẳng định vị trí và mở rộng nội hàm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong bối cảnh mới.

Nghị quyết số 79-NQ/TW đã có một bước tiến quan trọng khi tái định vị vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước trong cấu trúc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự kế thừa trực tiếp quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của kinh tế quốc doanh. Sự kế thừa, vận dụng sáng tạo mang tính đột phá tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện này không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà được cụ thể hóa thành các tiêu chí hành động cốt lõi để bảo đảm vai trò chủ đạo thực chất của kinh tế nhà nước trong bối cảnh đầy biến động của thế giới và những thách thức đối với Việt Nam khi bước sang kỷ nguyên mới của dân tộc. Nghị quyết mở rộng nội hàm và phương thức phát huy vai trò chủ đạo. Nghị quyết 79-NQ/TW đã nâng tầm mở rộng khái niệm kinh tế nhà nước trong đó khẳng định bao gồm tổng thể các nguồn lực chiến lược của quốc gia từ đất đai, không gian ngầm, tài nguyên số cho đến các quỹ tài chính và doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, Nghị quyết phát triển kinh tế nhà nước không tập trung vào số lượng mà dịch chuyển mạnh mẽ sang chất lượng thông qua cơ chế dẫn dắt, mở đường. Kinh tế nhà nước  từ bỏ tư duy bao biện, ôm đồm, rút dần khỏi các lĩnh vực thuần túy thương mại để tập trung làm đối trọng trong hội nhập quốc tế, nắm giữ các khâu then chốt về quốc phòng, an ninh, và tiên phong đầu tư vào các địa bàn khó khăn mang tính chính trị, xã hội mà khu vực tư nhân không thể tiếp cận.

Thứ hai, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy dân chủ, chống tham nhũng lãng phí, quan liêu

Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện để phát huy hết vai trò của thành phần kinh tế quốc dân, Nghị quyết 79-NQ/TW đã khẳng định tầm quan trọng của việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, tăng cường công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình. Quan điểm chỉ đạo này tạo ra sự thông thoáng, giải phóng sức sản xuất và khơi thông điểm nghẽn cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, từ đó tăng khả năng thích ứng, chống chịu với sự thay đổi phức tạp của bối cảnh thế giới. Bên cạnh vai trò quản lý của Nhà nước, việc phát huy dân chủ thực chất trong khu vực kinh tế nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa bằng việc tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương trong quá trình xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế nhà nước. Đồng thời, quyền làm chủ của Nhân dân còn được hiện thực hóa trực tiếp qua việc đẩy mạnh kiểm định, đánh giá độc lập và công khai kết quả tại các đơn vị sự nghiệp công lập, tạo điều kiện tối đa để người dân trực tiếp chấm điểm chất lượng, hiệu quả và mức độ hài lòng đối với các dịch vụ công.

Tinh thần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống tiêu cực trong kinh tế quốc dân được quán triệt xuyên suốt và quyết liệt trong Nghị quyết số 79-NQ/TW. Sự chỉ đạo sâu sắc này được thể hiện đồng bộ, đi từ việc thẳng thắn nhận diện nguy cơ, sai phạm cho đến việc vạch ra các nhiệm vụ, giải pháp then chốt nhằm siết chặt kỷ cương, chú trọng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản trị và hoạt động của kinh tế nhà nước. Theo đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW nêu rõ yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực, tài nguyên của đất nước phải gắn liền với việc chống thất thoát, lãng phí để bảo đảm tính hiệu quả, công khai và minh bạch. Đặc biệt, trong công tác cán bộ, Nghị quyết 79-NQ/TW đã nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đồng thời kỷ luật nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng “thưởng phạt công minh” và là giải pháp hữu hiệu để “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những bước đi cụ thể này cho thấy, Đảng không coi chống tiêu cực là một khẩu hiệu mang tính hình thức mà đã cụ thể hóa thành các cơ chế quản trị, giám sát và chế tài xử lý nghiêm minh, từ đó bảo đảm kinh tế nhà nước luôn giữ vững bản chất là tài sản thuộc sở hữu chung của Nhân dân, đáp ứng toàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh.

Thứ ba, vận dụng sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp hiện đại, ứng dụng khoa học, công nghệ.

