Phát triển nguồn nhân lực vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Human resource development in Vietnam’s North Central and Central Coastal Region in the Context of the fourth industrial revolution

NCS. Nguyễn Thị Hồng Hiền
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời là vùng có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, công nghiệp, dịch vụ và logistics. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực. Mặc dù công tác phát triển nguồn nhân lực của vùng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những hạn chế về chất lượng, cơ cấu ngành nghề, kỹ năng số và sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động. Trên cơ sở phân tích thực trạng tại thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, bài viết đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển nguồn nhân lực vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Từ khóa: Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; nguồn nhân lực; cách mạng công nghiệp lần thứ tư; hội nhập quốc tế.

Abstract: The North Central and Central Coastal Region of Vietnam holds a strategic position in the country’s socio-economic development and possesses significant potential for the development of the marine economy, industry, services, and logistics. In the context of the Fourth Industrial Revolution, digital transformation and the renewal of the growth model have imposed increasingly higher demands on the quality of human resources. Although the region has achieved notable progress in human resource development, several limitations remain, particularly regarding workforce quality, occupational structure, digital skills, and the alignment between education and labor market demands. Based on an analysis of the current situation in Hue City, Da Nang City, and Quang Ngai Province, this article proposes several recommendations to promote human resource development in the North Central and Central Coastal Region in the context of the Fourth Industrial Revolution.

Keywords: North Central and Central Coastal Region; human resources; Fourth Industrial Revolution; international integration.

1. Đặt vấn đề

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang trở thành một trong những điều kiện quyết định năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của các vùng kinh tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số. Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (BigData), Internet vạn vật (IoT) và tự động hóa không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, quản trị và cơ cấu việc làm mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực.

Đối với vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Vùng được xác định là một trong những không gian phát triển quan trọng về kinh tế biển, công nghiệp, dịch vụ, logistics và liên kết vùng. Những năm qua, công tác phát triển nguồn nhân lực đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn một số hạn chế nhất định ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư, tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tại thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, bài viết phân tích những kết quả đạt được và một số hạn chế nhất định về phát triển nguồn nhân lực. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực vùng đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số hiện nay.

2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn giáo dục, đào tạo với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, Văn kiện nêu rõ: “Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế… xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”1.

Quán triệt các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, các địa phương vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đã ban hành và triển khai nhiều cơ chế, chính sách nhằm phát triển giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhờ đó, công tác phát triển nguồn nhân lực của vùng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Những kết quả nổi bật được thể hiện trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở đào tạo và giáo dục nghề nghiệp của vùng tiếp tục được mở rộng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đã xây dựng mạng lưới cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với nòng cốt là Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng cùng hệ thống các trường đại học, cao đẳng và cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại các địa phương. Mạng lưới này từng bước đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của vùng; đồng thời, cung cấp nhân lực cho các địa phương lân cận. Đây là nền tảng quan trọng trong đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực cho vùng và các khu vực lân cận. Riêng thành phố Đà Nẵng hiện có 36 trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề2. Quy mô tuyển sinh, đặc biệt đối với các ngành thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) có xu hướng tăng qua các năm, phản ánh sự điều chỉnh của hệ thống đào tạo trước yêu cầu phát triển kinh tế số và chuyển đổi số.

Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo, cơ sở vật chất và hạ tầng phục vụ giảng dạy, nghiên cứu tiếp tục được đầu tư theo hướng hiện đại. Nhiều phòng thí nghiệm, trung tâm mô phỏng, xưởng thực hành và thiết bị đào tạo công nghệ cao đã được đầu tư từ ngân sách nhà nước và các chương trình hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường gắn kết giữa đào tạo với thực tiễn sản xuất. Đồng thời, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp từng bước được sắp xếp, phát triển phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, tạo điều kiện mở rộng cơ hội tiếp cận đào tạo nghề cho người lao động ở cả khu vực đô thị và nông thôn.

Thứ hai, chất lượng đào tạo và hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực có nhiều chuyển biến tích cực.

