Protecting the national value system against the threat of cultural invasion
TS. Nguyễn Thị Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích nguy cơ xâm lăng văn hóa đối với hệ giá trị quốc gia Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0. Hệ giá trị quốc gia gồm các giá trị cốt lõi như yêu nước, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc, đóng vai trò nền tảng tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, sự du nhập mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai thông qua truyền thông, mạng xã hội, giải trí và ngôn ngữ đang làm phai nhạt bản sắc dân tộc, ảnh hưởng đến lối sống, nhận thức và niềm tin của giới trẻ. Bài viết cũng chỉ ra nguy cơ “diễn biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng và sự đoàn kết của quốc gia. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ hệ giá trị quốc gia, giữ gìn bản sắc và các giá trị của dân tộc Việt Nam.
Từ khóa: Hệ giá trị quốc gia; xâm lăng văn hóa; bảo vệ nền tảng tư tưởng.
Abstract: This article analyzes the risks of cultural invasion to Vietnam’s national value system in the context of globalization and the Fourth Industrial Revolution. The national value system comprises core values such as patriotism, independence, democracy, justice, civilization, and happiness, serving as the spiritual foundation of the nation. However, the strong influx of foreign culture through media, social media, entertainment, and language is eroding national identity and influencing the lifestyles, perceptions, and beliefs of the younger generation. The article also highlights the risk of “peaceful evolution” on the cultural front aimed at weakening the nation’s ideological foundation and unity. Consequently, it proposes solutions to protect the national value system and preserve the identity and values of the Vietnamese people.
Keywords: National value system, cultural invasion, protecting the ideological foundation.
1. Đặt vấn đề
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc và sức mạnh nội sinh của mỗi quốc gia, dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã hình thành hệ giá trị quốc gia gắn với lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường và những giá trị nhân văn tốt đẹp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tạo điều kiện tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với việc bảo vệ bản sắc và các giá trị văn hóa của dân tộc. Sự du nhập thiếu chọn lọc của các sản phẩm văn hóa ngoại lai thông qua mạng xã hội, truyền thông và công nghệ số đang tác động đến nhận thức, lối sống và hệ giá trị của giới trẻ, ảnh hưởng sâu sắc đến hệ giá trị quốc gia. Vì vậy, sứ mệnh bảo vệ hệ giá trị quốc gia trước những tác động của sự xâm lăng văn hóa này trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
Để nhận diện đầy đủ những tác động của xâm lăng văn hóa đối với Việt Nam hiện nay, trước hết, cần làm rõ nội hàm của hệ giá trị quốc gia cũng như bản chất và biểu hiện của các nguy cơ xâm lăng văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghệ 4.0.
2. Hệ giá trị quốc gia và hiện tượng xâm lăng văn hóa
(1) Hệ giá trị quốc gia
Giá trị là những chuẩn mực, quan niệm về Chân – Thiện – Mỹ, là những điều tốt đẹp mà một cộng đồng, dân tộc cùng chia sẻ và hướng tới. Những giá trị này được tạo lập qua nhiều thế hệ, trải qua thăng trầm của lịch sử xã hội loài người, của quốc gia, cộng đồng, được con người xây dựng, phát triển và gìn giữ.
Hệ giá trị quốc gia là tập hợp những tư tưởng, chuẩn mực và niềm tin cốt lõi được hình thành, chắt lọc qua hàng nghìn năm lịch sử, đóng vai trò định hướng cho sự phát triển quốc gia và là sợi dây gắn kết mọi thành viên trong cộng đồng, là giá trị cốt lõi, phản ánh giá trị chung của con người Việt Nam cũng là mục tiêu chung của cả quốc gia. Những giá trị này được kết tinh lâu đời qua các thế hệ người dân Việt Nam, được phát huy trong hiện tại và dẫn dắt tới tương lai, làm nền tảng, kim chỉ nam, định hướng và dẫn đường cho đất nước.
