Creative application of Marxism–Leninism and Ho Chi Minh Thought in the development of the cooperative model in Vietnam
TS. Hoàng Thị Bích Loan
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác, liên kết và phát huy sức mạnh của người lao động, Việt Nam đã từng bước xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Bài viết phân tích quá trình vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển hợp tác xã ở Việt Nam. Từ đó, khẳng định hợp tác xã kiểu mới không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân mà còn là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Từ khóa: Kinh tế tập thể; hợp tác xã; kinh tế thị trường; chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh.
Abstract: In the process of developing a socialist-oriented market economy in Vietnam, the collective economy, with cooperatives serving as its core, has consistently played an important role in promoting economic development while ensuring social progress and equity. Building upon and creatively applying the principles of Marxism-Leninism and Ho Chi Minh Thought on cooperation, association, and the mobilization of workers’ collective strength, Vietnam has gradually developed a new-generation cooperative model that is compatible with the market economy and the requirements of international integration. This article analyzes Vietnam’s creative application of the principles of Marxism–Leninism and Ho Chi Minh Thought in the development of cooperatives. It argues that the new-generation cooperative model not only contributes to improving production efficiency and enhancing people’s livelihoods but also serves as compelling evidence of the soundness of Vietnam’s socialist-oriented market economy development path.
Keywords: Collective economy; cooperatives; market economy; the principles of Marxism-Leninism; Ho Chi Minh Thought.
1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, các hình thức tổ chức kinh tế mang tính hợp tác, tương trợ lẫn nhau đã xuất hiện từ rất sớm, phản ánh nhu cầu cố hữu của con người về sự đoàn kết để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, chỉ đến khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, làm nảy sinh những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc và sự bất bình đẳng trong phân phối thì mô hình hợp tác xã mới thực sự được quan tâm nghiên cứu và phát triển như một giải pháp tiềm năng để khắc phục những hạn chế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác – Lênin, với tư cách là học thuyết khoa học về sự phát triển của xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã dành sự quan tâm đặc biệt đến mô hình hợp tác xã. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ C. Mác, Ph. Ăng-ghen đến V.I. Lênin, đã có những phân tích sâu sắc về bản chất, vai trò, vị trí và con đường phát triển của hợp tác xã trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, đặc biệt là trong quá trình chuyển biến lên chủ nghĩa xã hội. Họ không chỉ nhìn nhận hợp tác xã như một hình thức tổ chức kinh tế đơn thuần mà còn coi đó là một công cụ quan trọng để giáo dục, tập hợp quần chúng lao động, từng bước xã hội hóa sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới.
Kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của Việt Nam – một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến. Người không chỉ nhìn nhận hợp tác xã dưới góc độ kinh tế mà còn xem đây là một hình thức tổ chức mang tính xã hội sâu sắc, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân và xây dựng nền tảng cho chủ nghĩa xã hội. Người đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ trong xây dựng hợp tác xã, coi đó là điều kiện tiên quyết để mô hình này phát triển bền vững; đồng thời, Người khẳng định: hợp tác xã phải làm cho dân hiểu, dân tin và dân tự giác tham gia, qua đó thể hiện rõ tư tưởng lấy con người làm trung tâm và coi trọng vai trò chủ thể của quần chúng trong phát triển kinh tế tập thể.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hợp tác xã
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phát triển của xã hội được quyết định bởi mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, đòi hỏi phải có những hình thức sở hữu và tổ chức sản xuất phù hợp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu là tất yếu khách quan. Trong đó, sở hữu tập thể giữ vai trò quan trọng như một hình thức trung gian, góp phần chuyển hóa nền sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn xã hội hóa. C.Mác đã chỉ ra trong Bộ Tư bản rằng: “Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội mâu thuẫn với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa”1 (4). Điều này cho thấy, xu hướng tất yếu của lịch sử là tiến tới các hình thức sở hữu mang tính xã hội cao hơn, trong đó có sở hữu tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã.
Phát triển quan điểm của C.Mác, V.Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hợp tác xã trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong tác phẩm Bàn về hợp tác xã, ông viết: “Chế độ hợp tác xã, trong điều kiện của chúng ta, trùng hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa”2. V.Lênin coi hợp tác xã là con đường trực tiếp để đưa nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi. Đây là luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, khẳng định rằng kinh tế tập thể không phải là sự áp đặt hành chính mà phải dựa trên lợi ích thực tiễn của người dân.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã
Kế thừa và phát triển sáng tạo những nguyên lý cuả chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách Mệnh và nhiều bài viết sau này, Người nhấn mạnh vai trò của hợp tác và đoàn kết trong phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong bài “Hợp tác xã nông nghiệp” (1959), Người khẳng định: Hợp tác xã là do dân tự nguyện tổ chức, vì lợi ích của dân mà làm. Người cũng chỉ rõ rằng phát triển hợp tác xã phải tiến hành từng bước, không nóng vội, phải làm cho người dân “hiểu, tin và tự giác làm”3. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát triển hợp tác xã không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ giữa những người lao động. Người nhấn mạnh, việc xây dựng hợp tác xã phải được tiến hành từng bước, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và nhận thức của người dân, tránh nóng vội hoặc áp đặt hành chính.
