Protecting the Party’s ideological foundation in the new era on the issue of religion.
TS. Hà Thị Đan
Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương
(Quanlynhanuoc.vn) – Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội có nhiều đóng góp cho đời sống. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp như hiện nay, tôn giáo đang trở thành một trong những “công cụ” mà các thế lực thù địch, phần tử cực đoan và các tổ chức phản động lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về tôn giáo không chỉ là nhiệm vụ chính trị trước mắt mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược lâu dài. Bài viết trên cơ sở nhận diện một số tổ chức, cá nhân có hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng, bước đầu đưa ra giải pháp nhằm tiếp tục khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực này.
Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; hình thái ý thức xã hội; tôn giáo; lợi dụng tôn giáo; chống phá cách mạng.
Abstract: Religion is a form of social consciousness that makes many contributions to life. However, in the context of the current complex international situation, religion is becoming one of the “tools” that hostile forces, extremist elements, and reactionary organizations exploit to undermine the Party and the State. Therefore, protecting the Party’s ideological foundation on religion is not only an immediate political task but also a long-term strategic requirement. This article, which identifies some organizations and individuals that exploit religion to undermine the revolution, initially proposes solutions to affirm further the Party and State’s guidelines, policies, and principles in this area.
Keywords: Protecting the Party’s ideological foundation; social forms of consciousness; religion; exploiting religion, against the revolution
1. Đặt vấn đề
Tôn giáo là một thành tố của kiến trúc thượng tầng. Nếu tính cả các hình thức tôn giáo sơ khai (tôn giáo nguyên thủy) có thể nói rằng: lịch sử tôn giáo đã tồn tại từ rất lâu trong đời sống xã hội loài người. Tôn giáo với những đặc điểm, tính chất và sự hiện diện của nó trong dòng chảy của lịch sử nhân loại đã có đóng góp lớn cho sự phát triển chung trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nó cũng đang trở thành một trong những nhân tố mà các thế lực thù địch, phần tử cực đoan và các tổ chức phản động lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về tôn giáo không chỉ là nhiệm vụ chính trị trước mắt mà còn là yêu cầu chiến lược lâu dài nhằm giữ vững ổn định chính trị – xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
2. Bức tranh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
2.1. Về tôn giáo
Hiện nay, “tôn giáo” tồn tại rất nhiều cách hiểu khác nhau. Ở phương Tây, “tôn giáo” bắt nguồn từ tiếng La tinh là “legere” hoặc “relegere” có nghĩa là “thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên”1. Khái niệm “tôn giáo” tại thời điểm đó thường gắn với “sự sùng bái và thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người với thần linh”2. Ở Việt Nam, “tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt. Theo PGS. Nguyễn Hồng Dương, tôn giáo được xem là : “thuộc lĩnh vực tinh thần của văn hóa được hình thành trong lịch sử. Một mặt, nó phản ánh quan niệm và cách ứng xử với lực lượng siêu nhiên mang tính thiêng liêng; mặt khác, phản ánh quan niệm và cách ứng xử về chuẩn mực luân lý, đạo đức, lối sống theo cung cách của nền văn hóa mà nó chịu sự tác động”3.
Như vậy, dù tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy điểm chung giữa học giả, nhà nghiên cứu mà chúng tôi đề cập đến ở trên là họ đều nhấn mạnh đến tính thiêng và sự kết nối giữa con người với thế giới thiêng ấy dựa trên niềm tin. Niềm tin này một khi được hình thành và nâng cao, sẽ trở thành “sức mạnh” chi phối nhiều khía cạnh của đời sống. Khi đó, một mặt nó có thể vừa là yếu tố “liên kết cộng đồng lâu bền và chặt chẽ” song mặt khác, lại dễ bị các thế lực thù địch “lợi dụng” để “phục vụ cho âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”4, nhất là đối với quốc gia có sự đa dạng về tôn giáo như Việt Nam.