Theo Vũ Khiêu: Bản sắc giá trị con người Việt Nam được hình thành qua ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo ra những giá trị cao đẹp của Chân, Thiện, Mỹ, đó là “óc mưu trí, sáng tạo”, là “lòng yêu quý đất nước và đồng bào, là tinh thần tôn trọng nhân dân và lòng tận tuy đấu tranh cho lợi ích chung của xã hội” và cả những “hoài bão to lớn luôn luôn muốn làm đẹp thêm cho đất nước”. Hệ giá trị của con người Việt Nam đã được cô đọng trong Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh: yêu thương vô hạn con người, nhất là con người bị áp bức, nghèo khổ; tôn trọng con người; giải phóng con người khỏi áp bức, nô lệ, nghèo khổ, lầm than; khoan dung; sử dụng đúng người.
Hệ thống giá trị quốc gia đã được đề cập trong Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, nhưng phải đến Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) (2014) mới đề ra chủ trương về lãnh đạo xây dựng hệ thống giá trị con người Việt Nam, với mục tiêu: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam”. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các hội thảo khoa học chuyên đề năm 2022, hệ giá trị quốc gia Việt Nam được xác định bao gồm các thành tố: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Đây không chỉ là mục tiêu phấn đấu mà còn là nền tảng nội sinh quan trọng để dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục phát triển quan điểm phát triển con người và văn hóa là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm, lấy mục tiêu “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc”. Đồng thời, giá trị cơ bản và chuẩn mực xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, gồm có: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo Trên cơ sở các quan điểm trên có thể tổng hợp các hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam như sau:
Bảng 1: Các yếu tố cốt lõi của hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam
| STT | Yếu tố cốt lõi | Nội dung và ý nghĩa |
| 1 | Hệ giá trị quốc gia | Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ngoài ra, các giá trị như yêu nước, kỷ cương, tự cường cũng được nhấn mạnh là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước bền vững |
| 2 | Hệ giá trị văn hóa | Dân tộc, dân chủ, nhân văn, pháp quyền. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đóng vai trò là nền tảng giá trị tinh thần của xã hội. |
| 3 | Hệ giá trị gia đình | Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Hệ giá trị này đề cao sự yêu thương, gắn kết giữa cha, mẹ, anh, chị, em và trách nhiệm cá nhân đối với sự ổn định của tế bào xã hội |
| 4 | Chuẩn mực con người | Yêu nước, đoàn kết, tự cường, tình nghĩa, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đây là thước đo văn hóa của đất nước và dân tộc |
Nếu hệ giá trị quốc gia là tinh thần bảo đảm sự ổn định và phát triển của dân tộc, thì xâm lăng văn hóa chính là một trong những nguy cơ có khả năng làm suy yếu nền tảng ấy thông qua quá trình tác động lâu dài lên nhận thức, lối sống và hệ tư tưởng xã hội.
(2) Xâm lăng văn hóa
Văn hóa được coi là khách thể quản lý đa tầng nấc, gồm: tư tưởng, đạo đức, lối sống, các di sản vật thể và phi vật thể, cũng như các thiết chế văn hóa từ trung ương đến cơ sở. Để văn hóa là “ngọn đuốc soi đường cho quốc dân”, cần quản lý hiệu quả, hướng tới xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong các văn kiện của Đảng, luôn khẳng định văn hóa gắn liền với con người, gắn liền với sự trường tồn của dân tộc. Do đó, cần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, nhân cách, lối sống và ý thức tôn trọng pháp luật. Sự trường tồn của văn hóa là lý giải cho những thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam qua nhiều cuộc xâm lược của kẻ thù. Đó là sức mạnh “mềm” của dân tộc Việt Nam khiến kẻ thù sợ hãi nhưng cũng trở thành đối tượng tấn công của những thế lực thù địch. Những nguy cơ xâm lăng văn hóa ngày càng trở nên phức tạp, tăng cao, nguy hiểm và gây hại cho sự phát triển kinh tế và sự ổn định về chính trị ở Việt Nam
Thuật ngữ xâm lăng văn hóa ra đời từ thế kỷ XVI do người châu Âu và châu Mỹ khi nhận định sức mạnh văn hóa của sự thống trị châu Âu về văn hóa hơn hẳn sự thống trị về kinh tế và chính trị. Theo Từ điển tiếng Việt, “xâm lăng” là hành vi đánh phá để cướp nước, chiếm đoạt của người khác. Khái niệm xâm lăng văn hóa được đặt trong thuật ngữ thống trị văn hóa, tức là sự áp đặt cách sống của một quốc gia lên quốc gia khác. Xâm lăng văn hóa là khái niệm phản ánh một chiến lược thâm nhập gián tiếp vào các cộng đồng nhằm áp đặt các ý tưởng, niềm tin và giá trị của một nền văn hóa khác lên các quốc gia yếu thế hoặc từng là thuộc địa. Thuật ngữ này ban đầu gắn với chủ nghĩa đế quốc thô bạo áp đặt văn hóa của đế quốc lên một quốc gia bị đô hộ, nhưng trong bối cảnh hiện nay đã biến thành “tân xâm lăng văn hóa”.
