Nguồn lực phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk: bằng chứng từ kết quả khảo sát

Resources for private sector development in Dak Lak province: evidence from a survey

ThS. Huỳnh Văn Thuấn
Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk
NCS. Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế
PGS. TS. Nguyễn Quang Phục
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
ThS. Nguyễn Văn Tiếp
Thuế tỉnh Quảng Ngãi

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng nguồn lực phát triển kinh tế tư nhân trên cơ sở khảo sát 395 doanh nghiệp ở tỉnh Đắk Lắk. Phương pháp thống kê mô tả đã được sử dụng để đánh giá các nguồn lực phát triển, gồm: tài chính, lao động, công nghệ, thị trường, quản trị và các nguồn lực vật chất, phi vật chất khác. Kết quả khảo sát cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân có nền tảng phát triển rộng nhưng chất lượng nguồn lực chưa đồng đều. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cấp chất lượng nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp tư nhân.

Từ khóa: Chuyển đổi số; Đắk Lắk; kinh tế tư nhân; nguồn lực phát triển; doanh nghiệp tư nhân.

Abstract: This article analyzes the current status of resources for private sector development based on a survey of 395 enterprises in Đắk Lắk Province. Descriptive statistical methods were employed to evaluate development resources, including: financial, labor, technological, market, managerial, and other tangible and intangible resources. The survey results reveal that the private sector possesses a broad development foundation, yet the quality of its resources remains uneven. On this basis, the article proposes policy implications aimed at upgrading resource quality, promoting digital transformation, developing brand identity, and expanding markets for private enterprises.

Keywords: Digital transformation; Đắk Lắk; private sector; development resources; private enterprises.
1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân được xem là động lực chính của tăng trưởng kinh tế và đóng vai trò tạo ra sự phát triển bao trùm ở nhiều quốc gia trên thế giới (Muhamad, Heshmati, & Khayyat, 2020)1. Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân ngày càng được nhìn nhận là một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và mở rộng cơ sở thu ngân sách. Trong bối cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ dừng ở yêu cầu gia tăng số lượng doanh nghiệp mà còn phải chuyển sang nâng cao chất lượng nguồn lực, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới và mức độ tham gia của doanh nghiệp vào các chuỗi giá trị. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra yêu cầu tạo lập môi trường thuận lợi, khơi thông nguồn lực và nâng cao vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế.

Đối với tỉnh Đắk Lắk, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong khai thác lợi thế nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch, phát triển kinh tế biển và kết nối kinh tế vùng. Tuy nhiên, đặc điểm phổ biến của kinh tế tư nhân tại địa phương này là phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tích lũy vốn còn hạn chế, mức độ đổi mới công nghệ chưa cao, thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội địa và phương thức quản trị còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm (Huỳnh Văn Thuấn & Nguyễn Quang Phục, 2026)2. Vì vậy, phân tích nguồn lực phát triển của kinh tế tư nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nhận diện nền tảng phát triển, những giới hạn nội tại và các yêu cầu chính sách trong giai đoạn phát triển mới.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp cho rằng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thành từ việc sở hữu, kiểm soát và khai thác những nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và khó thay thế (Wernerfelt, 1984; Barney, 1991)3. Theo Penrose (1959)4, tăng trưởng của doanh nghiệp phụ thuộc vào cách doanh nghiệp tổ chức và sử dụng các nguồn lực hiện có, đặc biệt, là nguồn lực quản lý và tri thức tích lũy. Tiếp cận năng lực động bổ sung thêm rằng, doanh nghiệp không chỉ cần có nguồn lực, mà còn phải có khả năng tích hợp, tái cấu trúc và đổi mới nguồn lực để thích ứng với môi trường thay đổi (Teece, Pisano, & Shuen, 1997)5.

Từ góc độ phát triển kinh tế tư nhân, nguồn lực không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình như vốn, lao động, đất đai, máy móc, công nghệ và hạ tầng sản xuất mà còn bao gồm các yếu tố vô hình như thương hiệu, uy tín, quan hệ đối tác, tri thức nội bộ, văn hóa doanh nghiệp, tài sản trí tuệ và năng lực quản trị. Nguồn lực tài chính tạo điều kiện đầu tư, mở rộng và chống chịu rủi ro; nguồn nhân lực quyết định năng suất và khả năng hấp thụ công nghệ; nguồn lực công nghệ chi phối năng lực đổi mới; nguồn lực vật chất bảo đảm điều kiện sản xuất; nguồn lực phi vật chất tạo lợi thế khác biệt; nguồn lực thị trường quyết định quy mô tiêu thụ; còn năng lực quản trị là yếu tố kết nối và chuyển hóa các nguồn lực thành kết quả kinh doanh.

Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, khả năng tiếp cận tài chính chính thức, phát triển nhân lực, đổi mới công nghệ và hạ tầng hỗ trợ là những điều kiện quan trọng đối với phát triển khu vực tư nhân. Theo Long, Xu, & Yang (2022)6, việc tiếp cận được nguồn tài chính chính thức có đóng góp rất lớn vào việc cải thiện năng suất của doanh nghiệp. Sự phát triển của ngành ngân hàng trong việc cung cấp tín dụng nội địa là yếu tố then chốt giúp khu vực tư nhân bù đắp những khoảng trống tài chính và đầu tư mở rộng. Van Zyl, Mathafena, & Ras (2017)7 cho rằng, việc thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài xuất sắc giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Theo Debebe & Bessie (2022)8, việc thiếu hụt hoặc gián đoạn các nguồn lực như đường sá, điện, viễn thông và internet làm tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh quốc tế của khu vực tư nhân.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kinh tế tư nhân tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giải phóng, huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và thông tin, đồng thời, giảm rào cản thể chế và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp tư nhân. Theo Nguyễn Thị Hồng Hiến (2025)9 cho rằng, để kinh tế tư nhân phát triển và thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, việc giải phóng, huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực là yếu tố mang tính quyết định, các nguồn lực cốt lõi cho sự phát triển của khu vực kinh tế này bao gồm: vốn, đất đai, nguồn nhân lực, công nghệ và thông tin (Nguyễn Hữu Hải & Nguyễn Văn Trọng, 2025)10. Cần hoàn thiện pháp luật về đất đai nhằm minh bạch hóa quy hoạch, thủ tục giao đất, cho thuê đất và xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế (Nguyễn Xuân Phong & Nguyễn Hữu Dũng, 2025)11.
2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết được sử dụng dữ liệu sơ cấp từ khảo sát 395 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Phiếu khảo sát tập trung vào các nhóm thông tin: đặc điểm doanh nghiệp; vốn; lao động; công nghệ; nguồn lực vật chất và phi vật chất; kết quả sản xuất, kinh doanh; thị trường tiêu thụ; các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân; các yếu tố thuận lợi, khó khăn và kiến nghị chính sách. Dữ liệu được chuẩn hóa trước khi xử lý, trong đó các câu hỏi định lượng được rà soát về đơn vị đo lường và các câu hỏi lựa chọn được tổng hợp theo tần suất.

Phương pháp phân tích chủ yếu là thống kê mô tả và phương pháp so sánh. Đối với các thang đo Likert 5 mức, bài viết tính điểm trung bình và tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn ở các mức để nhận diện mức độ ảnh hưởng. Đối với các câu hỏi mở, nội dung được hệ thống hóa theo nhóm vấn đề nhằm bổ trợ cho diễn giải định lượng.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Đặc điểm mẫu khảo sát

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ cấu doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Đắk Lắk với tỷ trọng lớn thuộc nhóm quy mô nhỏ, phân bố chủ yếu ở khu vực đô thị, ven đô và các địa bàn có điều kiện hạ tầng, thị trường thuận lợi hơn. Dữ liệu thu thập được cấu trúc theo 4 tiêu chí cốt lõi:

(1) Theo loại hình pháp lý: công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm 69,62%), doanh nghiệp tư nhân (19,49%), công ty cổ phần (9,37%), công ty hợp danh (1,27%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (0,25%). Như vậy, nhóm công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân chiếm 89,11% mẫu, phản ánh khá rõ đặc trưng phổ biến của kinh tế tư nhân địa phương là quy mô nhỏ và vừa, quản trị theo mô hình chủ sở hữu hoặc nhóm chủ sở hữu hẹp.

(2) Về địa bàn hoạt động: doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở đô thị (44,1%) và ven đô (18,7%); các địa bàn nông thôn, miền núi, ven biển và khu công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp hơn.

