TS. Phạm Thị Thúy
TS. Nguyễn Hữu Hoàng
Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên phát triển mới, TP. Hồ Chí Minh không chỉ đảm nhận trọng trách là đầu tàu tăng trưởng liên tục ở mức “2 con số” mà còn là hình mẫu về đô thị hạnh phúc bền vững. Từ cách tiếp cận tổng hạnh phúc đô thị bền vững (UGNH) với bốn trụ cột: hạnh phúc kinh tế, xã hội, sinh thái và chính trị – quản trị, bài viết phân tích những cơ sở chủ yếu để Thành phố xây dựng đô thị hạnh phúc bền vững hơn trong bối cảnh mới; kiến giải hành trình 50 năm, Thành phố nỗ lực vì hạnh phúc của người dân; từ đó, đưa ra 5 nhóm gợi mở về tư duy, tầm nhìn mới, đột phá để kiến tạo Thành phố trở thành đô thị hạnh phúc bền vững.
Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội, đô thị hạnh phúc bền vững, kỷ nguyên phát triển mới, hạnh phúc bền vững.
Abstract: In this new era of development, Ho Chi Minh City not only shoulders the responsibility of driving sustained “double-digit” growth but also serves as a model for a sustainable, happy city. Using the approach of Sustainable Urban Gross National Happiness (UGNH) with its four pillars: economic, social, ecological, and political-governance happiness this article analyzes the key foundations for the city to build a more sustainable and happy city in this new context; examines the city’s 50-year journey of striving for the happiness of its people; and, based on this, proposes five sets of insights on new thinking, vision, and breakthroughs to transform the city into a sustainable happy city.
Keywords: Socialism, sustainable happy city, new era of development, sustainable happiness.
1. Đặt vấn đề
Thế giới đang chứng kiến một nghịch lý. Nhân loại ngày càng giàu có, đủ đầy và dễ dàng kết nối hơn (cả trong không gian thực và thế giới số), nhưng cứ 6 người thì có 1 người cô đơn và ngày càng giảm hạnh phúc, khiến mỗi giờ trôi qua có khoảng 100 ca tử vong (WHO, 2025)1. Từ chiến sự tại Ukraine, vòng xoáy bạo lực không hồi kết ở dải Gaza, đến biến đổi khí hậu, khủng hoảng lương thực, năng lượng và đại dịch toàn cầu, cho thấy GDP tăng trưởng không tự tạo ra hạnh phúc. Vì lẽ đó, chỉ trong một thập kỷ qua, từ 8 đến nay, có 27 nước đã đưa hạnh phúc quốc gia vào chiến lược phát triển (Helliwell và cộng sự, 2024)2.
Ở Việt Nam, “hạnh phúc” là một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”3. “Hạnh phúc” là một hợp phần trong tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đi kèm với Quốc hiệu và, suy cho cùng, cũng là mục tiêu, động lực, nguyên tắc lãnh đạo, cầm quyền và quản trị quốc gia. Đặc biệt, “hạnh phúc” trở thành một thành tố quan trọng được nêu trong chủ đề Đại hội Đảng lần thứ XIV, đặt Nhândân là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu của mọi sự phát triển. Điều này trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ kiến trúc chính sách quốc gia và quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới, trong đó có đô thị phát triển năng động như TP. Hồ Chí Minh.
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 – 2030), tất cả 30 chỉ tiêu phát triển cụ thể; 3 chương trình trọng điểm, đột phá; cùng với 10 nhóm nhiệm vụ chủ yếu đều gắn bó, tác động trực tiếp đến việc cải thiện sự hài lòng, cảm nhận hạnh phúc và phát triển bền vững của người dân. Đáng chú ý, ngày 19/5/2026,Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong đó, xác định xây dựng và sớm hình thành các khu dân cư xã hội chủ nghĩa; thí điểm xây dựng phường, xã xã hội chủ nghĩanhư một giải pháp then chốt nhằm phát triển toàn diện văn hóa, con người thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng với Thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
Ngày 13/6/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã phát động phong trào thi đua “Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số giai đoạn 2026-2030” với khẩu hiệu hành động: “Tầm nhìn chiến lược – Tư duy đột phá – Hành động quyết liệt – Tăng trưởng bền vững – Nhân dân hạnh phúc”. Khẩu hiệu hành động mà Thủ tướng nêu ra không chỉ là tinh thần thi đua trong kỷ nguyên mới mà còn là một tuyên ngôn chính sách: tăng trưởng hai con số phải đồng hành với hạnh phúc của Nhân dân.