Đặc điểm của xâm lăng văn hóa thể hiện ở sự tách rời khỏi các cuộc xâm lược quân sự trực tiếp. Sự xâm lăng đó chủ yếu dựa trên sức mạnh của một nền kinh tế toàn cầu trong việc tuyên bố bá quyền về lối sống hiện đại, tiêu dùng và chủ nghĩa vật chất. Xâm lăng văn hóa vận hành như một hình thức “xâm lược trí tuệ ẩn mình”, tước đi bản sắc và giá trị của các nền văn hóa khác, khiến họ trở nên phụ thuộc vào các nguồn lực quyền lực mềm một cách tiêu cực. Quá trình này tạo ra sự “tha hóa văn hóa”, biến các cộng đồng thành những thực thể thụ động, tiêu thụ các tư tưởng ngoại lai mà không qua bộ lọc phản biện. Khi căn cốt của văn hóa bị xói mòn, quốc gia đó sẽ rơi vào trạng thái mất phương hướng, không còn khả năng đề kháng trước các áp lực chính trị và kinh tế từ bên ngoài.
Quá trình xâm lăng văn hóa thường diễn ra không phải bằng vũ lực mà thông qua sự thẩm thấu dần dần của các giá trị, lối sống và tư duy từ quốc gia này sang quốc gia khác. Các quốc gia đi xâm lăng dùng quyền lực mềm (soft power) để gây ảnh hưởng đến người dân nước khác thông qua sự thu hút hơn là ép buộc hoặc chính sách kinh tế. Do đó, vấn đề an ninh văn hóa (cultural security) hiện nay được coi là một trụ cột không thể tách rời của an ninh quốc gia. Văn hóa và bản sắc dân tộc là những thành tố liên kết chặt chẽ trong quá trình xây dựng quốc gia; bất cứ khiếm khuyết nào ở các trụ cột này cũng dẫn đến những lỗ hổng an ninh chiến lược. Một xã hội mà căn cốt văn hóa không vững chắc, sẽ dễ bị chia rẽ, bất ổn và mất đi chủ quyền trên nền tảng tinh thần.
Xâm lăng văn hóa không còn dừng lại ở vấn đề thuộc về văn hóa, xã hội và mang tính tính chính trị mà là một vấn đề quan trọng trong an ninh quốc gia hiện đại, là một hình thức, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thể lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, hòng làm lệch chuẩn hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam. Trong thời đại công nghệ số, xâm lăng văn hóa được ngụy trang dưới những “viên đạn bọc đường” đang len lỏi vào tiềm thức của người dân, dần làm băng hoại những giá trị truyền thống tốt đẹp và bản sắc của người dân Việt Nam.
3. Nguy cơ xâm lăng văn hóa đối với hệ giá trị quốc gia
Thứ nhất, sự chiếm lĩnh của văn hóa tinh thần và lối sống ngoại lai.