(3) Về ngành nghề: dịch vụ chiếm 56,71%, công nghiệp – xây dựng chiếm 41,01%, còn nông, lâm, thủy sản chiếm 2,28%.

(4) Về thời gian thành lập: doanh nghiệp tập trung nhiều nhất ở giai đoạn 2016 – 2020 (39,49%), tiếp đến là giai đoạn 2001 – 2010 (24,05%), giai đoạn 2011 – 2015 (23,04%), giai đoạn 2021 – 2023 (9,62%). Cơ cấu này cho thấy, khu vực doanh nghiệp tư nhân của tỉnh có nền tảng phát triển tương đối rộng nhưng tuổi đời doanh nghiệp nhìn chung chưa dài, khả năng tích lũy kinh nghiệm, vốn, công nghệ và thương hiệu còn cần tiếp tục củng cố.
3.2. Nguồn lực tài chính và lao động

Thứ nhất, nguồn lực tài chính. Kết quả khảo sát Bảng 1 cho thấy, quy mô vốn của phần lớn doanh nghiệp còn nhỏ. Vốn điều lệ bình quân đạt 13,64 tỷ đồng/ doanh nghiệp, nhưng trung vị chỉ đạt 2,00 tỷ đồng/ doanh nghiệp, phản ánh sự phân hóa đáng kể giữa một số ít doanh nghiệp quy mô lớn và đa số doanh nghiệp nhỏ. Nhóm vốn từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng chiếm 51,39% mẫu; nhóm từ 5 đến dưới 10 tỷ đồng chiếm 17,47%; trong khi nhóm từ 50 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 3,04%. Cơ cấu vốn cũng cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào vốn chủ sở hữu: vốn chủ sở hữu chiếm bình quân 84,94%, vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 9,63%, vốn từ đối tác góp 3,84% và nguồn khác 1,58%. Đáng chú ý, 331/395 doanh nghiệp (83,80%) cho biết không tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi.

Bảng 1. Đặc điểm nguồn lực tài chính và lao động của doanh nghiệp được khảo sát

Nhóm nguồn lựcMô tảKết quả
  Tài chínhVốn điều lệ bình quân/trung vị13,64 tỷ đồng/ doanh nghiệp; trung vị 2,00 tỷ đồng/ doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 1 đến dưới 5 tỷ đồngChiếm 51,39%
Cơ cấu vốn bình quânVốn chủ sở hữu 84,94%; vốn vay ngân hàng 9,63%
Doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ưu đãiChiếm 83,80%
Lao độngLao động bình quân; trung vị20,56 người/ doanh nghiệp; trung vị 6 người/ doanh nghiệp
Doanh nghiệp siêu nhỏ (≤10 lao động)75,70%; sử dụng 20,39% tổng lao động
Cơ cấu trình độ lao độngĐại học trở lên 19,34%; Trung cấp, cao đẳng 41,94%; phổ thông 38,72%
Biến động lao động 2022-2024Tuyển mới 1.568; sa thải 1.259; tăng ròng 309 người
Nguồn: Số liệu khảo sát và tính toán của tác giả, 2025.

Thứ hai, nguồn lực lao động. Hiện nguồn lực lao động có quy mô nhỏ và phân hóa mạnh. Tổng số lao động của mẫu là 8.120 người, bình quân 20,56 lao động/ doanh nghiệp nhưng trung vị chỉ 6 lao động/doanh nghiệp. Có 299 doanh nghiệp, tương đương 75,70% mẫu, thuộc nhóm siêu nhỏ (từ 10 lao động trở xuống) và chỉ sử dụng 20,39% tổng số lao động. Ngược lại, 8 doanh nghiệp lớn (trên 200 lao động) chiếm 2,03% số doanh nghiệp nhưng sử dụng 40,06% tổng lao động. Cơ cấu lao động nghiêng về lao động trực tiếp (88,53%), trong khi lao động gián tiếp, quản trị, R&D, marketing còn mỏng. Lao động trình độ đại học trở lên chiếm 19,34%, trung cấp/cao đẳng 41,94% và lao động phổ thông 38,72%. Giai đoạn 2022 – 2024, số lao động tuyển mới đạt 1.568 người, số lao động bị sa thải 1.259 người, tăng ròng 309 người cho thấy, xu hướng mở rộng lao động còn thận trọng.
3.3. Nguồn lực công nghệ, vật chất và phi vật chất