Báo cáo Hạnh phúc thế giới (WHR) của Liên Hợp quốc và hàng loạt nghiên cứu quốc tế cho thấy, GDP bình quân đầu người chỉ lý giải được khoảng 27% phương sai trong hạnh phúc (Helliwell và cộng sự, 2024)4; 73% còn lại phụ thuộc vào các yếu tố phi vật chất – chất lượng mối quan hệ xã hội, sức khỏe thể chất và tâm thần, niềm tin vào thể chế, không gian sống và môi trường. Trong giai đoạn 2023 – 2025, các quốc gia phát triển hàng đầu châu Á có Chỉ số Hạnh phúc toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng: Nhật Bản tụt hạng từ 47 xuống 55, Singapore giảm từ 25 xuống 34 (mất vị trí dẫn đầu châu Á), dù là các nền kinh tế phát triển hàng đầu. Đây là “nghịch lý hạnh phúc” của mọi siêu đô thị đang tăng trưởng nóng và TP. Hồ Chí Minh không phải là ngoại lệ. Quan trọng hơn, dù đã có những bước phát triển to lớn và nỗ lực toàn diện, song TP. Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản trị, xây dựng Thành phố trở nên hạnh phúc hơn như các vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu, ngập úng, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, đầu tư văn hoá, xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, an ninh trật tự, an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, chất lượng tăng trưởng chưa bền vững…
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Điều 3) hiến định hạnh phúc là một quyền cơ bản. Tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” không chỉ là biểu tượng mà còn là nguyên tắc lãnh đạo, cầm quyền và quản trị quốc gia.
Đáng chú ý, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (2026) nhấn mạnh: “hạnh phúc” vừa là một trong những đặc trưng căn bản của chủ nghĩa xã hội, vừa là giá trị phổ quát, là mục tiêu phát triển, là khát vọng của nhân loại và dân tộc ta. Hạnh phúc còn là mục tiêu phát triển trọng tâm của kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng đưa đất nước đến “… phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”5 vào năm 2045. Đại hội đã đạt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới vào năm 2030. Đặc biệt, các trụ cột thể chế đột phá phát triển quốc gia từ cuối năm 2024 đến nay của Bộ Chính trị, dù ở nhiều lĩnh vực trọng yếu khác nhau, đều hướng đến việc khơi thông mọi nguồn lực, đưa đất nước cất cánh, phát triển bền vững, nhân dân thực sự ấm no, hạnh phúc hơn.
Đối với TP. Hồ Chí Minh, siêu đô thị với hơn 14 triệu dân, đóng góp trên 22% GDP cả nước, đã, đang và tiếp tục sẽ là “phòng thí nghiệm”chính sách” lý tưởng nhất cho mô hình quốc gia hạnh phúc bền vững (ở quy mô một siêu đô thị) giàu bản sắc và căn tính vùng đất Nam Bộ trước khi nhân rộng ra các địa phương khác trên phạm vi toàn quốc. Điều này càng có cơ sở khi ngày 19/5/2026, UBND phường Thủ Đức trở thành địa phương đầu tiên tại Thành phố công bố việc đo lường chỉ số hạnh phúc của người dân bằng phương pháp khoa học do Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố thực hiện. TP. Hồ Chí Minh hỗ trợ, thu thập được 6.000 mẫu hợp lệ từ 18-70 tuổi tại 52 khu phố. Từ đó, UBND phường Thủ Đức đã tổ chức hội nghị công bố “Bộ tiêu chí phường Thủ Đức hạnh phúc” và kết quả khảo sát (đợt 1) trên 3 phương diện, bao gồm: vật chất, tinh thần và nhận thức; 10 tiêu chí phản ánh các lĩnh vực đời sống thiết yếu cùng 50 chỉ số cụ thể, bám sát trải nghiệm sống hằng ngày của người dân (Hà Khánh, 2026)6.