Các cơ sở giáo dục đại học trong vùng đã đẩy mạnh kiểm định chất lượng theo các tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế; đồng thời, mở rộng hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức giáo dục nước ngoài. Cụ thể, Đại học Huế đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 400 trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức giáo dục của hơn 30 quốc gia, triển khai 32 chương trình, dự án hợp tác quốc tế và 21 chương trình liên kết đào tạo đại học, sau đại học với các đối tác nước ngoài. Hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên trong chương trình Erasmus Mundus và Erasmus+; các chương trình hợp tác với các đối tác nước ngoài đã được triển khai; đồng thời, đào tạo nguồn nhân lực cho Lào và mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực tiếp tục được triển khai, góp phần nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế của nhà trường3.

Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi đã nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc củng cố mạng lưới gần 40 cơ sở đào tạo nghề và giáo dục đại học, tập trung phát triển nhân lực cho Khu kinh tế Dung Quất và các ngành mũi nhọn. Tỉnh cũng chú trọng liên kết học thuật, đào tạo nhân lực vùng cao, và triển khai các đề án y tế, du lịch nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GRDP hằng năm4.

Quá trình hợp tác quốc tế và kiểm định chất lượng đã tạo động lực đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực người học. Nhờ đó, người học được trang bị về kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ và kỹ năng mềm, đáp ứng ngày càng tốt hơn đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ các ngành, lĩnh vực trọng điểm từng bước được nâng cao.

Thực tiễn tại các địa phương nghiên cứu cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng phát triển, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số, AI, vi mạch bán dẫn, logistics, kinh tế biển và dịch vụ chất lượng cao. Theo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2025 – 2030, thành phố xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đổi mới sáng tạo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 37 – 40%; có ít nhất 500 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; tỷ trọng kinh tế số đạt 35 – 40% GRDP5.

Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bước đầu đạt kết quả tích cực.

Hiện nay, dưới tác động của quá trình chuyển đổi số và cơ cấu lại nền kinh tế, tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp có xu hướng giảm, trong khi lao động trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao và dịch vụ hiện đại từng bước tăng lên. Quá trình này diễn ra cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và hệ thống hạ tầng số, tạo điều kiện để người lao động tiếp cận môi trường làm việc hiện đại và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.

Tại thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từng bước được hình thành thông qua sự gia tăng của các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, cơ sở ươm tạo và không gian làm việc chung. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số trong quản lý đô thị, phát triển du lịch, cảnh báo thiên tai và cung cấp dịch vụ công tiếp tục được thúc đẩy, góp phần hình thành môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ năm, liên kết vùng trong phát triển nguồn nhân lực bước đầu được tăng cường.

Các địa phương trong vùng đã mở rộng phối hợp trong đào tạo, kết nối thị trường lao động và chia sẻ thông tin phục vụ phát triển nguồn nhân lực. Việc triển khai cơ chế điều phối vùng và các chương trình hợp tác giữa địa phương, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, từng bước hình thành thị trường lao động có tính liên kết cao hơn. Một số địa phương cũng ban hành chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và tư vấn chính sách, tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Điển hình như thành phố Đà Nẵng ban hành chính sách chi trả lương linh hoạt đối với chuyên gia, nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp, nhà khoa học đầu ngành, mức lương được xác định theo 3 bậc gồm: 50 triệu đồng/tháng, 100 triệu đồng/tháng và 150 triệu đồng/tháng.

Ngoài ra, đối với trường hợp thuê khoán công việc hoặc sản phẩm, mức thù lao sẽ được thỏa thuận dựa trên lĩnh vực, yêu cầu, khối lượng công việc, năng lực và kinh nghiệm của ứng viên. Các chi phí đi lại, thuê nhà và chế độ hỗ trợ khác có thể được tính trong hợp đồng. Người có tài năng, năng khiếu đặc biệt trong văn hóa, nghệ thuật, thể thao được hưởng hỗ trợ một lần 100 triệu đồng/người, cùng mức lương đề xuất tối đa 25 triệu đồng/tháng đối với chuyên gia, huấn luyện viên và 20 triệu đồng/tháng đối với văn nghệ sĩ, vận động viên. Bên cạnh đó, người được thu hút còn có thể được hỗ trợ tối đa 50% chi phí lưu trú trong thời gian công tác tại Đà Nẵng, không vượt quá 20 triệu đồng/tháng trong tối đa 1 năm6.