Sự chiếm lĩnh của văn hóa tinh thần và lối sống ngoại lai thực chất là một hình thái tinh vi của xâm lăng văn hóa trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Sự chiếm lĩnh này được hiểu theo hai phương diện:
(1) Tác động sâu vào hệ tư tưởng nhận thức của người dân, làm thay đổi thế giới quan và niềm tin cốt lõi của họ. Các giá trị ngoại lai được ngụy trang dưới dạng “viên đạn bọc đường”, len lỏi, thẩm thấu vào tiềm thức của người dân thông qua phim ảnh, âm nhạc và mạng xã hội xuyên biên giới. Quá trình này tấn công vào lòng tự hào và sự tự tin của một quốc gia, khiến người dân thấy văn hóa bản địa là lỗi thời hoặc thấp kém hơn so với văn hóa nước ngoài. Như các lễ hội phương Tây (Valentine, Giáng sinh, …) được tổ chức để ăn mừng mà dần phai nhạt sự trân trọng đối với các lễ hội dân tộc như Tết Nguyên đán, Tết Trung thu…, hay các lễ hội truyền thống khác… Sự lệ thuộc về mặt tư tưởng này tạo ra một trạng thái không “có gốc rễ” về văn hóa, nơi các cá nhân từ bỏ hệ giá trị truyền thống để chạy theo trào lưu tư tưởng ngoại lai mà không có kiểm chứng hay lựa chọn.
(2) Sự thay đổi trong các thói quen sinh hoạt và hành vi hàng ngày của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Đối với thói quen sinh hoạt hằng ngày, sự bùng nổ của các chuỗi thức ăn nhanh (KFC, McDonald’s) hay các sản phẩm may mặc phương Tây đã làm thay đổi khẩu vị và thẩm mỹ truyền thống của Việt Nam. Sự áp đảo của các lễ hội ngoại khi mà giới trẻ có xu hướng sùng bái và tham gia nhiệt tình vào các ngày lễ, như: Giáng sinh, Valentine hay Halloween, trong khi lãng quên hoặc không hiểu rõ ý nghĩa của các ngày lễ truyền thống như Tết Nguyên đán hay Tết Trung thu (Tết Nguyên đán giới trẻ có xu hướng đi du lịch mà quên mất “Tết” là để sum vầy là sợi dây liên kết và thực hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam). Đồng thời, việc phổ biến các phong cách giải trí phương Tây khiến giới trẻ mô phỏng các thói quen như xăm mình, nhảy hip-hop hoặc sử dụng ngoại ngữ một cách thái quá, dẫn đến tình trạng “bản sắc phai nhạt”. Sự phổ biến này không chỉ do nhu cầu văn hóa tự thân mà còn do sự thúc đẩy mạnh mẽ của các chiến dịch “tiếp thị” đầy tính toan tính thương mại.
Hệ quả của sự chiếm lĩnh này là tạo ra một thị trường văn hóa một chiều, nơi các sản phẩm và dịch vụ văn hóa của các cường quốc áp đảo thị trường trong nước. Nó dẫn đến việc đánh mất bản sắc văn hóa quốc gia, làm tan rã sự đoàn kết xã hội và tạo ra những lỗ hổng trong an ninh quốc gia hiện đại, khi niềm tin vào các giá trị cốt lõi của dân tộc bị băng hoại.
Thứ hai, thống trị về truyền thông và sự lũng đoạn thị trường giải trí.