Một là, nguồn lực công nghệ. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong mẫu chủ yếu ở mức trung bình. Trong số phản hồi hợp lệ, 72,41% doanh nghiệp tự đánh giá công nghệ sản xuất hiện tại ở mức trung bình, 18,48% ở mức lạc hậu, 7,59% ở mức hiện đại và chỉ 0,25% ở mức rất hiện đại. Nguồn công nghệ chủ yếu là mua trong nước (76,08% số phản hồi hợp lệ); tỷ lệ tự nghiên cứu đạt 24,68%, liên kết chuyển giao đạt 19,34%, còn nhập khẩu công nghệ chỉ đạt 5,60%. Chi phí đầu tư đổi mới công nghệ bình quân bằng 1,74% doanh thu hằng năm, trung vị 0,30%, cho thấy mức đầu tư đổi mới còn rất thấp. Chuyển đổi số mới ở giai đoạn ban đầu: 142/395 doanh nghiệp (35,95%) cho biết có sử dụng công nghệ số/chuyển đổi số; 13/395 doanh nghiệp (3,29%) có sở hữu hoặc khai thác bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền.

Bảng 2. Nguồn lực công nghệ, vật chất và phi vật chất của doanh nghiệp được khảo sát

Nội dungMô tảKết quả
Công nghệCông nghệ trung bình/lạc hậu72,41% trung bình; 18,48% lạc hậu (trong số phản hồi hợp lệ)
Nguồn gốc công nghệMua trong nước 76,08%; nhập khẩu 5,60%
Đầu tư đổi mới công nghệ/doanh thuBình quân 1,74%; trung vị 0,30%
Chuyển đổi sốDoanh nghiệp có sử dụng công nghệ số/chuyển đổi số142/395 doanh nghiệp; 35,95%
Tài sản trí tuệDoanh nghiệp có bằng sáng chế/nhãn hiệu/bản quyền13/395 doanh nghiệp; 3,29%
Vật chất và phi vật chấtKhông đồng ý rằng đủ máy móc, thiết bị75,70%
Không đồng ý rằng hạ tầng kỹ thuật luôn bảo đảm63,70%
Đồng ý rằng chưa chú trọng thương hiệu, hình ảnh72,90%
Nguồn: Số liệu khảo sát và tính toán của tác giả, 2025.

Hai là, nguồn lực vật chất và phi vật chất. Đây là nguồn lực bộc lộ nhiều khoảng trống. Với thang đo Likert 5 mức, có 75,7% doanh nghiệp không đồng ý/hoàn toàn không đồng ý với nhận định “doanh nghiệp hiện có đủ máy móc, thiết bị để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh”; 63,7% không đồng ý/hoàn toàn không đồng ý với nhận định hạ tầng kỹ thuật như điện, nước, xử lý môi trường tại cơ sở sản xuất luôn được bảo đảm; 61,1% không đồng ý/hoàn toàn không đồng ý với nhận định phương tiện vận chuyển bảo đảm nhu cầu logistics và giao hàng kịp thời. Đối với nguồn lực phi vật chất, 72,9% doanh nghiệp đồng ý/hoàn toàn đồng ý rằng doanh nghiệp chưa chú trọng đúng mức đến việc xây dựng thương hiệu và hình ảnh; chỉ 15,7% đồng ý/hoàn toàn đồng ý rằng, doanh nghiệp sở hữu hoặc khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ. Điều này cho thấy thương hiệu, tài sản trí tuệ, tri thức nội bộ và văn hóa đổi mới vẫn là điểm yếu đáng chú ý của kinh tế tư nhân địa phương.
3.4. Hiệu quả kinh doanh và thị trường