2.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với đời sống tín ngưỡng – tôn giáo phong phú, mang tính dung hợp và đan xen giữa tôn giáo chính thống với tín ngưỡng dân gian truyền thống. Theo Sách trắng về Tôn giáo thì hiện nay chúng ta có khoảng 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước5. Nhà nước Việt Nam công nhận nhiều tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp. Tính đến hết ngày 31/12/2020, Việt Nam có 41 tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau; trên 58 ngàn chức sắc; 148 ngàn chức việc và gần 29,8 ngàn cơ sở tôn giáo6. Tôn giáo Việt Nam có cả tôn giáo ngoại nhập, như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Islam giáo; tôn giáo nội sinh, như: đạo Cao Đài, Hòa Hảo. Các tôn giáo cùng tồn tại và góp phần tạo nên một đời sống tôn giáo đa dạng. Sự đa dạng này không chỉ làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy giao lưu văn hóa và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn tạo nên nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông số, các vấn đề liên quan đến tôn giáo cũng có thể bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu phải phát huy các giá trị tích cực của tôn giáo, đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố khối đoàn kết giữa các tôn giáo trong đời sống xã hội.
3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo
Trong mấy chục năm qua, đặc biệt là từ Đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước luôn có quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách nhất quán trong việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; không phân biệt vùng miền. Điều đó được cụ thể hóa trong các nghị quyết của văn kiện Đảng thông qua các kỳ Đại hội, có thể kể ra một số tiêu mốc tiêu biểu:
Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị (khóa VI) đã ban hành Nghị quyết 24 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Theo đó, “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân, thực hiện đoàn kết lương giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”7.
Thực tiễn phát triển mạnh mẽ của đời sống tôn giáo ở Việt Nam đòi hỏi phải tăng cường định hướng tư tưởng và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật đã khẳng định nguyên tắc mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đồng thời, bảo đảm các quyền thực hành tôn giáo theo quy định của pháp luật. Luật này được bổ sung, hoàn thiện và chi tiết hóa thông qua Nghị định số 162/2017/NĐ-CP8.
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”9. Nghị quyết xác định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn hệ thống chính trị. Sau đó, những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 35 tiếp tục được khẳng định và phát triển trong Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021), khi Đảng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh mới.
Đại hội Đảng XIV (năm 2026), căn cứ vào tình hình quốc tế, khu vực cũng như nhằm đáp ứng bối cảnh đất nước trong kỷ nguyên vươn mình, trong phần “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam”, vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng tiếp tục được Đảng quan tâm và nhấn mạnh: “Nhận thức về vấn đề dân tộc, về vị trí và vai trò của dân tộc trong đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được bổ sung và phát triển. Xác định vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung chính sách dân tộc và cách tiếp cận xây dựng chính sách dân tộc có bước phát triển hơn so với trước, coi đây là chính sách mang tính tổng hợp – liên ngành”10. Điểm mới nổi bật nhất là sự khẳng định rõ ràng rằng tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần lâu dài của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc; đồng thời, nhấn mạnh đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc và phát huy nguồn lực tôn giáo cho phát triển đất nước. Những nội dung này phản ánh bước trưởng thành trong tư duy lý luận của Đảng về tôn giáo, phù hợp với thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam và xu thế quản trị xã hội hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay11.
Trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo song trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ hiện nay, có nhiều thế lực đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để cho rằng Việt Nam không có nhân quyền, không có tự do tôn giáo.
4. Nhận diện các tổ chức, cá nhân có hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá hiện nay
Thứ nhất, một số tổ chức quốc tế cho rằng Nhà nước Việt Nam kiểm soát hoạt động tôn giáo, hạn chế một số nhóm tôn giáo không được công nhận và xử lý các cá nhân hoạt động tôn giáo độc lập. Ngoài ra, tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) thường xuyên đưa ra các báo cáo về quyền con người tại Việt Nam, trong đó có nội dung liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các vụ xét xử cá nhân hoạt động tôn giáo hoặc dân tộc thiểu số. HRW cho rằng Việt Nam vẫn áp dụng nhiều biện pháp quản lý mang tính hạn chế đối với các nhóm tôn giáo độc lập.