Đây là những công cụ then chốt của quá trình xâm lăng văn hóa, cho phép các cường quốc áp đặt các mô hình giá trị và tư tưởng của mình lên các quốc gia khác thông qua con đường kinh tế và công nghệ. Cách thức xâm lăng văn hóa này thể hiện ở sự kiểm soát mang tính thống trị đối với các kênh truyền thông và công nghệ số toàn cầu và sử dụng sức mạnh kinh tế để chiếm lĩnh và điều hướng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng:
Thống trị truyền thông là sự kiểm soát mang tính thống trị đối với các kênh truyền thông và công nghệ số trên toàn cầu. Các quốc gia phát triển phương Tây, đặc biệt là Mỹ, nắm giữ quyền kiểm soát việc phổ biến tin tức và nội dung số nhờ sự tiến bộ của khoa học và công nghệ. Sự bá quyền này đã tạo ra dòng chảy truyền thông một chiều, cội nguồn của các luồng ý tưởng và giá trị chảy từ các trung tâm quyền lực ra khắp thế giới. Sự xâm lăng theo cách thức này là sự thẩm thấu tư tưởng tinh vi; truyền thông không chỉ cung cấp thông tin mà còn làm thay đổi căn bản nhận thức, thế giới quan và niềm tin của cá nhân về lòng tự hào dân tộc của quốc gia bị xâm lăng. Các hệ giá trị và chuẩn mực con người sẽ bị tác động, dần thay đổi chính từ những tài liệu văn hóa được truyền thông này. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của mạng xã hội xuyên biên giới và trí tuệ nhân tạo, việc kiểm soát thông tin ngày càng khó khăn khi các hình thái xâm lăng ngày càng tinh vi và tác động trực tiếp vào đời sống tinh thần của người dân.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các cường quốc sử dụng ưu thế về công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo để kiểm soát luồng thông tin, áp đặt các mô hình giá trị của họ vào tiềm thức của người dân. Sự áp đảo về thị phần của các sản phẩm giải trí từ một số ít quốc gia chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường toàn cầu. Như vậy, truyền thông phương Tây, cùng với sự trỗi dậy của làn sóng Hallyu (Hàn Quốc), đã tạo ra một thị trường giải trí lệch lạc, nơi các giá trị ngoại lai chiếm ưu thế… Đặc biệt nguy hiểm là các sản phẩm văn hóa ngoại lai độc hại cài cắm tinh vi trong nội dung xuyên tạc lịch sử nước nhà, bôi nhọ lãnh tụ hoặc truyền bá kiểu sống không phù hợp với thuần phong mỹ tục.
Bảng 2: Một số biểu hiện xâm lăng văn hóa trong lĩnh vực giải trí
| Lĩnh vực giải trí | Số liệu và biểu hiện xâm lăng | Hệ quả đến hệ giá trị |
| Điện ảnh | Phim Mỹ chiếm 92,4% thị phần thế giới và 60% doanh thu phòng vé toàn cầu. | Truyền bá lối sống Mỹ, chủ nghĩa anh hùng cá nhân và các giá trị vật chất. |
| Hoạt hình/Game | Nhật Bản và Mỹ thống trị thị trường hoạt hình và trò chơi điện tử của trẻ em. | Thay thế các câu chuyện cổ tích dân tộc bằng các hình tượng ngoại lai. |
| Âm nhạc | Các dòng nhạc Pop, Rap, Hip-hop… ngoại thâm nhập sâu vào giới trẻ. | Thay đổi gu thẩm mỹ, bắt chước hành vi (nhai kẹo cao su, xăm mình, nhảy hip-hop…). |
| Phim ảnh cài nội dung | Nhiều bộ phim cài cắm “đường lưỡi bò” xâm phạm chủ quyền. | Gây hiểu lầm về chủ quyền quốc gia, làm lung lay niềm tin chính trị. |
Những sản phẩm này tác động dần đến nhận thức, quan điểm, thế giới quan của người dân, làm xói mòn lòng tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia của lớp trẻ hiện nay.
Thứ ba, sự biến tướng của ngôn ngữ dẫn đến mai một bản sắc dân tộc.