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu then chốt: “Xây dựng và sớm hình thành các khu dân cư xã hội chủ nghĩa; thí điểm xây dựng phường, xã xã hội chủ nghĩa”. Đây là chủ trương lớn mang ý nghĩa chính trị – lý luận – thực tiễn sâu sắc. Lần đầu tiên trong lịch sử đô thị Việt Nam, “hạnh phúc” được “thể chế hóa” xuống tận cấp độ cộng đồng dân cư. Xây dựng phường, xã xã hội chủ nghĩa phải gắn chặt và hướng đến hạnh phúc của người dân, cho các nhóm xã hội khác nhau, để không ai bị bỏ lại phía sau trước sự phát triển của thành phố. Nhìn từ góc độ khoa học hạnh phúc, “khu dân cư XHCN” chính là hiện thực hóa trụ cột “hạnh phúc xã hội” ở cấp cơ sở – nơi người dân thực sự cảm nhận chất lượng sống qua an ninh trật tự, nhà ở, môi trường xanh – sạch, y tế, giáo dục gần nhà, thủ tục hành chính, quản trị địa phương và đặc biệt là tính cố kết của mạng lưới hỗ trợ xã hội (Nguyễn Hữu Hoàng, 2026)7. Nghiên cứu của Layard (2020)8 đã chứng minh rằng, chất lượng mối quan hệ cộng đồng là yếu tố quyết định hạnh phúc mạnh hơn thu nhập. Bởi vậy, xây dựng khu dân cư xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là giải pháp khoa học nhằm tối ưu hóa hạnh phúc của cư dân đô thị.
Như vậy, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị và Luật Đô thị đặc biệt đều hướng đến việc xác lập TP. Hồ Chí Minh là “đầu tàu dẫn dắt, biểu tượng năng động, sáng tạo” của cả nước trong kỷ nguyên mới – một sứ mệnh đòi hỏi thành phố không chỉ dẫn đầu về GRDP mà còn dẫn đầu về mô hình quản trị vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy vậy, để có thể phác thảo mô hình tổng thể cho việc xây dựng TP. Hồ Chí Minh “Văn minh – hiện đại – nghĩa tình – hạnh phúc” hơn, cần lược lại hành trình vươn tới mục tiêu hạnh phúc bền vững của siêu đô thị này với 4 trụ cột: hạnh phúc kinh tế, hạnh phúc xã hội, hạnh phúc sinh thái và hạnh phúc chính trị – quản trị. Đây cũng là tiêu chí căn cốt trong mô hình “Tổng hạnh phúc đô thị bền vững” (Urban Gross National Happiness – UGNH) mà Học viện Chính trị khu vực II được Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giao nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo kiến nghị chính sách. Mô hình UGNH không phải là sự sao chép mô hình của Bhutan hay OECD mà là sự kiến tạo một khung lý luận khái quát mang “bản chất Việt Nam” và phù hợp với thực tiễn của một siêu đô thị đang chuyển mình mạnh mẽ như TP. Hồ Chí Minh.
3. Hạnh phúc của TP. Hồ Chí Minh qua bốn trụ cột đo lường
3.1. Trụ cột 1 – Hạnh phúc kinh tế
Sau 50 năm, TP. Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng tự hào. GRDP tăng trưởng liên tục, đóng góp hơn 22% GDP quốc gia, là trung tâm tài chính – thương mại – công nghệ lớn nhất cả nước. Đặc biệt, trong bối cảnh cả nước phấn đấu tăng trưởng ở mức hai con số trong giai đoạn 2026-2030, TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng và trao nhiều thẩm quyền, nguồn lực, cơ chế vượt trội hơn để tiên phong phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Tuy nhiên, Thành phố vẫn đang đối mặt với thách thức khi tăng trưởng kinh tế chưa được chuyển hóa một cách đồng đều thành hạnh phúc thực sự cho mọi người dân và các nhóm dân cư khác nhau. “Bẫy hạnh phúc” đã xuất hiện và ngày càng trở nên thách thức khi thu nhập tăng nhưng giá nhà tăng nhanh gấp nhiều lần, khiến thế hệ Millennials và Gen Z trì hoãn việc kết hôn, sinh con và đầu tư cho tương lai. Điều này khiến Thành phố là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước, dân số già nhanh, chiếm hơn 11% dân số Thành phố và xếp thứ hai cả nước về tỷ lệ người cao tuổi. Lao động phi chính thức vốn chiếm tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao động Thành phố nhưng lại thiếu nền tảng an sinh xã hội để ổn định cuộc sống (Covid-19 là một phép thử). Những “điểm nghẽn” này không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là rào cản trực tiếp đối với hạnh phúc bền vững của toàn dân.