Thực tế cho thấy, các báo cáo của các tổ chức nêu trên chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam, sử dụng nhiều nguồn tin một chiều từ các cá nhân và tổ chức đối lập ở nước ngoài; thiếu tính khách quan, không có cơ sở mang tính quy chụp và “đan cài các ý đồ chính trị”12.
Thứ hai, một số tổ chức thường lấy trường hợp cá nhân công dân Việt Nam vi phạm pháp luật để vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, phân biệt đối xử với người có tôn giáo. Trên thực tế, họ có hành vi hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật song lại cho rằng việc bị xử lý là do vi phạm quyền tôn giáo. Đây là một “chiến lược” kêu gọi sự ủng hộ quốc tế hoặc phía sau có tổ chức nào đó “bảo hộ”, “xúi giục” tạo áp lực chính trị lên Việt Nam và làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Theo các tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ và cơ quan chức năng Việt Nam, vài tổ chức như “Tin lành Đê-ga”, “Hà Mòn”, “Ân đàn đại đạo” và “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”13 hoặc một số nhóm tôn giáo tự phát, không được công nhận về tư cách pháp nhân, đã lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền tư tưởng ly khai, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống đối chính quyền hoặc lôi kéo người dân tham gia các hoạt động trái pháp luật.
Khi các cơ quan chức năng tiến hành xử lý theo quy định pháp luật, các đối tượng này và các tổ chức bên ngoài thường xuyên xuyên tạc bản chất vụ việc, quy kết đó là hành động “đàn áp tôn giáo”. Từ đó phát tán thông tin sai lệch trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế. Bên cạnh đó, một số đối tượng cực đoan còn “lợi dụng” những vấn đề liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự, tranh chấp dân sự hoặc hoạt động từ thiện để khoác lên “vỏ bọc tôn giáo”, kích động khiếu kiện đông người, gây mất ổn định an ninh, trật tự ở địa phương.
Trên các diễn đàn quốc tế, vụ việc thường được một số tổ chức sử dụng như minh chứng cho cáo buộc về hạn chế tự do tôn giáo ở Việt Nam – trong khi phía chính quyền xác định đây là tranh chấp đất đai và trật tự công cộng cần được xử lý theo quy định pháp luật14.
Xuất phát từ cơ sở trên mà việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo hiện nay đóng vai trò quan trọng. Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo trong thời gian quan tuy có đạt được những kết quả nhất định song cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức.
5. Một số giải pháp
Thứ nhất, thông qua phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, công nghệ số, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng nhằm khẳng định rằng, chúng ta là một quốc gia tôn trọng tự do tôn giáo, không hề vi phạm quyền con người. Cần đẩy mạnh công tác truyền thông đối ngoại bằng nhiều ngôn ngữ, công bố kịp thời các văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách và kết quả thực tiễn trong lĩnh vực tôn giáo; tạo điều kiện để các đoàn học giả, chức sắc tôn giáo quốc tế tiếp cận thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Thông qua đó, góp phần đấu tranh hiệu quả với các thông tin sai lệch, củng cố uy tín quốc tế của Việt Nam, tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ hai, tăng cường tham gia, giao lưu các hoạt động quốc tế, cụ thể là thường xuyên và tích cực hơn nữa trong việc tham gia các phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, tổ chức các cuộc đối thoại nhân quyền với nhiều quốc gia và đón tiếp các đoàn khảo sát, nghiên cứu quốc tế đã tạo cơ hội để cộng đồng quốc tế có cái nhìn toàn diện, khách quan hơn về đời sống tôn giáo tại Việt Nam15. Đây cũng là một trong những kênh quan trọng để đấu tranh phản bác các thông tin thiếu chính xác liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thể hiện vai trò là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc hay các tổ chức nhân quyền, để có thể đối thoại và giải thích rõ ràng.
