Nhận diện yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở hiện nay

Identifying factors affecting the implementation of laws on public investment management for civil construction projects at construction investment project management boards at the grassroots level

Trần Nhật Lệ
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng phường Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh tiếp tục đổi mới tổ chức chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, việc thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở đang đặt ra nhiều yêu cầu và thách thức mới. Bài viết phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật trên các phương diện: thể chế pháp luật, tổ chức bộ máy, năng lực của đội ngũ thực thi, phương thức quản trị công, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành kết hợp với phân tích thực tiễn quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Quản lý đầu tư công; thực hiện pháp luật; dự án công trình dân dụng; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở; chính quyền địa phương hai cấp.

Abstract:Against the backdrop of ongoing reforms to streamline local government organizations to make them leaner, more effective, and more efficient; the promotion of decentralization and devolution of authority coupled with checks on power; and the advancement of digital transformation in public administration, the implementation of laws governing public investment management for civil engineering projects at grassroots-level construction investment project management boards is presenting many new requirements and challenges. This article analyzes the factors influencing the implementation of these laws across the following dimensions: the legal framework, organizational structure, the capacity of the enforcement staff, public governance methods, coordination mechanisms among stakeholders, and the socio-economic development context. Based on a review of current legal provisions combined with an analysis of the practical management of public investment in civil engineering projects, this article proposes several solutions aimed at improving the legal framework, innovate governance approaches, enhance implementation capacity, and strengthen the effectiveness and efficiency of public investment management for civil engineering projects at the grassroots-level construction investment project management boards in the new phase.

Keywords:Public investment management; implementation of laws; civil construction projects; Construction Investment Project Management Boards at the Grassroots Level; two-tier local government.

1. Đặt vấn đề

Đầu tư công là công cụ quan trọng để Nhà nước kiến tạo kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Hiệu quả đầu tư công không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực mà trước hết được quyết định bởi chất lượng thực hiện pháp luật trong toàn bộ chu trình đầu tư, từ quyết định chủ trương đầu tư, lập và triển khai dự án đến nghiệm thu, quyết toán, bàn giao và đưa công trình vào khai thác, sử dụng theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Nói cách khác, thực hiện pháp luật là khâu chuyển hóa ý chí của Nhà nước thành kết quả quản trị cụ thể, bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn ngân sách, phòng ngừa thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng các công trình dân dụng.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và thúc đẩy chuyển đổi số, môi trường thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đã có nhiều thay đổi căn bản. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở không còn chỉ thực hiện chức năng quản lý dự án theo quy trình hành chính truyền thống mà ngày càng trở thành chủ thể quản trị, chịu yêu cầu cao hơn về năng lực tổ chức thực thi, trách nhiệm giải trình, quản trị rủi ro, phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ số.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù hệ thống pháp luật về đầu tư công và xây dựng ngày càng được hoàn thiện, hiệu quả thực hiện pháp luật tại nhiều Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ những bất cập của thể chế mà còn chịu tác động tổng hợp của mô hình tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, năng lực quản trị và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án, chất lượng công trình, hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công và hiệu lực quản lý nhà nước.

Bài viết phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương và quản trị công hiện đại; từ đó đề xuất các định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công trong giai đoạn hiện nay.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng

2.1. Yếu tố thể chế pháp luật và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở chịu sự chi phối trực tiếp của hai yếu tố nền tảng là thể chế pháp luật và mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Thể chế pháp luật xác lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh toàn bộ hoạt động đầu tư công, trong khi mô hình tổ chức chính quyền quyết định cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình thực thi. Sự đồng bộ giữa hai yếu tố này có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực thực hiện pháp luật và hiệu quả quản lý đầu tư công.

Về phương diện thể chế, những sửa đổi của pháp luật về đầu tư công theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới quản lý đầu tư công ở địa phương. Hệ thống pháp luật không chỉ quy định trình tự, thủ tục đầu tư mà còn xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ vòng đời dự án. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và ổn định sẽ tạo điều kiện để Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở tổ chức thực hiện đúng quy định từ khâu chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu đến quyết toán dự án; ngược lại, sự chồng chéo hoặc thiếu thống nhất giữa các quy định có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian xử lý thủ tục và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án cũng như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương đang tạo ra những thay đổi căn bản đối với hoạt động quản lý đầu tư công. Nghị quyết số 18-NQ/TW xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân định rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm soát quyền lực1. Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền và ủy quyền giữa các cấp chính quyền địa phương, tạo nền tảng pháp lý cho việc nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong quản lý nhà nước2. Đồng thời, Luật Đầu tư công năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng được hoàn thiện theo hướng tăng cường quyền chủ động của địa phương, gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý đầu tư công3.