Văn hóa được truyền tải qua ngôn ngữ, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và những giá trị, bản sắc của mỗi dân tộc. Bản sắc văn hóa là phần lõi sâu nhất, ổn định nhất trong hệ thống văn hóa, gắn kết cộng đồng và bảo đảm tính liên tục của văn hóa qua các thế hệ. Ngôn ngữ không chỉ giúp một dân tộc khẳng định vị thế của mình trên bản đồ dân tộc mà còn là cơ sở để tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách chọn lọc và sáng tạo.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, không thể tránh khỏi việc học tập và sử dụng các ngôn ngữ toàn cầu cũng như các ngôn ngữ của các quốc gia có mối quan hệ đối tác về kinh tế, pháp luật, giáo dục, văn hóa… Tuy nhiên, quá trình này đã dần lộ ra những hạn chế khi bị các ngôn ngữ ngoại lai làm thay đổi, lai căng, khiến tiếng Việt dần mất đi sự trong sáng.
Trong lịch sử Việt Nam, trải qua ngàn năm đô hộ của Bắc thuộc, ngôn ngữ Việt Nam đã có những hệ thống từ vựng Hán – Việt. Sau gần 100 năm Pháp thuộc, tiếng Việt cũng đã có những từ vay mượn khi không có từ tương đương hoặc chưa có khái niệm tương ứng. Trong bối cảnh hiện nay, tiếng Việt chịu sự tác động lớn, tạo ra những thay đổi nhanh, mạnh với tốc độ chưa từng có, gây áp lực lớn hoặc buộc phải tự thích nghi để phù hợp với tình hình mới. Sự xâm nhập từ vựng/tiếng của các ngôn ngữ ngoại lai vào tiếng Việt thường xuyên và liên tục diễn ra. Về bản chất, ngôn ngữ nào cũng bổ sung vào kho tàng của mình các vốn từ vựng và ngữ nghĩa có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác. Do vậy, việc du nhập ngôn ngữ ngoại lai không hoàn toàn là điều xấu mà quan trọng là cách sử dụng từ vựng ngoại nhập trong thực tiễn.
Một số hiện tượng xâm lăng văn hóa trong sử dụng ngôn ngữ hiện nay, như:
Trào lưu sính ngoại ngữ dẫn đến sự lãng quên tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống. Việc sính ngoại thái quá, sử dụng ngôn ngữ lai căng, vô tội vạ làm phương hại đến bản sắc văn hóa của dân tộc. Trong lĩnh vực giải trí, các ca sĩ, diễn viên đặt nghệ danh, bố mẹ đặt tên con, hay trong giao tiếp cũng đã bị pha trộn, pha tạp vô tội vạ. Phòng, chống xu hướng lai căng, pha tạp, pha loãng văn hóa dân tộc đã được Đảng ta nhấn mạnh trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam” về việc đấu tranh bảo vệ tiếng nói, chữ viết; yêu cầu chống mọi ảnh hưởng nô dịch, làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng, xa rời quần chúng, trái khoa học, phản tiến bộ…
Ảnh hưởng mạnh mẽ của mạng xã hội dẫn đến sự hình thành ngôn ngữ mạng, từ lóng và các ngôn ngữ ký hiệu mới đang làm biến dạng cách sử dụng từ ngữ truyền thống, đặc biệt trong giới trẻ. Khi mạng xã hội ngày càng trở nên phong phú và phổ biến trong đời sống, được đông đảo tổ chức và cá nhân, nhất là thế hệ trẻ, sử dụng thường xuyên. Cùng với đó là việc hình thành nên “văn hóa ứng xử” trên mạng xã hội để “câu view”, “câu like”, thể hiện cái tôi, cố tình gây chú ý bằng mọi cách…thậm chí thu hút đông đảo người dân tham gia, đắm chìm trong các thông tin của thế giới khác, một nền văn hóa khác với những giá trị khác, thậm chí gồm cả những yếu tố “phản văn hóa” với các biểu hiện đi ngược với giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Chính những tác động đó đã dần thay đổi thói quen, hành vi ứng xử, nhân sinh quan, thế giới quan và lập trường, quan điểm chính trị của người dân.
Thứ tư, nguy cơ chính trị và “diễn biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh đến bốn nguy cơ: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp,….