Bảng 3 cho thấy, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân trong mẫu khảo sát có sự phân hóa rõ rệt. Mặc dù tổng doanh thu đạt trên 10.866 tỷ đồng, doanh thu trung vị chỉ khoảng 5,10 tỷ đồng/doanh nghiệp, phản ánh đặc điểm phổ biến là đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Thị trường tiêu thụ còn phụ thuộc rất lớn vào thị trường nội địa, trong khi tỷ lệ doanh thu xuất khẩu và tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu chính ngạch còn thấp. Kênh bán hàng trực tiếp vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối cho thấy, mức độ tham gia thương mại điện tử và các kênh phân phối hiện đại còn hạn chế. Về hiệu quả kinh doanh, phần lớn doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế dương, song mức lợi nhuận còn thấp; đóng góp ngân sách cũng tập trung vào một số doanh nghiệp lớn. Điều này cho thấy, khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân Đắk Lắk còn chưa đồng đều, đặt ra yêu cầu hỗ trợ mở rộng thị trường, nâng cao năng lực quản trị, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Bảng 3. Kết quả kinh doanh và đặc điểm thị trường của doanh nghiệp được khảo sát

Nhóm chỉ tiêuMô tảKết quả
Doanh thuTổng doanh thu năm gần nhất của các doanh nghiệp có phản hồi hợp lệ10.866,75 tỷ đồng
Doanh thu trung vịKhoảng 5,10 tỷ đồng/ doanh nghiệp
Cơ cấu thị trườngTỷ lệ doanh thu nội địa bình quân theo doanh nghiệp97,17%
Tỷ lệ doanh thu xuất khẩu bình quân theo doanh nghiệp2,58%
Kênh tiêu thụDoanh nghiệp sử dụng kênh bán hàng trực tiếp97,43% số doanh nghiệp có phản hồi hợp lệ
Doanh nghiệp sử dụng sàn thương mại điện tử2,57% số doanh nghiệp có phản hồi hợp lệ
Doanh nghiệp có xuất khẩu chính ngạch3,08% số doanh nghiệp có phản hồi hợp lệ
Hiệu quả kinh doanhDoanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế dương337/391 doanh nghiệp
Doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế dương nhưng dưới 100 triệu đồng222 doanh nghiệp
Đóng góp ngân sáchTổng số nộp ngân sách giai đoạn 2022–2024128,23 tỷ đồng
Tỷ trọng nộp ngân sách của DN nộp nhiều nhất44,34% tổng số nộp ngân sách của mẫu
Nguồn: Số liệu khảo sát và tính toán của tác giả, 2025.

3.5. Rào cản trong tiếp cận và chuyển hóa nguồn lực

Các rào cản hiện tại cho thấy điểm nghẽn nguồn lực vừa nằm ở điều kiện tiếp cận bên ngoài, vừa nằm ở năng lực nội tại của doanh nghiệp. Có 92,91% doanh nghiệp lựa chọn thiếu vốn và khó tiếp cận tín dụng là rào cản; 77,97% lựa chọn thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh; 76,71% lựa chọn thủ tục hành chính rườm rà; 76,71% lựa chọn thiếu lao động có tay nghề cao; 69,11% lựa chọn chi phí vận hành cao. Khi dự báo tương lai, các yếu tố được doanh nghiệp lựa chọn nhiều nhất là chất lượng nguồn lao động, nhất là lao động có tay nghề kỹ thuật cao (80,76%); năng lực quản trị, điều hành còn yếu (75,44%); hạn chế tiếp cận hoặc mở rộng mặt bằng (69,87%); hạ tầng chưa đồng bộ (60,25%); nguồn vốn và tín dụng hạn chế (56,96%). Như vậy, nếu rào cản hiện tại thiên về vốn, mặt bằng và thủ tục thì rào cản dài hạn chuyển mạnh sang nhân lực, quản trị, công nghệ và khả năng thích ứng với mô hình phát triển mới.

Bảng 4. Các rào cản chủ yếu trong tiếp cận và chuyển hóa nguồn lực của DN được khảo sát



Nhóm vấn đề
Rào cản/điểm nghẽnTỷ lệ DN lựa chọn (%)
Hiện tại  Thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn tín dụng92,91
Thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh77,97
Thủ tục hành chính rườm rà76,71
Thiếu lao động có tay nghề cao76,71
Chi phí vận hành cao69,11
Dự báo  Hạn chế chất lượng nguồn lao động, nhất là lao động kỹ thuật cao80,76
Năng lực quản trị, điều hành còn yếu75,44
Hạn chế tiếp cận hoặc mở rộng mặt bằng sản xuất, kinh doanh69,87
Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ60,25
Nguồn vốn và tín dụng hạn chế56,96
Nguồn: Số liệu khảo sát và tính toán của tác giả.

4. Đánh giá kết quả
Từ kết quả khảo sát có thể rút ra bốn vấn đề chính.