3.2. Trụ cột 2 – Hạnh phúc xã hội
Dữ liệu của WHR của Liên Hợp quốc cho thấy, “chỉ số hỗ trợ xã hội” của Việt Nam – thước đo về sự kết nối và chỗ dựa cộng đồng đã giảm từ 83/100 điểm năm 2020 xuống 67/100 điểm năm 2025, dao động mạnh và ở mức thấp nhất khi đại dịch Covid-19 đạt đỉnh. TP. Hồ Chí Minh, nơi đô thị hóa nhanh nhất cả nước, chịu áp lực này rõ nét nhất: làn sóng di dân chia cắt mạng lưới gia đình truyền thống; áp lực công việc thu hẹp thời gian gắn kết; điện thoại thông minh thay thế các cuộc trò chuyện thực tế; sức khỏe tâm thần – đặc biệt ở thanh thiếu niên – đang là một cuộc khủng hoảng thầm lặng. Ngoài ra, Thành phố hiện có 164 bệnh viện, 38 trung tâm y tế, 168 trạm y tế và 298 điểm y tế, nhưng chỉ có 164 trạm y tế đạt tiêu chuẩn diện tích tối thiểu 500 m². Theo Sở Y tế (2025)9, số lượng người cao tuổi tại TP. Hồ Chí Minh tăng nhanh qua các năm nhưng chỉ có khoảng 36 cơ sở chăm sóc phục vụ khoảng 3.500 người, chưa đầy 0,2% tổng số người cao tuổi.
Chính từ thực tiễn này, nỗ lực xây dựng Thành phố hạnh phúc bền vững hơn, gắn với việc thực thi chủ trương xây dựng khu dân cư xã hội chủ nghĩa và phường, xã xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 09-NQ/TW mang ý nghĩa đặc biệt. Điều này bao gồm cả việc tái thiết không gian cộng đồng, nơi người dân gặp gỡ, tin cậy và hỗ trợ nhau ngay trong lòng siêu đô thị hiện đại. Đây chính là liều thuốc đặc trị cho “đứt gãy cộng đồng” mà nhiều siêu đô thị châu Á đang phải đối mặt.
3.3. Trụ cột 3 – Hạnh phúc sinh thái
Không gian xanh và môi trường lành có tác động tích cực mạnh mẽ đến sức khỏe tâm thần và cảm nhận hạnh phúc của cư dân đô thị (MacKerron & Mourato, 2023)10. OECD đánh giá TP. Hồ Chí Minh là một trong 10 thành phố trên thế giới bị đe dọa nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (Nguyễn Vỹ, 2023)11. Hiện TP. Hồ Chí Minh đang gánh chịu hệ quả của nhiều thập kỷ tăng trưởng nóng: ngập lụt ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu và lún nền đất; ô nhiễm không khí tại nhiều tuyến giao thông; thiếu hụt không gian xanh công cộng so với tiêu chuẩn của WHO (9 m²/người).
Đáng chú ý, nhiều năm liền, Thành phố nằm trong nhóm các đô thị ô nhiễm nhất thế giới, với 65 ngày vượt ngưỡng an toàn chỉ trong nửa đầu năm 2025. Giao thông đường bộ chiếm tới 63% tổng phát thải PM2.5 (Lưu Tô, 2025)12. Hằng năm, khoảng 1.300 người ở đô thị này tử vong do các bệnh liên quan đến việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm, như: PM2.5, SO2 và NO2. Đây là những thách thức về mặt sinh thái đối với cảm nhận hạnh phúc của người dân Thành phố.