Nguy cơ chính trị và chiến lược “diễn biến hòa bình trên mặt trận văn hóa là hình thái xâm lược tinh vi nhằm phá hoại tư tưởng và an ninh của một quốc gia mà không cần sử dụng vũ lực quân sự. Thông qua việc sử dụng các “viên đạn bọc đường” để len lỏi vào tiềm thức của người dân làm lệch chuẩn hệ giá trị văn hóa và các chuẩn mực con người, từ đó làm băng hoại những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, trong cuộc tấn công vào lịch sử thông qua chiêu bài “lật sử”, các lực lượng này xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của các sự kiện quan trọng của quốc gia (xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975) nhằm tẩy não thế hệ trẻ và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó, các vấn đề tưởng chừng chỉ dừng lại trong đời sống văn hóa, xã hội đã trở thành một phần quan trọng của an ninh quốc gia hiện đại. Bởi nó không chỉ làm thay đổi nhận thức của người dân về cách thức xây dựng, truyền bá hay thụ hưởng sản phẩm văn hóa mà còn làm suy yếu các nền tảng đề kháng của quốc gia như niềm tin tôn giáo và động lực dân tộc, tạo ra sự phân rã về mặt tư tưởng, làm suy giảm sự đoàn kết và thống nhất của quốc gia. Đây là thủ đoạn mà một số cường quốc sử dụng, thẩm thấu văn hóa như một cách để áp đặt sự thống trị nhằm đạt được mục tiêu chính trị và chiếm lĩnh các quốc gia khác mà không cần dùng quân đội.
4. Giải pháp bảo vệ hệ giá trị quốc gia trước nguy cơ xâm lăng văn hóa
Một là, tăng cường đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực văn hóa.
Đây là giải pháp then chốt để giữ vững định hướng chính trị cho sự phát triển văn hóa thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng chiến lược văn hóa dài hạn. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tránh bị chệch hướng, khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, qua đó hạn chế sự sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cơ sở để quản lý văn hóa đạt hiệu quả. Mặc dù hiện nay việc xây dựng và thực thi các luật, như: Luật Di sản, Luật Điện ảnh, Luật An ninh mạng đã tạo ra hành lang pháp lý nghiêm ngặt để ngăn chặn văn hóa xấu độc, nhưng chưa nghiêm minh trong việc xử lý các hành vi xâm phạm chủ quyền và bản sắc văn hóa trên các nền tảng thông tin khác nhau, đặc biệt là trên không gian mạng. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cần xây dựng các chương trình hợp tác quốc tế về văn hóa để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, đồng thời, tranh thủ nguồn lực đầu tư từ nước ngoài cho lĩnh vực văn hóa và bảo tồn di sản thông qua các hoạt động đối ngoại văn hóa. Qua đó không chỉ quảng bá hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế mà còn truyền bá hệ giá trị quốc gia ra thế giới, để Việt Nam không còn chỉ là nơi hấp thụ mà còn là quốc gia lan tỏa các giá trị tốt đẹp và độc đáo sang các quốc gia khác.
Hai là, giáo dục về hệ giá trị quốc gia và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Cần đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục nhận thức về hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới cho các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ, nhằm chống lại nguy cơ xâm lăng văn hóa như hiện nay. Giáo dục về hệ giá trị cần có sự tham gia tích cực của toàn xã hội theo mô hình phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Giáo dục gia đình là tiền đề, cội nguồn cho sự tiếp thu, lĩnh hội và hình thành các giá trị xã hội, giá trị quốc gia đến từ nhà trường và xã hội. Do đó, việc kiến tạo không gian văn hóa là vai trò, trách nhiệm của mỗi địa phương, cơ quan thông qua việc xây dựng và phát huy các truyền thống tốt đẹp của địa phương mình, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh để ngăn chặn sự nảy sinh các biểu hiện phản văn hóa.
Ba là, phát triển công nghiệp văn hóa, thúc đẩy sáng tạo nội sinh và xây dựng “thế trận lòng dân” trên mặt trận văn hóa.