Thứ nhất, kinh tế tư nhân của tỉnh Đắk Lắk đã hình thành nền tảng phát triển rộng nhưng chất lượng nguồn lực chưa tương xứng. Số lượng doanh nghiệp và phạm vi hoạt động khá đa dạng, song quy mô vốn, lao động, lợi nhuận và thị trường của phần lớn doanh nghiệp còn nhỏ. Điều này phù hợp với đặc trưng của kinh tế tư nhân ở nhiều địa phương: phát triển nhanh về số lượng nhưng chậm về chất lượng nguồn lực.

Thứ hai, nguồn lực tài chính và mặt bằng sản xuất vẫn là điều kiện nền tảng nhưng trong dài hạn, nguồn nhân lực, công nghệ và quản trị mới là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh. Kết quả khảo sát cho thấy, vốn tự có chiếm tỷ trọng cao, tiếp cận vốn ưu đãi thấp, trong khi công nghệ chủ yếu ở mức trung bình và chuyển đổi số chưa phổ biến. Nếu chỉ hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng tháo gỡ vốn và thủ tục mà không đồng thời nâng cấp năng lực quản trị, nhân lực và công nghệ, hiệu quả chính sách sẽ khó bền vững.

Thứ ba, nguồn lực phi vật chất là khoảng trống lớn của kinh tế tư nhân Đắk Lắk. Thương hiệu, uy tín, sở hữu trí tuệ, tri thức nội bộ và văn hóa đổi mới chưa được đầu tư tương xứng, mặc dù doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức rõ vai trò của các yếu tố này. Đây là nguyên nhân làm cho giá trị gia tăng của sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường và sức cạnh tranh dài hạn còn hạn chế.

Thứ tư, thị trường và kênh tiêu thụ còn thiên về truyền thống, làm giảm khả năng mở rộng không gian phát triển. Tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu chính ngạch và sử dụng thương mại điện tử còn rất thấp. Trong bối cảnh kinh tế số, kinh tế xanh và hội nhập sâu hơn, năng lực thị trường cần được xem là một nguồn lực chiến lược, không chỉ là đầu ra thụ động của sản xuất.
5. Kết luận và hàm ý chính sách

Bài viết đã phân tích nguồn lực phát triển của kinh tế tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở khảo sát 395 doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, kinh tế tư nhân địa phương có nền tảng phát triển rộng, duy trì được hoạt động sản xuất, kinh doanh và đóng góp vào việc làm, doanh thu, lợi nhuận, ngân sách. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lực còn chưa đồng đều: vốn nhỏ, khả năng tiếp cận vốn ưu đãi hạn chế, lao động trình độ cao còn thiếu, công nghệ chủ yếu ở mức trung bình, chuyển đổi số chưa phổ biến, tài sản trí tuệ ít, thương hiệu còn yếu, kênh tiêu thụ truyền thống và thị trường chủ yếu là nội địa. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm chính sách từ hỗ trợ chung sang nâng cấp chất lượng nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách sau:

Một là, nâng cao khả năng tiếp cận vốn và đa dạng hóa nguồn tài chính cho doanh nghiệp tư nhân. Tỉnh cần tăng cường kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ tài chính, phương án kinh doanh, minh bạch sổ sách và khả năng quản trị dòng tiền. Các chương trình vốn ưu đãi cần được thiết kế theo hướng dễ tiếp cận hơn, gắn với mục tiêu đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm chủ lực và tham gia chuỗi giá trị.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật, nhân lực quản trị và nhân lực số. Chính quyền địa phương cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường đại học, hiệp hội doanh nghiệp và doanh nghiệp; hỗ trợ đào tạo lại lao động; xây dựng chương trình bồi dưỡng quản trị cho chủ doanh nghiệp, quản lý cấp trung, kế toán – tài chính, marketing, quản trị nhân sự và chuyển đổi số. Đối với doanh nghiệp nhỏ, cần có các gói tư vấn trực tiếp, ngắn hạn, thực hành, phù hợp năng lực tiếp nhận.

Ba là, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và chuyển đổi số theo lộ trình. Chính sách không nên chỉ dừng ở tuyên truyền, mà cần hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng số, lựa chọn giải pháp phù hợp, chi phí hợp lý; khuyến khích ứng dụng phần mềm quản trị, kế toán, bán hàng, quản lý kho, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và marketing số. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp lớn.