Đối với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở, mô hình chính quyền địa phương hai cấp tác động đến việc thực hiện pháp luật trên ba phương diện chủ yếu.

Thứ nhất, việc tổ chức lại bộ máy chính quyền làm thay đổi cơ chế quản lý, quan hệ công tác và phạm vi thực hiện nhiệm vụ của Ban Quản lý dự án. Tùy theo phương án tổ chức của từng địa phương, Ban Quản lý dự án có thể được sắp xếp hoặc kiện toàn phù hợp với mô hình tổ chức mới, kéo theo sự thay đổi về cơ quan quản lý trực tiếp, phạm vi quản lý và cơ chế phối hợp trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án. Điều này đòi hỏi Ban Quản lý dự án phải nhanh chóng thích ứng với cơ chế quản lý mới, bảo đảm việc thực hiện pháp luật được liên tục, thống nhất và không làm gián đoạn tiến độ thực hiện dự án.

Thứ hai, việc tăng cường phân cấp, phân quyền góp phần nâng cao tính chủ động trong tổ chức thực hiện dự án, rút ngắn quy trình xử lý công việc và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, quyền hạn lớn hơn luôn đi kèm với trách nhiệm cao hơn. Ban Quản lý dự án không chỉ phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật mà còn phải nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát rủi ro, quản lý tiến độ, chất lượng công trình, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công và thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình đối với kết quả thực hiện dự án.

Thứ ba, giai đoạn chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc thực hiện pháp luật. Việc điều chỉnh thẩm quyền, chuyển giao hồ sơ, sắp xếp tổ chức và nhân sự, cũng như thiết lập cơ chế phối hợp mới có thể phát sinh khoảng trống quản lý hoặc chồng chéo trong quá trình thực hiện nếu thiếu hướng dẫn thống nhất và cơ chế điều phối hiệu quả. Điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án, giải ngân vốn đầu tư công và hiệu lực thực thi pháp luật.

Như vậy, từ góc độ quản trị công, hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công không chỉ phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn chịu tác động bởi sự tương thích giữa thiết kế thể chế và mô hình tổ chức thực thi. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư công và tổ chức chính quyền địa phương, cần bảo đảm sự đồng bộ trong phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, thiết lập cơ chế phối hợp liên thông và nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể thực thi. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực thực hiện pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án công trình dân dụng và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương hiện nay.

2.2. Tư duy chính trị và chuyển đổi số trong xây dựng mô hình quản trị công hiện đại

Bên cạnh thể chế pháp luật và mô hình tổ chức chính quyền địa phương, tư duy chính trị và chuyển đổi số đang trở thành những nhân tố quan trọng định hình phương thức thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công. Nếu thể chế xác lập khuôn khổ pháp lý thì tư duy chính trị quyết định định hướng cải cách, còn chuyển đổi số tạo ra phương thức tổ chức thực thi mới. Sự kết hợp của ba yếu tố này đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị công hiện đại, lấy hiệu quả thực thi, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và giá trị công làm mục tiêu.

Định hướng này được khẳng định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khi xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia”4. Đây không chỉ là chủ trương về phát triển công nghệ mà còn là định hướng chính trị đối với việc đổi mới phương thức thực thi quyền lực nhà nước, trong đó quản lý đầu tư công phải được chuyển từ phương thức quản lý dựa chủ yếu vào hồ sơ, thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ số và kết quả thực hiện.

Đối với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở, chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa quy trình nghiệp vụ mà là quá trình tái cấu trúc phương thức quản lý dự án theo hướng tích hợp dữ liệu, kết nối liên thông và ra quyết định trên cơ sở thông tin số. Việc ứng dụng các hệ thống quản lý dự án, hồ sơ điện tử, cơ sở dữ liệu dùng chung và các nền tảng số góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong toàn bộ vòng đời dự án; nâng cao khả năng theo dõi tiến độ, kiểm soát chất lượng, quản lý chi phí, giải ngân vốn đầu tư công và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan. Qua đó, hiệu lực thực hiện pháp luật được củng cố không chỉ thông qua việc bảo đảm tuân thủ quy định mà còn thông qua việc nâng cao chất lượng quản trị và khả năng kiểm soát rủi ro trong quá trình thực thi.

