Ho Chi Minh’s thought on vocational training: applying the principle of “learning the job by doing the job” in platoon-level officer education
Đại úy, ThS. Trương Quang Dũng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt ra ngày càng cao, việc nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan cấp phân đội trở thành nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa trực tiếp đối với xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội ở đơn vị cơ sở. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp với phương châm: “làm việc gì học việc ấy” có ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển năng lực thực hành, kỹ năng nghề nghiệp cho học viên sau khi tốt nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh; huấn luyện nghề nghiệp; sĩ quan cấp phân đội; Nghị quyết Đại hội XIV; trường sĩ quan quân đội.
Abstract: Against the backdrop of increasingly high demands to build a revolutionary, regular, elite, and modern Vietnam People’s Army, improving the quality of training for squad-level officers has become a critical task that directly impacts the development of military leadership at the grassroots level. Studying and applying Ho Chi Minh’s ideas on vocational training guided by the principle “learn what you do” plays a crucial role in developing trainees’ practical abilities and professional skills after graduation, thereby meeting the requirements for building the armed forces in the new context in accordance with the spirit of the Party’s 14th National Congress Resolution.
Keywords: Chairman Ho Chi Minh; vocational training; platoon-level officers; Resolution of the 14th Party Congress; military officer academy.
1. Cơ sở khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp
Một là, xuất phát từ thực tiễn xã hội và yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp được hình thành từ yêu cầu khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và phương pháp công tác để tổ chức, lãnh đạo quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Trong điều kiện đất nước thuộc địa, nửa phong kiến, trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ cách mạng vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về năng lực tổ chức thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định huấn luyện là khâu cơ bản để chuẩn bị lực lượng cho cách mạng. Người xác định rõ phương hướng: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”1. Theo đó, huấn luyện chính là điều kiện trực tiếp để hình thành năng lực hành động cách mạng của cán bộ và quần chúng.
Hai là, xuất phát từ truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống hiếu học, trọng thực hành, học để làm người, học để giúp nước của dân tộc Việt Nam; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của giáo dục nhân loại, nhất là tinh thần thực học, thực nghiệp, gắn tri thức với hành động và đào tạo với nhu cầu xã hội. Người không quan niệm học tập là sự tích lũy tri thức thuần túy mà là quá trình chuẩn bị con người cho công việc, cho trách nhiệm xã hội và sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và Nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”2. Bởi lẽ, huấn luyện nghề nghiệp luôn thống nhất giữa mục tiêu nâng cao năng lực làm việc với xây dựng nhân cách, đạo đức và tinh thần phụng sự của người cán bộ. Từ đó, Người xác lập quan điểm huấn luyện thiết thực, chống lối học hình thức, xa rời nhiệm vụ và không chuyển hóa thành năng lực công tác. Do đó, huấn luyện nghề nghiệp theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa thể hiện chiều sâu văn hóa dân tộc, vừa thể hiện tư duy giáo dục hiện đại, lấy hiệu quả thực tiễn và sự trưởng thành của con người làm thước đo.
Ba là, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về huấn luyện.
Từ lập trường duy vật lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định, con người hiện thực là chủ thể sáng tạo lịch sử; sự phát triển của con người gắn liền với hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất và cải tạo xã hội. C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Lịch sử không làm gì hết… Không phải “lịch sử” mà chính con người, con người thực sự, con người sống mới là kẻ làm ra tất cả những cái đó…”3. Dưới góc độ nghiên cứu của giáo dục và huấn luyện nghề nghiệp, quan điểm trên cho thấy, tri thức chỉ có giá trị đầy đủ khi được chuyển hóa thành kỹ năng, phương pháp hành động và năng lực cải tạo hiện thực.
Kế thừa và phát triển quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lý luận cách mạng, giáo dục chính trị và tổ chức thực tiễn trong xây dựng lực lượng cách mạng. Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”4.Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập quan niệm về huấn luyện nghề nghiệp theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, học tập với hành động, mục tiêu chính trị với năng lực thực hiện nhiệm vụ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, huấn luyện nghề nghiệp là quá trình rèn luyện toàn diện người cán bộ về lập trường chính trị, đạo đức cách mạng, tri thức chuyên môn, phương pháp công tác, năng lực tổ chức thực tiễn và ý thức trách nhiệm đối với chức trách được giao.