Khuyến khích các văn nghệ sĩ sáng tạo những tác phẩm mang tinh thần thời đại dựa trên truyền thống. Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa có động lực sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị, góp phần bồi đắp và làm vững chắc hệ giá trị quốc gia. Sử dụng vũ khí công nghệ hiệu quả để lan tỏa giá trị dân tộc trên không gian mạng nội địa, đủ mạnh để thay thế hoặc cân bằng với các sản phẩm ngoại lai.
Mỗi cá nhân cần được trang bị “trái tim Việt Nam” và bản lĩnh chính trị để tự sàng lọc thông tin xấu độc. Tăng cường sự gắn kết giữa Đảng với Nhân dân, củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của độc lập dân tộc làm căn cốt để bài trừ văn hóa xấu độc xâm nhập vào nhận thức và hành vi của người dân.
5. Kết luận
Cuộc chiến bảo vệ hệ giá trị quốc gia trước thách thức xâm lăng văn hóa là một cuộc chiến không tiếng súng nhưng vô cùng cam go và quyết liệt, ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của dân tộc. Trong dòng chảy toàn cầu hóa, bản lĩnh văn hóa của một quốc gia nằm ở khả năng “hòa nhập mà không hòa tan” – biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc trên nền tảng vững chắc của bản sắc dân tộc. Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam cần có thời gian, lộ trình phù hợp và cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị với các giải pháp đồng bộ, kiên trì. Chúng ta cần tạo ra một “màng lọc” văn hóa đủ mạnh bằng cách kết hợp sức mạnh của pháp luật, sự định hướng của giáo dục, sự ấm áp của gia đình và sức sáng tạo của công nghiệp văn hóa.
Cốt lõi của sự bảo vệ nằm ở mỗi người dân. Khi mỗi công dân đều có ý thức tự tôn dân tộc, biết trân trọng những giá trị truyền thống và có bản lĩnh để bác bỏ những thứ “văn hóa xám” độc hại, chúng ta sẽ xây dựng được một pháo đài văn hóa vững chắc. Bảo vệ giá trị quốc gia chính là bảo vệ “ngôi nhà tinh thần” của chúng ta, bảo đảm trong tương lai, các thế hệ mai sau vẫn luôn tự hào là “con rồng cháu tiên”, vươn cao, vươn xa nhưng vẫn luôn nhớ về cội nguồn dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 56.
2. Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội (2024). Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Vũ Khiêu (1996). Bàn về văn hiến Việt Nam. Quyển I. H. NXB. Khoa học xã hội.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/12/19/mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-quan-ly-nha-nuoc-ve-van-hoa/
5. Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/phong-chong-am-muu-thu-doan-xam-lang-van-hoa-cua-cac-the-luc-thu-dich-trong-tinh-hinh-moi
6. Xâm lăng văn hóa trên không gian mạng: Hệ lụy đối với thế hệ Genz và trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên Trường Đại học An ninh nhân dân – Bộ Công an. https://dhannd.bocongan.gov.vn/xam-lang-van-hoa-tren-khong-gian-mang-he-luy-doi-voi-the-he-genz-va-trach-nhiem-cua-doan-vien-thanh-nien-truong-dai-hoc-an-ninh-nhan-dan-a-4180
7. Ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/ngan-chan-su-xam-lang-van-hoa-de-gop-phan-bao-ve-vung-chac-to-quoc-viet-nam-xa-hoi-chu-nghia-746251
8. Đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” trong tình hình hiện nay. https://baobinhphuoc.com.vn/news/1/2778/dau-tranh-chong-xam-lang-van-hoa-trong-tinh-hinh-hien-nay
9. Phòng, chống “xâm lăng văn hóa” trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/ky-nguyen-moi/-/2018/986302/view_content
10. Làm rõ các hệ giá trị: quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. https://baochinhphu.vn/lam-ro-cac-he-gia-tri-quoc-gia-van-hoa-gia-dinh-va-chuan-muc-con-nguoi-viet-nam-102240413225929589.htm