Ở góc độ quản trị công, chuyển đổi số đồng thời làm thay đổi phương thức điều hành của Ban Quản lý dự án. Thay vì quản lý chủ yếu dựa trên quy trình và thủ tục hành chính, mô hình quản trị hiện đại hướng tới quản trị theo mục tiêu, kết quả và hiệu quả sử dụng nguồn lực công; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và đánh giá kết quả thực hiện trên cơ sở dữ liệu khách quan. Điều này đòi hỏi đội ngũ quản lý và viên chức không chỉ đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với môi trường quản trị hiện đại.

Như vậy, tư duy chính trị, chuyển đổi số và quản trị công hiện đại có mối quan hệ thống nhất, tạo động lực đổi mới việc thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng. Hiệu quả thực thi pháp luật trong giai đoạn hiện nay không chỉ phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà ngày càng được quyết định bởi năng lực chuyển đổi số và chất lượng quản trị của các cơ quan thực thi. Vì vậy, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với đổi mới tư duy quản trị, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ và hoàn thiện cơ chế quản trị dựa trên dữ liệu là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đầu tư công trong bối cảnh xây dựng nền hành chính hiện đại và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2.3. Năng lực của các chủ thể thực hiện pháp luật

Trong lý luận về thực hiện pháp luật, chủ thể thực hiện là yếu tố quyết định việc chuyển hóa các quy định pháp luật thành kết quả quản trị trong thực tiễn. Đối với quản lý đầu tư công, dù hệ thống pháp luật được thiết kế đầy đủ và mô hình tổ chức được hoàn thiện, hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc trước hết vào năng lực của đội ngũ trực tiếp tổ chức thực hiện. Vì vậy, năng lực của các chủ thể thực hiện pháp luật là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng.

Trong bối cảnh cải cách hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, viên chức tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở không chỉ dừng ở việc nắm vững các quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng, đấu thầu và ngân sách nhà nước mà còn phải có năng lực quản trị, khả năng phối hợp liên ngành, tư duy đổi mới và năng lực ứng dụng công nghệ số. Năng lực thực thi của các chủ thể, vì vậy trở thành yếu tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện pháp luật trong toàn bộ vòng đời dự án.

(1) Năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý Ban Quản lý dự án

Đội ngũ lãnh đạo, quản lý giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công. Năng lực của nhóm chủ thể này không chỉ thể hiện ở trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý mà còn ở khả năng hoạch định, tổ chức thực hiện, điều phối nguồn lực, kiểm soát rủi ro và ra quyết định trong quá trình triển khai dự án. Trong điều kiện quản trị công hiện đại, người lãnh đạo còn phải có tư duy chiến lược, năng lực quản trị dựa trên dữ liệu, khả năng ứng dụng công nghệ số và năng lực điều phối giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với xu hướng tăng cường phân cấp, phân quyền đã mở rộng quyền chủ động của Ban Quản lý dự án, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình và năng lực điều hành của đội ngũ lãnh đạo. Trong bối cảnh đó, chất lượng thực hiện pháp luật không chỉ phụ thuộc vào việc tuân thủ quy định mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực thi, xử lý tình huống, giải quyết xung đột và bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể tham gia dự án. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ, chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.

(2) Năng lực của viên chức và người lao động trực tiếp thực hiện quản lý dự án

Viên chức và người lao động trực tiếp thực hiện quản lý dự án là lực lượng triển khai các quy định pháp luật trong từng khâu của quá trình đầu tư công. Năng lực của nhóm chủ thể này được thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng vận dụng pháp luật và ý thức tuân thủ các quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong điều kiện chuyển đổi số, yêu cầu này còn được mở rộng sang năng lực sử dụng các nền tảng quản lý số, hồ sơ điện tử, chữ ký số, đấu thầu qua mạng và các hệ thống thông tin phục vụ quản lý đầu tư công.