Bốn là, phát triển mặt bằng sản xuất, hạ tầng logistics và dịch vụ hỗ trợ phù hợp với quy mô doanh nghiệp tư nhân. Đắk Lắk cần quy hoạch quỹ đất, cụm công nghiệp, kho bãi, trung tâm logistics, không gian sản xuất chung hoặc hạ tầng dùng chung cho DN nhỏ và vừa. Việc tiếp cận mặt bằng cần minh bạch, ổn định, chi phí hợp lý, tránh tạo thêm gánh nặng cố định cho doanh nghiệp.

Năm là, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, tài sản trí tuệ và chuẩn hóa sản phẩm. Tỉnh cần có chương trình tư vấn đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng, bản quyền, mã số mã vạch, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc; ưu tiên các ngành có lợi thế như nông sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm OCOP, du lịch, dịch vụ đặc thù. Đây là hướng quan trọng để chuyển nguồn lực phi vật chất thành lợi thế cạnh tranh.

Sáu là, mở rộng nguồn lực thị trường thông qua xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và liên kết chuỗi. Cần hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối cung – cầu, sàn thương mại điện tử, chuỗi phân phối trong nước, nền tảng xuất khẩu chính ngạch và liên kết với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp lớn. Chính sách hỗ trợ thị trường cần đi kèm đào tạo về tiêu chuẩn sản phẩm, hợp đồng, thanh toán, logistics, marketing số và quản trị rủi ro.

Như vậy, nâng cấp nguồn lực phát triển là chìa khóa để kinh tế tư nhân Đắk Lắk chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Khi nguồn lực tài chính, nhân lực, công nghệ, vật chất, phi vật chất, thị trường và quản trị được củng cố đồng bộ, khu vực tư nhân sẽ có điều kiện đóng góp hiệu quả hơn vào tăng trưởng, việc làm, ngân sách và năng lực cạnh tranh của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tới.
Chú thích:
1. Muhamad, G. M., Heshmati, A., & Khayyat, N. T. (2020). The dynamics of private sector development in natural resource dependent countries. Global Economic Review, 49(4), 396–421. https://doi.org/10.1080/1226508X.2020.1821745
2. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh mới. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/giai-phap-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-tinh-dak-lak-trong-boi-canh-moi-158824.html
3. Wernerfelt, B. (1984). A resource-based view of the firm. Strategic Management Journal, 5(2), 171–180.
4. Penrose, E. T. (1959). The theory of the growth of the firm. Oxford University Press.
5. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509–533.
6. Long, C. X., Xu, L. C., & Yang, J. (2022). The government, private firms, and dual-track private sector development: China’s experience in two crucial decades. Journal of Government and Economics, 6, 100037. https://doi.org/10.1016/j.jge.2022.100037
7. Van Zyl, E. S., Mathafena, R. B., & Ras, J. (2017). The development of a talent management framework for the private sector. SA Journal of Human Resource Management, 15, Article a820. https://doi.org/10.4102/sajhrm.v15i0.820
8. Debebe, S., & Bessie, S. (2022). Private sector development in Ethiopia: Trends, challenges and policy issues (Policy Working Paper No. 04/2022). Ethiopian Economics Association.
9. Nguyễn Thị Hồng Hiến (2025). Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Tạp chí Giáo dục xã hội, số kỳ I (tháng 6), tr. 339 – 343.
10. Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Văn Trọng (2025). Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Rào cản và giải pháp. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển (Journal of Scientific Research and Development), Tập 4, số 3, tr. 10 – 18.
11. Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Hữu Dũng (2025). Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất. Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động, số kỳ 1 (tháng 7), tr. 98 – 102.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Tỉnh ủy Đắk Lắk. (2025). Kế hoạch số 10-KH/TU ngày 12/8/2025 về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2025). Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW và Kế hoạch số 10-KH/TU ngày 12/8/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh mới. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/giai-phap-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-tinh-dak-lak-trong-boi-canh-moi-158824.html
5. Barney, J. B. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99 – 120.
6. Githaiga, P. N. (2019). Foreign remittances, private sector investment and banking sector development. Journal of Economics and Financial Analysis, 3(2), 85–112. https://doi.org/10.1991/jefa.v3i2.a29