Thứ ba, vấn đề giao lưu, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo rất quan trọng. Chúng ta cần chủ động tổ chức, tham dự các sự kiện, hội nghị, hội thảo, diễn đàn liên quan đến tôn giáo (như nhiều Đại lễ Phật Đản những năm gần đây). Bởi chỉ có trong những hội thảo ấy, những thách thức, tồn tại mới được nêu ra, được bàn bạc, trao đổi để tìm được tiếng nói chung; những hoài nghi về quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo sẽ có cơ hội hóa giải. Thực tiễn cho thấy, việc đăng cai tổ chức nhiều sự kiện tôn giáo quốc tế lớn, như Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc các năm 2008, 2014, 2019 và 2025 đã góp phần quảng bá hình ảnh một Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, tạo diễn đàn để các học giả, chức sắc tôn giáo và nhà quản lý cùng thảo luận những vấn đề đặt ra đối với đời sống tôn giáo đương đại. Chính trong quá trình đối thoại cởi mở và hợp tác xây dựng, những khác biệt trong nhận thức, những nghi ngại hoặc thông tin chưa đầy đủ về tình hình tôn giáo tại Việt Nam có điều kiện được giải thích, làm sáng tỏ trên cơ sở khách quan và thực tiễn.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách và pháp luật về tôn giáo. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu hội nhập quốc tế. Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do tôn giáo với yêu cầu giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, cần tăng cường đối thoại với các tổ chức tôn giáo; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục.
Cần đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền về chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước theo hướng sinh động, dễ hiểu và phù hợp với từng đối tượng. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường giới thiệu những giá trị tốt đẹp của các tôn giáo, những đóng góp tích cực của đồng bào có đạo đối với đất nước. Đồng thời, cần chủ động đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc trên internet và mạng xã hội; xây dựng lực lượng chuyên trách có trình độ lý luận và kỹ năng truyền thông hiện đại.
Thứ sáu, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo có phẩm chất và năng lực. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc triển khai chủ trương, chính sách của Đảng. Do đó, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị, kiến thức tôn giáo, pháp luật và kỹ năng dân vận cho đội ngũ cán bộ các cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, am hiểu thực tiễn, biết vận động quần chúng. Trong bối cảnh các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước, cán bộ làm công tác tôn giáo không chỉ cần am hiểu giáo lý, giáo luật và đặc điểm của từng tôn giáo mà còn phải có khả năng nhận diện các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cho thấy, ở những địa phương mà cán bộ gần dân, hiểu dân, thường xuyên tiếp xúc và giải quyết kịp thời những nhu cầu chính đáng của các tổ chức, chức sắc và tín đồ tôn giáo thì các vấn đề phức tạp liên quan đến tôn giáo thường được xử lý từ sớm, từ cơ sở, hạn chế nguy cơ phát sinh “điểm nóng”. Ngược lại, sự thiếu hiểu biết, thái độ hành chính cứng nhắc hoặc xử lý thiếu khéo léo có thể làm gia tăng tâm lý bức xúc, tạo điều kiện để các phần tử xấu lợi dụng kích động chống đối.
Thứ bảy, phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo.
Các tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo có ảnh hưởng lớn đối với cộng đồng tín đồ. Vì vậy, cần phát huy vai trò tích cực của họ trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhà nước cần tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, giáo dục đạo đức, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng. Đồng thời, cần tăng cường vận động, tranh thủ các chức sắc, chức việc uy tín nhằm xây dựng môi trường tôn giáo ổn định, lành mạnh. Trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, nhiều cơ sở tôn giáo đã trở thành điểm hỗ trợ người dân gặp khó khăn, tổ chức các chương trình thiện nguyện, cung cấp nhu yếu phẩm và tham gia các hoạt động phòng, chống dịch. Những hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo mà còn góp phần củng cố niềm tin của tín đồ đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thứ tám, tăng cường đấu tranh trên không gian mạng.