3.4. Trụ cột 4 – Hạnh phúc chính trị – quản trị
WHR xác định “niềm tin vào thể chế” là một trong hai yếu tố phi kinh tế quan trọng nhất quyết định hạnh phúc tại các nước thu nhập trung bình (Helliwell và cộng sự, 2024)13. TP. Hồ Chí Minh có chỉ số PAPI, SIPAS và PAR-INDEX khá tốt, phản ánh nỗ lực cải cách hành chính liên tục. Tuy nhiên, khi Thành phố vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp mới, đòi hỏi năng lực quản trị đô thị ở cấp phường, xã phải được nâng lên hơn nữa để đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp. Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 (được công bố vào tháng 4/2025) cho thấy, tổng điểm 8 trục nội dung của Thành phố là 42,81 điểm, xếp hạng 41/61 tỉnh, thành phố và xếp hạng 11/15 tỉnh, thành phố cùng nhóm trung bình – thấp; giảm 5 bậc so với năm 2023 dù điểm số có cải thiện (Phòng Cải cách hành chính – Sở Nội vụ, 2025)14. Dù là đầu tàu kinh tế, đóng góp gần 27% thu ngân sách quốc gia nhưng hiệu lực và hiệu quả quản trị của Thành phố vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến niềm tin và sự an tâm của người dân, cũng như của cộng đồng doanh nghiệp, như một hợp phần quan trọng trong hạnh phúc bền vững.
4. Tư duy và tầm nhìn mới, đột phá để kiến tạo TP. Hồ Chí Minh là đô thị hạnh phúc bền vững hơn đến năm 2045
Một là, cần tiếp tục đột phá trong xây dựng, tổ chức thực thi thể chế, qua đó hoàn thiện khung thể chế phát triển nhằm tiếp tục kiến tạo Thành phố sớm trở thành đô thị hạnh phúc, bền vững hơn trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I (2025-2030) – Đại hội đầu tiên sau tái cấu trúc đơn vị hành chính, vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đã đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển toàn diện với mục tiêu trở thành “đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo” đến năm 2045. Phương châm “TP. Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì TP. Hồ Chí Minh” không chỉ là tinh thần trách nhiệm quốc gia mà còn là cam kết: những gì TP. Hồ Chí Minh thí điểm thành công về thể chế hạnh phúc đô thị sẽ được nhân rộng, góp phần vào hành trình xây dựng quốc gia hạnh phúc của cả nước.
Nhìn lại hành trình 50 năm, TP. Hồ Chí Minh là nơi khởi phát liên tục của tư duy đột phá thể chế: từ “xé rào” trong giai đoạn đầu Đổi mới (1986) đến các cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh; từ Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 đến Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 24/12/2025 và nay là Dự án Luật Đô thị đặc biệt. Mỗi bước thể chế không chỉ là sự điều chỉnh hành chính mà còn là sự nâng cấp của tư duy lý luận: từ “cơ chế đặc thù” (mang tính ngoại lệ tạm thời) tiến đến “luật đặc biệt” (kiến tạo thể chế vượt trội, ổn định, lâu dài). Từ góc nhìn khoa học về hạnh phúc, mỗi bước đột phá thể chế đều hướng đến việc nâng cao chất lượng sống và sự hài lòng của người dân dù chưa được đo lường và khái niệm hóa bằng ngôn ngữ “hạnh phúc”. Đây là một đóng góp lý luận quan trọng: TP. Hồ Chí Minh đã thực hành “chính sách vì hạnh phúc” trước khi có khung pháp lý chính thức về nó.
Đáng chú ý, Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt TP. Hồ Chí Minh đang lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân với 9 chương, 46 điều, tập trung vào 4 nhóm nội dung lớn: nguồn lực và giám sát; động lực phát triển; không gian đô thị; nền tảng quản trị. Đây là văn bản pháp luật toàn diện nhất từ trước đến nay dành riêng cho Thành phố. Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Văn Được đã gọi đây là “đại cú hích” mở thêm dư địa phát triển. Từ góc nhìn hạnh phúc, Dự án Luật Đô thị đặc biệt cần được thiết kế như một “kiến trúc thể chế hạnh phúc”, trong đó mỗi cơ chế phân quyền, mỗi công cụ tài chính đặc thù, mỗi quy hoạch không gian đô thị đều phải có thể trả lời câu hỏi: cơ chế này cải thiện trụ cột hạnh phúc nào của người dân Thành phố? Đây là lời nhắc, gợi mở quan trọng của bài viết này đối với quá trình hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền xem xét, thông qua Luật này trong thời gian tới.