Từ việc xác định kinh tế quốc doanh là thành phần kinh tế đầu tàu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra yêu cầu các xí nghiệp của Nhà nước – trên cả phương diện công nghiệp và nông nghiệp phải đi tiên phong trong việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Người nhận định một cách khái quát và trực diện khi máy móc càng hiện đại thì sản xuất sẽ càng nhiều. Quán triệt và tiếp nối ngọn cờ lý luận đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã có một bước phát triển sáng tạo khi không chỉ ứng dụng đơn thuần khoa học, công nghệ vào trong phát triển kinh tế mà còn thể hiện sự vượt bậc khi đưa khoa học, công nghệ và quản trị hiện đại trở thành những yếu tố cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên số. Sự sáng tạo mang tính thời đại này thể hiện ở chỗ: không giới hạn phạm vi ứng dụng kỹ thuật ở máy móc cơ khí thuần túy, mà giao sứ mệnh cho các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại nhà nước phải trở thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt tiến trình chuyển đổi số quốc gia, làm chủ các công nghệ lõi, đồng thời đi đầu trong xây dựng mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Trong bối cảnh mới, kinh tế nhà nước không chỉ vận hành như một thực thể kinh tế đơn lẻ mà đóng vai trò là đầu tàu, trung tâm lan tỏa công nghệ, tạo ra hệ sinh thái đồng bộ để định hướng, kéo theo các thành phần kinh tế khác cùng dịch chuyển theo hướng phát triển bền vững. Đây chính là sự nâng tầm lý luận hoàn toàn mới, biến tư tưởng Hồ Chí Minh về “lực lượng tiên phong về sức sản xuất” thành năng lực tự chủ về công nghệ và tăng cường khả năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế trước những biến động phức tạp của bối cảnh thế giới. Đặc biệt, Nghị quyết số 79-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải hiện đại hóa quản trị và làm chủ công nghệ tại các lĩnh vực then chốt, chiến lược và các ngành thiết yếu nhằm đạt tới năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực và toàn cầu. Thực tiễn triển khai đã chứng minh một cách sinh động sự kết hợp biện chứng giữa tính kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giải quyết xuất sắc những yêu cầu khách quan mang tính sống còn của thời đại.

Thứ tư, phát triển kinh tế nhà nước gắn với mục tiêu lợi ích quốc gia và bảo đảm an sinh xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của nền kinh tế quốc doanh luôn mang tính nhân văn sâu sắc: thuộc sở hữu toàn dân, phụng sự quốc kế dân sinh và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết. Kế thừa nguyên lý vĩnh cửu đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã nâng tầm tư duy lý luận của Đảng khi giải quyết hài hòa, khoa học mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả kinh tế và trách nhiệm chính trị – xã hội. Sứ mệnh lịch sử của kinh tế nhà nước được định vị rõ rệt qua hai trục mục tiêu cốt lõi: lợi ích chiến lược quốc gia và bảo đảm an sinh xã hội. Về mục tiêu lợi ích chiến lược quốc gia được cụ thể hóa bằng việc định hướng tập trung các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ vào các ngành, lĩnh vực then chốt, tạo bệ đỡ vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước  chính là công cụ vật chất sắc bén, giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt để phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ giữ vững quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền độc lập, tự chủ trong bối cảnh mới. Điều này được thể hiện qua cơ chế kiểm soát và quản lý nghiêm ngặt các nguồn lực chiến lược từ đất đai, tài nguyên, không gian ngầm, hạ tầng trọng yếu cho đến dự trữ quốc gia nhằm tối ưu hóa năng lực sản xuất quốc phòng, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu cấp bách, đột xuất và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn của quốc gia cả về kinh tế lẫn quốc phòng.

Về bảo đảm an sinh, tiến bộ và công bằng xã hội được Nghị quyết hiện thực hóa sinh động khi chủ trương điều tiết, đưa nguồn lực về các vùng lõm phát triển như địa bàn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phát triển các định chế tài chính xã hội đặc thù như ngân hàng chính sách xã hội để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ giảm nghèo. Nguồn lực dự trữ quốc gia là công cụ nhân đạo khẩn cấp ứng phó thiên tai, dịch bệnh; kết hợp với hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập giữ vững chất lượng cung ứng dịch vụ công thiết yếu cho nhân dân. Như vậy, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã nâng tầm tư duy quản lý vĩ mô, sự hòa quyện giữa việc giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm an ninh quốc phòng và chăm lo đời sống Nhân dân không chỉ củng cố vững chắc thế trận lòng dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mà còn là minh chứng cho sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong thời đại mới.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế quốc doanh là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong hệ thống tư tưởng của Người về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Trải qua các giai đoạn cách mạng, những giá trị cốt lõi về bản chất sở hữu toàn dân, vai trò dẫn dắt, điều tiết vĩ mô và mục tiêu phục vụ quốc kế dân sinh của khu vực kinh tế này vẫn vẹn nguyên giá trị dẫn đường. Sự ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW là một bước tiến đột phá, đánh dấu sự hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng trong việc kế thừa và phát triển sáng tạo những tư tưởng của Người vào bối cảnh mới. Nghị quyết không chỉ tái khẳng định vững chắc vị trí, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới của dân tộc, góp phần hiện thực hoá mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chú thích:
1, 5, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 250, 266, 266.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 390.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 373.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 446.
6, 9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Toàn tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 103, 561.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 12.
Tài liệu tham khảo:
1. Phạm Ngọc Anh (2003). Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế. H. NXB Chính trị quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2020). Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Phan Ngọc Liên (2010). Hồ Chí Minh hoạt động thực tiễn và lý luận cách mạng. H. NXB Chính trị quốc gia.