Trong thời đại số, không gian mạng trở thành mặt trận quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần xây dựng lực lượng đấu tranh chuyên sâu trên internet; ứng dụng công nghệ hiện đại để phát hiện, xử lý thông tin xấu, độc liên quan đến vấn đề tôn giáo. Đồng thời, cần phát triển các kênh truyền thông chính thống hấp dẫn, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhằm định hướng dư luận và nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước các luận điệu xuyên tạc. Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội thường triệt để lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai sự thật, cắt ghép, bóp méo các sự kiện liên quan đến tôn giáo nhằm gây hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Với đặc điểm lan truyền nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng và khó kiểm chứng nguồn tin, các thông tin xấu độc về tôn giáo trên mạng xã hội có thể tác động mạnh đến nhận thức của người dân, đặc biệt là giới trẻ và những người có điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế. Vì vậy, bên cạnh việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, cần chú trọng xây dựng hệ sinh thái truyền thông số tích cực, chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan và có sức thuyết phục về chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Thứ chín, gắn công tác tôn giáo với phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an sinh: Thực tiễn cho thấy ở những nơi đời sống nhân dân được cải thiện, các vấn đề phức tạp về tôn giáo thường giảm bớt. Do đó, cần quan tâm phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc chăm lo đời sống Nhân dân chính là giải pháp quan trọng để củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khi các chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ sinh kế và đầu tư cơ sở hạ tầng được triển khai hiệu quả thì đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt, tình hình an ninh, trật tự và đoàn kết lương – giáo cũng được củng cố. Khi quyền và lợi ích chính đáng của người dân được bảo đảm, niềm tin đối với Đảng và Nhà nước được tăng cường, từ đó, hạn chế điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng những khó khăn trong đời sống xã hội nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là cơ sở xã hội vững chắc góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo.
6. Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và tôn giáo, yêu cầu đặt ra đối với công tác này ngày càng cao. Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, phát huy giá trị tích cực của các tôn giáo; đồng thời, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của Nhân dân và sự tham gia tích cực của các tổ chức tôn giáo. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước chính là nền tảng vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Chú thích:
1. Đặng Nghiêm Vạn (2005). Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 25.
2. Nguyễn Văn Kiệm (1997). Tôn giáo và đời sống hiện đại. Tập I. H. NXB Khoa học Thông tin Xã hội, tr. 1.
3. Nguyễn Hồng Dương (2013). Tôn giáo trong văn hóa Việt Nam. H. NXB Văn hóa Thông tin, tr. 31.
4. Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2013). Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. H. NXB Chính trị – Hành chính, tr. 19.
5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022). Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. H. NXB Tôn giáo, tr. 7.
6. Ban Tôn giáo Chính phủ (2021). Tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo theo Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 21/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị: Bước ngoặt lớn trong công tác tôn giáo. https://thanhtra.com.vn/doi-noi-52FA82FBF/nghi-quyet-so-24-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-buoc-ngoat-lon-trong-cong-tac-ton-giao-CA3ED.
8. Quốc hội (2016). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam năm 2016.
9. Tăng cường đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng – từ nghị quyết đến thực tiễn. https://nhandan.vn/tang-cuong-dau-tranh-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-tu-nghi-quyet-den-thuc-tien-post763910.html.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 66.
11. Bước phát triển quan trọng về tôn giáo và công tác tôn giáo. https://vietnamnet.vn/buoc-phat-trien-quan-trong-trong-tu-duy-cua-dang-ve-cong-tac-ton-giao-2500684.html.
12. Báo cáo tự do tôn giáo năm 2026 của Mỹ dựa trên các dẫn chứng có dụng ý xấu nhằm vào Việt Nam. https://tuoitre.vn/bao-cao-tu-do-ton-giao-nam-2026-cua-my-dua-tren-cac-dan-chung-co-dung-y-xau-nham-vao-viet-nam-20260319172237287.htm.
13. Bộ Công an: “Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ” hoạt động với chiêu thức tinh vi. https://kenh14.vn/bo-cong-an-hoi-thanh-duc-chua-troi-me-hoat-dong-voi-chieu-thuc-tinh-vi-2023053120382199.chn.
14. Lộ rõ ý đồ, toan tính của linh mục Chính xứ Thái Hà. https://anninhthudo.vn/lo-ro-y-do-toan-tinh-cua-linh-muc-chinh-xu-thai-ha-post119156.antd.
15. Việt Nam coi trọng và nghiêm túc thực hiện cơ chế UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. https://nhandan.vn/viet-nam-coi-trong-va-nghiem-tuc-thuc-hien-co-che-upr-cua-hoi-dong-nhan-quyen-lien-hop-quoc-post348032.html.