2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp
2.1. Mục tiêu của huấn luyện nghề nghiệp là làm cho cán bộ có năng lực đảm nhiệm tốt công việc được giao.
Huấn luyện nghề nghiệp trong tư tưởng Hồ Chí Minh hướng trực tiếp vào hình thành năng lực thực hành chức trách của người cán bộ. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”5. Từ đó cho thấy, mục tiêu của huấn luyện nghề nghiệp cốt yếu là làm cho cán bộ hiểu rõ công việc, nắm vững yêu cầu nhiệm vụ, có phương pháp tổ chức thực hiện và đủ khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn công tác.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ được huấn luyện phải chuyển hóa tri thức đã học thành năng lực hành động, biết vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách vào từng lĩnh vực, từng cương vị và từng nhiệm vụ cụ thể. Huấn luyện nghề nghiệp vì vậy phải góp phần khắc phục tình trạng cán bộ học nhiều nhưng làm việc lúng túng, nắm lý luận nhưng thiếu phương pháp thực hiện, có hiểu biết chuyên môn nhưng chưa đủ năng lực tổ chức thực tiễn. Mục tiêu của huấn luyện là xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, vừa có tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong khoa học và tinh thần trách nhiệm cao.
Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp là phương châm học đúng việc, học sát nghề, học để làm việc. Người chỉ rõ: “Phải thực hành khẩu hiệu: làm việc gì học việc ấy. Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức, tuyên truyền, công an…, cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở trong môn ấy”6. Đây là quan niệm rất hiện đại về đào tạo theo chức trách, nhiệm vụ và yêu cầu sử dụng cán bộ. “Làm việc gì học việc ấy” không phải tập trung việc học vào kỹ năng trước mắt, mà yêu cầu bảo đảm sự phù hợp giữa nội dung huấn luyện với vị trí công tác, lĩnh vực chuyên môn và nhiệm vụ thực tiễn của người học.
2.2.Nội dung huấn luyện nghề nghiệp phải toàn diện, thiết thực.
Người không tách rời huấn luyện nghề nghiệp khỏi giáo dục chính trị, đạo đức, văn hóa, chuyên môn và phương pháp công tác; song nhấn mạnh mọi nội dung đều phải phục vụ trực tiếp cho yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ. Người căn dặn: “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”7. Đây là nguyên tắc có giá trị phương pháp luận sâu sắc, khắc phục bệnh dàn trải, hình thức, nặng số lượng mà nhẹ chất lượng, học nhiều nhưng chuyển hóa chậm thành năng lực thực hành.
2.3. Phương thức giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn
Người chỉ rõ: “Học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích”8. Theo đó, chất lượng huấn luyện nghề nghiệp phải được đánh giá bằng sự chuyển biến trong năng lực làm việc của cán bộ, chứ không chỉ bằng mức độ tiếp thu tri thức. Người cũng yêu cầu quá trình huấn luyện phải phù hợp trình độ người học, bảo đảm tính hệ thống, tính vừa sức và tính thực hành: “Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”9. Theo Người, mục đích cuối cùng của học tập là để “làm việc cho tốt hơn”, để phục vụ Nhân dân, phục vụ cách mạng. Trong nhiều bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh khẳng định, học tập phải gắn với lao động sản xuất, với thực tiễn xã hội; người học phải biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao vai trò tự học, tự rèn luyện của cán bộ. Người cho rằng, huấn luyện chỉ đạt hiệu quả khi người học biến quá trình được đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Như vậy, huấn luyện nghề nghiệp không dừng ở lớp học, chương trình, giáo án mà phải hình thành ở người học năng lực tự học, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện trong thực tiễn công tác.
3. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp
Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp có giá trị lý luận sâu sắc, góp phần phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục, đào tạo con người trong điều kiện cách mạng Việt Nam. Người đã cụ thể hóa quan điểm về vai trò của thực tiễn, lao động và giáo dục thành hệ thống chỉ dẫn thiết thực về huấn luyện cán bộ: huấn luyện phải xuất phát từ nhu cầu công tác; nội dung phải sát nhiệm vụ; phương pháp phải gắn học với hành; tổ chức huấn luyện phải chu đáo; người học phải tự học, tự rèn, tự hoàn thiện. Đặc biệt, phương châm “làm việc gì học việc ấy” xác lập cách tiếp cận khoa học về đào tạo theo vị trí việc làm, theo chức trách và yêu cầu thực tiễn, có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với đổi mới giáo dục, đào tạo cán bộ hiện nay.
Giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp thể hiện ở chỗ Người luôn đặt việc rèn luyện năng lực nghề nghiệp trong quan hệ thống nhất với giáo dục đạo đức, trách nhiệm và lý tưởng phụng sự. Cán bộ không chỉ cần biết việc, thạo việc mà còn phải làm việc vì Nhân dân, vì Đảng, vì Tổ quốc. Do đó, huấn luyện nghề nghiệp theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nhằm đào tạo người cán bộ có tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn hướng tới xây dựng con người cách mạng có bản lĩnh chính trị, đạo đức, phương pháp công tác và năng lực tổ chức thực tiễn và tinh thần trách nhiệm cao.
Trong đào tạo sĩ quan cấp phân đội hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp có ý nghĩa định hướng trực tiếp. Sĩ quan cấp phân đội là lực lượng trực tiếp quản lý, chỉ huy, huấn luyện, giáo dục bộ đội ở đơn vị cơ sở; vì vậy quá trình đào tạo phải bám sát chức trách, nhiệm vụ, môi trường hoạt động và yêu cầu thực tiễn của đơn vị. Vận dụng phương châm “làm việc gì học việc ấy” đòi hỏi các nhà trường quân đội phải tăng cường nội dung thực hành, thực tập, rèn luyện phương pháp chỉ huy, quản lý, giáo dục bộ đội; gắn đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đơn vị; coi trọng kiểm tra, đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ, không chỉ đánh giá khả năng ghi nhớ tri thức.
Theo tinh thần đổi mới giáo dục, đào tạo và xây dựng Quân đội trong tình hình mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện nghề nghiệp tiếp tục là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan cấp phân đội. Việc vận dụng đúng đắn tư tưởng đó góp phần định hướng quá trình đào tạo vào hình thành đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn phù hợp, phương pháp công tác khoa học, năng lực thực hành chức trách và khả năng hoàn thành nhiệm vụ ở đơn vị cơ sở.
4. Vận dụng phương châm “làm việc gì học việc ấy” trong đào tạo sĩ quan cấp phân đội hiện nay
Thứ nhất, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo theo hướng sát chức trách, nhiệm vụ của sĩ quan cấp phân đội.
Các trường sĩ quan cần rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng lấy chuẩn đầu ra và yêu cầu thực tiễn đơn vị làm căn cứ trung tâm. Nội dung đào tạo phải bảo đảm sự thống nhất giữa trang bị tri thức cơ bản, giáo dục chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng năng lực chuyên môn và hình thành phương pháp công tác của người sĩ quan. Phương châm “làm việc gì học việc ấy” yêu cầu chương trình đào tạo không dàn trải, nặng lý thuyết, phải làm rõ những vấn đề đặt ra trong tình hình mới để huấn luyện đạt được mục đích, yêu cầu đề ra.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “Xây dựng, triển khai Chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ quản lý và nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi”10. Quán triệt yêu cầu đó trong đào tạo sĩ quan cấp phân đội, các nhà trường quân đội cần tiếp tục chuẩn hóa chương trình, cập nhật nội dung về khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, chuyển đổi số, quản lý bộ đội, kỹ năng xử trí tình huống và năng lực thích ứng với môi trường tác chiến hiện đại. Đây chính là sự cụ thể hóa phương châm tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đào tạo không chỉ để biết, mà để làm được việc, làm đúng chức trách và hoàn thành nhiệm vụ trong thực tiễn đơn vị.
Thứ hai, gắn đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đơn vị cơ sở.
Phương châm “làm việc gì học việc ấy” đặt ra yêu cầu khắc phục sự tách rời giữa đào tạo và sử dụng cán bộ. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu xuất phát từ chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới, theo đó phải “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở gần dân, sát cơ sở, vì dân, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ”11. Đối với sĩ quan cấp phân đội, môi trường công tác chủ yếu là đơn vị cơ sở, nơi trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ quản lý, chỉ huy, huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, giáo dục chính trị và bảo đảm đời sống bộ đội. Vì vậy, quá trình đào tạo phải gắn chặt với thực tiễn đơn vị, bám sát yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chức trách, nhiệm vụ của người sĩ quan sau khi tốt nghiệp, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ có tác phong công tác sâu sát, gần gũi bộ đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
Tăng cường tổ chức thực tập, thực tế, diễn tập, tập bài, xử trí tình huống theo cương vị; tạo điều kiện để học viên tiếp cận sâu hơn với hoạt động quản lý, chỉ huy, huấn luyện, giáo dục và rèn luyện bộ đội ở đơn vị cơ sở. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa nhà trường và đơn vị sử dụng sĩ quan trong xác định mục tiêu đào tạo, thiết kế nội dung thực hành, đánh giá kết quả thực tập và phản hồi chất lượng học viên sau tốt nghiệp. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng là điều kiện quan trọng để phương châm “làm việc gì học việc ấy” chuyển hóa thành phẩm chất, năng lực, phương pháp công tác và phong cách làm việc gần cơ sở, sát thực tiễn của người sĩ quan cấp phân đội.
Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực thực hành.
Quan điểm huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều của Người đã đặt ra yêu cầu đổi mới quá trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội theo hướng lấy hoạt động thực hành nghề nghiệp quân sự làm trung tâm, gắn trang bị tri thức với rèn luyện kỹ năng, phương pháp công tác và năng lực giải quyết nhiệm vụ theo chức trách. Trong quá trình đó, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giữ vai trò định hướng, tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức, rèn luyện của học viên; chú trọng hình thành phương pháp tư duy quân sự, kỹ năng chỉ huy, năng lực quản lý, năng lực giáo dục bộ đội và khả năng xử trí các tình huống nảy sinh trong thực tiễn đơn vị.
Cùng với đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành theo hướng coi trọng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn. Kết quả học tập của học viên cần được xác định trên cơ sở mức độ đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ của sĩ quan cấp phân đội, thể hiện ở khả năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, điều hành phân đội, xử trí tình huống, giao tiếp quân nhân, quản lý kỷ luật, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và giải quyết các vấn đề thực tiễn ở đơn vị cơ sở. Đây là tiêu chí quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bảo đảm sự thống nhất giữa tri thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và năng lực thực hành chức trách của học viên sau khi tốt nghiệp.
Thứ tư, phát huy tính tích cực, tự giác, tự học, tự rèn của học viên trong quá trình huấn luyện nghề nghiệp.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hiệu quả huấn luyện không chỉ phụ thuộc vào nội dung, chương trình và phương pháp tổ chức của nhà trường, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào tính tích cực, tự giác của người học. Người chỉ rõ: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”11. Quan điểm đó khẳng định vai trò chủ thể của người học trong quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành phương pháp công tác và phát triển năng lực nghề nghiệp. Đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, tự học, tự rèn không chỉ là yêu cầu của quá trình học tập ở nhà trường, mà còn là phương thức quan trọng để hình thành bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong chỉ huy, ý thức tổ chức kỷ luật và khả năng thích ứng với thực tiễn đơn vị cơ sở.
Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh, các nhà trường cần chú trọng xây dựng môi trường giáo dục đề cao tính chủ động, tự giác, sáng tạo của học viên trong học tập, rèn luyện và thực hành nghề nghiệp quân sự. Quá trình đào tạo phải tạo điều kiện để học viên tích cực nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị bài học, tham gia thảo luận, luyện tập kỹ năng chỉ huy, xử trí tình huống, thực hành công tác quản lý, giáo dục bộ đội và tự đánh giá mức độ phát triển năng lực của bản thân. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục động cơ nghề nghiệp quân sự, ý thức trách nhiệm, tinh thần khắc phục khó khăn, khả năng thích ứng với cường độ huấn luyện cao và yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.
5. Kết luận
Vận dụng phương châm “làm việc gì học việc ấy” trong đào tạo sĩ quan cấp phân đội là yêu cầu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Phương châm đó định hướng quá trình đào tạo phải xuất phát từ nhiệm vụ, chức trách và yêu cầu sử dụng cán bộ; gắn chặt nhà trường với đơn vị; kết hợp tri thức với kỹ năng, lý luận với thực hành, đào tạo với tự đào tạo. Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan cấp phân đội, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn phù hợp, phương pháp công tác khoa học và khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 209
2, 5, 6, 8, 11. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 312, 309, 309, 348, 312.
3. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (2025). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 141
4. V.I. Lênin toàn tập (2005). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 30.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 357.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 467.
10. Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 163.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng bộ Quân đội (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. (Đại hội được tổ chức tại Hà Nội, ngày 30/9/2025).
2. Giáo dục, rèn luyện nhân cách của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/25/giao-duc-ren-luyen-nhan-cach-cua-hoc-vien-dao-tao-si-quan-cap-phan-doi-theo-tu-tuong-ho-chi-minh/