Nhìn chung, mạng lưới cơ sở đào tạo và giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được mở rộng; chất lượng đào tạo, hợp tác quốc tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và liên kết vùng có nhiều chuyển biến tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nguồn nhân lực trong vùng. Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, phát triển nguồn nhân lực của vùng vẫn còn một số hạn chế chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số. Cụ thể:

(1) Chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động. Chương trình đào tạo ở một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp còn chậm đổi mới chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ và nhu cầu doanh nghiệp. Nội dung thực hành, kỹ năng số và kỹ năng đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Vì vậy, nguồn nhân lực có khả năng làm chủ các công nghệ mới, như: AI, Big Data và vi mạch bán dẫn còn thiếu chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số và thu hút đầu tư.

(2) Chất lượng nguồn nhân lực ở một số ngành, lĩnh vực còn thấp. Một bộ phận lao động, nhất là lao động trong các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống còn hạn chế về kỹ năng số, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Trong khi đó, hoạt động đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) chưa được triển khai đồng bộ làm giảm khả năng thích ứng của người lao động trước yêu cầu chuyển đổi số.

(3) Việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao còn gặp nhiều khó khăn. Các địa phương đã ban hành nhiều chính sách thu hút nhân lực, song điều kiện làm việc, cơ hội nghiên cứu và môi trường đổi mới sáng tạo chưa thật sự hấp dẫn, dẫn đến tình trạng dịch chuyển lao động có trình độ chuyên môn cao đến các trung tâm kinh tế lớn. Đồng thời, liên kết giữa các địa phương trong vùng về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực còn hạn chế chưa phát huy được lợi thế của từng địa phương.

(4) Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ. Sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hành và đánh giá chuẩn đầu ra còn hạn chế; hệ thống thông tin, dự báo và cơ sở dữ liệu về thị trường lao động chưa được kết nối đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạch định chính sách và phát triển nguồn nhân lực của vùng. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, do đó, đòi hỏi các địa phương cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lựcvùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động.

Các địa phương trong vùng, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng cường kỹ năng số, ngoại ngữ, năng lực đổi mới sáng tạo và kỹ năng thực hành; đồng thời, chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ mới, như: AI, Big Data, điện toán đám mây (Cloud Computing), IoT và công nghệ vi mạch bán dẫn.

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường đào tạo theo năng lực, học thông qua dự án, thực hành và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Việc ứng dụng AI, nền tảng học tập số và học liệu số cần được triển khai phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và hỗ trợ cá thể hóa quá trình học tập.

Đối với lực lượng lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và doanh nghiệp, cần mở rộng các chương trình đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling), ưu tiên kỹ năng số, kỹ năng sử dụng công nghệ mới, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trung tâm thực hành và hạ tầng số; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội để xây dựng hệ thống học liệu và nền tảng đào tạo dùng chung, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực.

Các địa phương trong vùng cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp theo hướng xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xác định chuẩn đầu ra, tổ chức thực hành, thực tập và đánh giá năng lực người học; có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và phát triển thông qua các cơ chế ưu đãi phù hợp theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng. Nghiên cứu xây dựng cơ chế kết nối thông tin về nhu cầu công nghệ, kết quả nghiên cứu và thị trường khoa học – công nghệ, tạo điều kiện đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách thu hút, sử dụng và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Các địa phương trong vùng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng tạo môi trường làm việc thuận lợi, cơ hội phát triển nghề nghiệp và điều kiện nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú trọng xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, tăng cường quyền tự chủ trong nghiên cứu khoa học, phát triển hạ tầng nghiên cứu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực để đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực chất lượng cao gắn bó lâu dài với địa phương.

Tiếp tục đẩy mạnh liên kết giữa các địa phương trong vùng trong thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; phát huy lợi thế của từng địa phương để hình thành mạng lưới hợp tác về đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, chuyển đổi số trong cung cấp dịch vụ công, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội, góp phần tạo môi trường sống và làm việc thuận lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.