Hai là, nghiên cứu, lồng ghép “Bộ chỉ số Hạnh phúc đô thị” vào hệ thống đánh giá lãnh đạo, quản trị Thành phố và Đề án xây dựng phường, xã xã hội chủ nghĩa. Không chỉ GRDP mà còn cả chỉ số sức khỏe tâm thần cộng đồng, mức độ gắn kết xã hội, chất lượng không gian sống và chỉ số niềm tin vào chính quyền cơ sở – phải là những thước đo ngang hàng. TP. Hồ Chí Minh nên là địa phương đầu tiên tích hợp các chỉ số này vào báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, trình Hội đồng nhân dân hằng năm.
Không dừng lại ở Bộ Chỉ số hạnh phúc được thí điểm ở phường Thủ Đức, “Bộ chỉ số Hạnh phúc đô thị” cần sớm được nghiên cứu, áp dụng, nhân rộng ra các xã, phường, đặc khu của Thành phố, đến các nhóm xã hội khác và được tích hợp vào Bộ tiêu chí xây dựng khu dân cư xã hội chủ nghĩa, phường, xã xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 09-NQ/TW. Theo đó, mỗi khu dân cư xã hội chủ nghĩa và phường, xã xã hội chủ nghĩa của Thành phố sẽ là “đơn vị hạnh phúc cơ sở”. Vì vậy, mỗi khu dân cư xã hội chủ nghĩa cần có không gian xanh công cộng đạt chuẩn, trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng, thiết chế văn hóa – sinh hoạt gắn kết cư dân và hệ thống an sinh phủ đến từng hộ gia đình,… Đây là hiện thực hóa trực tiếp nhất di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một dân tộc hạnh phúc.
Ba là, Thành phố cần quan tâm đưa “đánh giá tác động hạnh phúc” (Happiness Impact Assessment – HIA) vào quy trình ban hành chính sách và phê duyệt dự án đô thị. Dự án Luật Đô thị đặc biệt sắp tới trình Quốc hội là cơ hội vàng để luật hóa cơ chế này, biến Thành phố thành đô thị đầu tiên ở Việt Nam và trong khu vực có công cụ pháp lý bảo đảm hạnh phúc của người dân trong từng quyết định quy hoạch. Ngoài Dự án luật này, trong quá trình hoạch định các chính sách, quy định đột phá khác sắp tới, Thành phố cần chú ý lồng ghép chỉ số hạnh phúc, đánh giá tác động về chiều kích hạnh phúc một cách thực sự, nghiêm túc cả trước, trong và sau mỗi chính sách, dự án và các quyết sách quan trọng của mình.
Bốn là, nỗ lực xây dựng các thiết chế xã hội đến tận cơ sở nhằm nâng cao hạnh phúc của nhân dân Thành phố. Đó làxây dựng chương trình sức khỏe tâm thần cộng đồng quy mô lớn, gắn với mô hình “trường học hạnh phúc” và “công sở hạnh phúc”. Tận dụng các trụ sở dôi dư, sắp xếp bộ máy để thiết kế lại thành các thiết chế phục vụ mục đích này. Trong đó, đặc biệt chú ý đến thiết chế nhà ở cho công nhân, người lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất; cho đội ngũ công chức, viên chức phải đi làm xa, làm sớm, về khuya; sau đó sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Đây là trụ cột xã hội thiết yếu, không thể trì hoãn trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đang vận hành ở tốc độ sống, làm việc với áp lực ngày càng cao và trong không gian phát triển mới.
Năm là, đầu tư nghiên cứu về hạnh phúc của người dân Thành phố Hồ Chí Minh, thí điểm “Bộ chỉ số Hạnh phúc đô thị” và tích hợp chúng vào Đề án xây dựng khu dân cư xã hội chủ nghĩa, phường, xã xã hội chủ nghĩa của Thành phố đến năm 2030. Theo đó, kiến nghị Bộ Chính trị xem xét, giao TP. Hồ Chí Minh – phối hợp với Học viện Chính trị khu vực II (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh nghiên cứu, xây dựng bộ chỉ số và hoàn thiện đề án nhằm thí điểm Mô hình “Thành phố hạnh phúc bền vững” (UGNH) trong giai đoạn 2027 – 2030, với tầm nhìn đến năm 2045.
5. Kết luận
TP. Hồ Chí Minh, nơi mà mỗi con đường, mỗi khu phố, mỗi dòng sông đều in dấu khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Sau 50 năm vinh dự mang tên Người, Thành phố đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới. Đó là kỷ nguyên mà tăng trưởng hai con số phải đi đôi với hạnh phúc đo lường được, thể chế hóa được và người dân cảm nhận được từng ngày15.
Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị, Dự án Luật Đô thị đặc biệt sắp được ban hành và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 – 2030) cùng tạo nên một “tam giác vàng” thể chế chưa từng có để Thành phố cất cánh, nhân dân hạnh phúc hơn. Từ đó, TP. Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu về thí điểm, xây dựng và hạnh phúc đô thị bền vững trên 4 trụ cột chính: kinh tế, xã hội, sinh thái và chính trị – quản trị. Trở thành một đô thị hạnh phúc, bền vững, giàu bản sắc, nhân văn, hiện đại, nghĩa tình, đến năm 2045, trở thành lời hiệu triệu hành động, mệnh lệnh trái tim cho mỗi cấp ủy, chính quyền và người dân Thành phố.
Chú thích:
1. WHO (2025). Social connection linked to improved health and reduced risk of early death. https://www.who.int/news/item/30-06-2025-social-connection-linked-to-improved.
2, 4, 13. Helliwell, J. F., Layard, R., Sachs, J. D., De Neve, J.-E., Aknin, L. B., & Wang, S. (2024). World Happiness Report 2024. Oxford: Wellbeing Research Center, University of Oxford.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 64.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 31-32.
6. Hà Khánh (2025). Lần đầu tiên TP. Hồ Chí Minh có địa phương đo lường chỉ số hạnh phúc của người dân. https://vov.vn/xa-hoi/lan-dau-tien-tphcm-co-dia-phuong-do-chi-so-hanh-phuc-nguoi-dan-post1293267.vov
7. Nguyễn Hữu Hoàng (2026). Phường xã hội chủ nghĩa có thể bắt đầu từ một con hẻm dễ sống hơn. https://sgtt.thesaigontimes.vn/phuong-xa-hoi-chu-nghia-co-the-bat-dau-tu-mot-con-hem-de-song-hon/
8. Layard, R. (2020). Can we be happier? Evidence and ethics. London: Pelican Books.
9, 12. Lưu Tô (2025). TP. HCM: Ô nhiễm tăng cao, cần triển khai cấp bách các giải pháp cải thiện chất lượng không khí. https://moitruong.net.vn/tp-hcm-o-nhiem-tang-cao-cap-bach-trien-khai-giai-phap-cai-thien-chat-luong-khong-khi-89951.html
10. MacKerron, G., & Mourato, S. (2023). Happiness is greater in natural environments. Global Environmental Change, 85, 318-328.
11. Nguyễn Vỹ (2023). TP. HCM có khoảng 70% diện tích bị ngập do biến đổi khí hậu vào năm 2050. https://danviet.vn/tphcm-co-khoang-70-dien-tich-bi-ngap-vi-bien-doi-khi-hau-den-nam-2050-20231110142155607-d1128404.html
14. Phòng Cải cách hành chính – Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh. (2025). Nhiệm vụ trọng tâm của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm cải thiện Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2025. https://sonoivu.hochiminhcity.gov.vn/web/snv/-/nhiem-vu-trong-tam-cua-thanh-pho-ho-chi-minh-de-cai-thien-chi-so-chi-so-hieu-qua-quan-tri-va-hanh-chinh-cong-cap-tinh-papi-nam-2025
15. Bài viết trích một phần từ Kết quả nghiên cứu đề tài Khoa học cấp cơ sở của Học viện Chính trị khu vực II năm 2026, chủ đề: “Tổ chức hạnh phúc: Thực trạng và giải pháp – Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Chính trị khu vực II” do TS. Phạm Thị Thuý chủ nhiệm.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Quốc hội (2025). Nghị quyết 260/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Lê Minh Hưng (2026). Phát biểu của Thủ tướng Lê Minh Hưng tại Lễ phát động phong trào thi đua “Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững 2 con số giai đoạn 2026-2030”. TP. Hồ Chí Minh: Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương.
4. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I (2025-2030). https://www.hcmcpv.org.vn/tu-lieu/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tphcm-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-thanh-pho-ho-chi-minh-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-1491379149
5. Wilkinson, R., & Pickett, K. (2018). The inner level: How more equal societies reduce stress, restore sanity and improve everyone’s well-being. London: Allen Lane.