Thực tiễn cho thấy, sự không đồng đều về trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý dự án và năng lực số giữa các viên chức vẫn là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện pháp luật. Những hạn chế này có thể dẫn đến sai sót trong áp dụng quy định pháp luật, kéo dài thời gian xử lý thủ tục, giảm chất lượng hồ sơ, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án và làm gia tăng rủi ro trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công. Do đó, việc xây dựng đội ngũ viên chức có trình độ chuyên môn vững vàng, kỹ năng nghề nghiệp hiện đại, năng lực số và đạo đức công vụ là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công.

Như vậy, năng lực của các chủ thể thực hiện pháp luật là yếu tố quyết định chất lượng tổ chức thực thi trong quản lý đầu tư công. Trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số, yêu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ lãnh đạo, viên chức và người lao động không chỉ nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật mà còn hướng tới nâng cao chất lượng quản trị công, tăng cường trách nhiệm giải trình và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công.

2.4. Yếu tố kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Bên cạnh các yếu tố thể chế và năng lực của chủ thể thực hiện, bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng tác động ngày càng sâu sắc đến việc thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng. Nếu thể chế pháp luật xác lập khuôn khổ quản lý thì các yếu tố kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế lại tạo ra môi trường vận hành của pháp luật, làm thay đổi điều kiện thực thi, yêu cầu quản trị và mức độ rủi ro trong quá trình triển khai dự án.

Một là, sự vận động của cơ chế thị trường tác động trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật trong quản lý đầu tư công. Những biến động về giá vật liệu xây dựng, nhân công, thiết bị, lãi suất và chuỗi cung ứng có thể làm thay đổi tổng mức đầu tư, tiến độ và hiệu quả thực hiện dự án. Trong bối cảnh đó, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở không chỉ bảo đảm tuân thủ các quy định về quản lý chi phí, quản lý hợp đồng và điều chỉnh dự án mà còn phải chủ động đánh giá, dự báo và kiểm soát rủi ro theo đúng quy định của pháp luật. Điều này cho thấy việc thực hiện pháp luật trong nền kinh tế thị trường không còn mang tính cơ học, mà đòi hỏi sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện trên cơ sở bảo đảm tính hợp pháp, công khai và minh bạch.

Hai là, cơ chế cạnh tranh của kinh tế thị trường làm gia tăng yêu cầu đối với hoạt động lựa chọn nhà thầu và quản lý thực hiện hợp đồng. Sự tham gia của nhiều chủ thể với năng lực, kinh nghiệm và năng lực tài chính khác nhau đòi hỏi Ban Quản lý dự án không chỉ thực hiện đúng các quy định của pháp luật về đấu thầu mà còn phải tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện hợp đồng, kiểm soát chất lượng, tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Như vậy, hiệu quả thực hiện pháp luật không chỉ được đánh giá ở mức độ tuân thủ quy trình mà còn ở khả năng phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế đang tạo ra những yêu cầu mới đối với quản lý đầu tư công theo hướng tiếp cận các nguyên tắc quản trị hiện đại như công khai, minh bạch, cạnh tranh, trách nhiệm giải trình và chuyển đổi số. Quá trình này thúc đẩy việc chuẩn hóa quy trình quản lý, mở rộng ứng dụng công nghệ số, tăng cường công khai thông tin và nâng cao chất lượng giám sát trong toàn bộ chu trình đầu tư công. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu phải từng bước tiếp cận các thông lệ tốt về quản lý dự án, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực thực hiện pháp luật và hiệu quả quản lý nguồn lực công.

Từ góc độ quản trị công, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế không làm thay đổi bản chất của việc thực hiện pháp luật mà làm thay đổi phương thức thực thi pháp luật. Các chủ thể quản lý đầu tư công phải chuyển từ tư duy quản lý thiên về kiểm soát thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả và kiểm soát rủi ro; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu tuân thủ pháp luật với yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư và thích ứng với những biến động của môi trường kinh tế. Đây là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng nền hành chính hiện đại và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, việc thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng chịu sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Thể chế pháp luật và mô hình tổ chức chính quyền địa phương tạo lập nền tảng pháp lý và tổ chức; tư duy chính trị, chuyển đổi số và năng lực của các chủ thể quyết định chất lượng tổ chức thực thi; trong khi kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo ra môi trường vận hành mới, đòi hỏi hoạt động quản lý đầu tư công phải không ngừng đổi mới để vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật, vừa nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực công. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công trong giai đoạn hiện nay.