Các địa phương trong vùng cần đổi mới công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, lấy năng lực thực tiễn, khả năng đổi mới sáng tạo và hiệu quả công việc làm tiêu chí quan trọng trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá nguồn nhân lực. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về lao động, việc làm; xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực, kết nối thông tin cung – cầu lao động giữa các địa phương trong vùng, nâng cao chất lượng công tác dự báo nhu cầu nhân lực nhằm phục vụ hiệu quả việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực.

Bên cạnh đó, chú trọng xây dựng văn hóa số và thúc đẩy học tập suốt đời trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người học. Văn hóa số không chỉ là khả năng ứng dụng công nghệ trong công việc mà còn bao gồm tư duy số, kỹ năng khai thác và sử dụng dữ liệu, ý thức bảo đảm an toàn thông tin, tinh thần hợp tác và khả năng thích ứng với môi trường làm việc số. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo; khuyến khích tự học, thường xuyên cập nhật tri thức và công nghệ mới, góp phần hình thành nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của khoa học – công nghệ và yêu cầu của quá trình chuyển đổi số.

Tiếp tục xây dựng cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong vùng trong chia sẻ dữ liệu, dự báo nhu cầu nhân lực và kết nối thị trường lao động; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công về lao động, việc làm. Qua đó, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.

4. Kết luận

Phát triển nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù mạng lưới cơ sở đào tạo, chất lượng giáo dục, hợp tác quốc tế và phát triển nguồn nhân lực của vùng đã có nhiều chuyển biến tích cực, song chất lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực vẫn còn những hạn chế, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ năng số, mối liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn nhân lực.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, các địa phương trong vùng cần triển khai đồng bộ các giải pháp về đổi mới giáo dục và đào tạo, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, hoàn thiện chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển đổi số. Thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát huy vai trò của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 385 – 386.
2. Danh sách các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố. https://startupdanang.vn/danh-sach-cac-truong-dai-hoc-cao-dang-tren-dia-ban-thanh-pho
3. Đại học Huế: Khẳng định uy tín và vị thế từ hợp tác quốc tế. https://huengaynay.vn/giao-duc/dai-hoc-hue-khang-dinh-uy-tin-va-vi-the-tu-hop-tac-quoc-te-151271.html
4. Nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực. https://baoquangngai.vn/nang-tam-chat-luong-nguon-nhan-luc-3573232.html
5. Đà Nẵng ưu tiên nguồn nhân lực chất lượng cao. https://laodong.vn/thoi-su/da-nang-uu-tien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-1575453.ldo
6. Đà Nẵng chi trả lương cao để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cho khu vực công. https://baochinhphu.vn/da-nang-chi-tra-luong-cao-de-thu-hut-nguon-nhan-luc-chat-luong-cho-khu-vuc-cong-102251015112547833.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
4. Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
5. Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết số 15/2025/NQ-HĐND ngày 23/6/2025 về ban hành quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công thành phố Đà Nẵng.
6. Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng (2026). Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 ban hành Quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
7. Thành ủy Huế (2026). Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/4/2026 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035.
8. Ủy ban nhân dân thành phố Huế (2025). Kế hoạch số 478/KH-UBND ngày 31/12/2025 về triển khai thực hiện Chương trình Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố Huế năm 2026.
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2026). Kế hoạch số 38/KH-UBND ngày 04/02/2026 về chuyển đổi số tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2026 – 2030.
10. Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://www.tapchicongsan.org.vn/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/-/2018/1237002/view_content
11. Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới. https://nhandan.vn/khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-la-dong-luc-chu-yeu-cua-mo-hinh-phat-trien-moi-post935453.html.
12. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/12/05/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-dat-nuoc/
13. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/27/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-trong-nen-kinh-te-tri-thuc-o-viet-nam-hien-nay/
14. Quảng Ngãi tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới. https://vov.vn/chinh-tri/quang-ngai-tap-trung-nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-dap-ung-yeu-cau-moi-post1218951.vov
15. Giải pháp tạo việc làm bền vững cho người lao động vùng đồng bằng sông Cửu Long. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/giai-phap-tao-viec-lam-ben-vung-cho-nguoi-lao-dong-vung-dong-bang-song-cuu-long.