3. Hàm ý quản trị

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất và ổn định. Cần bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về đầu tư công, xây dựng, đấu thầu, ngân sách nhà nước, đất đai và các quy định có liên quan; đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực. Đây là tiền đề để giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và bảo đảm hiệu lực thực hiện pháp luật trong toàn bộ chu trình đầu tư công.

Thứ hai, đổi mới phương thức quản trị Ban Quản lý dự án theo hướng hiện đại. Hoạt động quản lý cần chuyển từ tư duy quản lý dựa chủ yếu vào quy trình, thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả và hiệu quả thực thi; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý tiến độ, chất lượng, chi phí, hợp đồng và giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá dựa trên các chỉ số hiệu quả thực hiện (KPIs) và trách nhiệm giải trình của từng chủ thể.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực thực thi pháp luật có năng lực quản trị hiện đại. Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực quản trị công, quản trị dự án, quản trị rủi ro, kỹ năng phân tích dữ liệu và năng lực số cho đội ngũ lãnh đạo, viên chức và người lao động. Chất lượng thực hiện pháp luật chỉ có thể được nâng cao khi đội ngũ thực thi có đủ năng lực vận dụng pháp luật linh hoạt, chính xác và thích ứng với yêu cầu đổi mới quản trị.

Thứ tư, tăng cường năng lực thích ứng với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Ban Quản lý dự án cần nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro đối với biến động của thị trường xây dựng, đồng thời tiếp cận các thông lệ tốt về quản lý dự án, kiểm soát nội bộ, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc kết hợp giữa tuân thủ pháp luật với các phương thức quản trị hiện đại sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công và chất lượng các công trình dân dụng.

Thứ năm, xây dựng cơ chế phối hợp và giám sát liên thông giữa các chủ thể thực hiện pháp luật. Hiệu quả quản lý đầu tư công không chỉ phụ thuộc vào từng cơ quan, đơn vị mà còn phụ thuộc vào chất lượng phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án, nhà thầu và các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu, phối hợp xử lý công việc và giám sát xuyên suốt toàn bộ vòng đời dự án, bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Nhìn tổng thể, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công không chỉ là yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật mà còn là quá trình đổi mới đồng bộ thể chế, tổ chức thực thi và phương thức quản trị. Trong bối cảnh xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc hình thành mô hình quản trị đầu tư công hiện đại, dựa trên pháp quyền, dữ liệu, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi sẽ là điều kiện quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công, nâng cao chất lượng các công trình dân dụng và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

4. Kết luận

Thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công đối với các dự án công trình dân dụng tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở là quá trình chịu sự chi phối đồng thời của nhiều yếu tố có mối quan hệ hữu cơ, bao gồm thể chế pháp luật, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tư duy chính trị, chuyển đổi số, năng lực của các chủ thể thực hiện pháp luật, cũng như bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Hiệu quả thực thi pháp luật vì vậy không chỉ phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn được quyết định bởi chất lượng tổ chức thực thi và năng lực quản trị của các cơ quan, đơn vị được giao quản lý đầu tư công.

Trên cơ sở phân tích cơ chế tác động của các yếu tố nêu trên, bài viết khẳng định rằng việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý đầu tư công cần được tiếp cận theo hướng đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình quản trị, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường năng lực thích ứng với yêu cầu của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là yêu cầu của cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công và bảo đảm chất lượng các dự án công trình dân dụng. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật trong quản lý đầu tư công, đồng thời cung cấp một số hàm ý quản trị có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực thi pháp luật tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp cơ sở trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương và xây dựng nền quản trị công hiện đại.

Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
3. Quốc hội (2025). Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
4. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
1. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn đầu tư công tại địa phương. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/02/hieu-qua-dau-tu-cong-trong-boi-canh-cac-rao-can-thuc-thi/
2. Nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/03/16/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-du-an-dau-tu-xay-dung-co-ban-tu-nguon-von-ngan-sach-nha-nuoc/
3. Thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/02/thuc-hien-phap-luat-ve-dau-tu-xay-dung-co-ban-tu-von-ngan-sach-nha-nuoc-thuc-tien-tai-tp-ho-chi-minh/