2.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tập thể
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước cụ thể hóa thành đường lối phát triển kinh tế tập thể phù hợp với từng giai đoạn. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển”4. Đây là sự khẳng định rõ ràng về vị trí và vai trò của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới đã nhấn mạnh: “Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển lâu dài”. Nghị quyết cũng chỉ rõ yêu cầu phát triển hợp tác xã kiểu mới gắn với chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn mới.
3. Quá trình vận dụng sáng tạo lý luận hợp tác xã ở Việt Nam
Trước đổi mới, Việt Nam xây dựng các hợp tác xã kiểu cũ – là giai đoạn thực hiện chính sách tập thể hóa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Mục tiêu chính là xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đưa sản xuất nhỏ lẻ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Trong thời kì này mô hình hợp tác xã mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc tập hợp nông dân, ổn định sản xuất, góp phần bảo đảm lương thực trong chiến tranh, nhưng mô hình hợp tác xã kiểu cũ bộc lộ nhiều hạn chế: năng suất thấp, hiệu quả kinh tế kém, thiếu động lực, bộ máy cồng kềnh, kém năng động, không phát huy được quyền làm chủ thực sự của thành viên.
Từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) với chủ trương Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình hợp tác xã cũng phải tự đổi mới để phù hợp với định hướng và sự phát triển. Do đó, việc hình thành các hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tất yếu. Việc hình thành các hợp tác xã kiểu mới đã khắc phục tính tự phát, manh mún của kinh tế hộ: Kinh tế hộ gia đình, dù có vai trò quan trọng, nhưng vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, khó tiếp cận thị trường lớn, công nghệ cao. Hợp tác xã là cầu nối giúp các hộ liên kết lại, tạo ra quy mô lớn hơn để cạnh tranh và hội nhập.
Thực tiễn cho thấy, nhiều hợp tác xã đã phát huy tốt vai trò của mình trong việc liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học, công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã đã trở thành cầu nối quan trọng giữa nông dân với doanh nghiệp và thị trường, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Những năm qua, kinh tế tập thể ở Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực. Nhiều hợp tác xã đã chuyển đổi sang mô hình kiểu mới, hoạt động hiệu quả hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn.
Giai đoạn 2020 – 2025, chứng kiến sự phát triển đan xen giữa mở rộng về số lượng và những hạn chế về quy mô, hiệu quả của khu vực hợp tác xã tại Việt Nam. Tính đến năm 2023, cả nước có trên 31.700 hợp tác xã, 158 liên hiệp hợp tác xã và khoảng 73.000 tổ hợp tác. Riêng năm 2024, cả nước ghi nhận 1.942 hợp tác xã thành lập mới5. Tính đến hết năm 2025, cả nước có 35.041 hợp tác xã6. Điều này cho thấy, mô hình kinh tế tập thể vẫn duy trì được sức hút nhất định trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động. Tuy số lượng hợp tác xã tăng nhanh nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quy mô hoạt động được mở rộng tương ứng. Trên thực tế, đa số hợp tác xã ở Việt Nam vẫn vận hành với quy mô nhỏ, phân tán và chủ yếu mang tính địa phương. Đây là đặc trưng mang tính cấu trúc của khu vực kinh tế tập thể, bắt nguồn từ nền sản xuất nông nghiệp còn manh mún và khả năng tích tụ vốn hạn chế của các hộ thành viên. Việc gia tăng số lượng hợp tác xã mới thành lập, trong nhiều trường hợp, thậm chí còn làm giảm quy mô bình quân của toàn khu vực, thay vì phản ánh sự phát triển về chất.
Như vậy, hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam được quy định rõ hơn trong Luật Hợp tác xã năm 2023, mang những đặc điểm nổi bật, thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm Mác – Lênin vào điều kiện kinh tế thị trường, bao gồm các khía cạnh:
(1) Kết hợp yếu tố sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân của thành viên: hợp tác xã kiểu mới tôn trọng quyền sở hữu tư nhân của thành viên đối với tư liệu sản xuất (ví dụ: đất đai, máy móc nhỏ). Tuy nhiên, các tư liệu sản xuất chung, tài sản hình thành từ vốn góp và lợi nhuận tích lũy của hợp tác xã vẫn thuộc sở hữu tập thể. Đây là sự kết hợp linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
(2) Hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm: hợp tác xã là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định phương án sản xuất kinh doanh, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình. Các sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã được trao đổi trên thị trường theo quy luật cung – cầu, giá cả.
(3) Phân phối theo mức độ sử dụng dịch vụ và vốn góp (không quá 30%): đây là điểm khác biệt cơ bản với doanh nghiệp tư bản (phân phối theo vốn góp) và hợp tác xã kiểu cũ (phân phối theo ngày công). Lợi nhuận của hợp tác xã chủ yếu được phân phối cho thành viên theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã. Phần còn lại (không quá 30% tổng lợi nhuận sau thuế) có thể phân phối theo vốn góp và một phần lớn được trích lập vào quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi. Điều này khuyến khích thành viên gắn bó và sử dụng dịch vụ của hợp tác xã.
(4) Liên kết với doanh nghiệp, chuỗi giá trị: hợp tác xã kiểu mới chủ động tìm kiếm đối tác, liên kết với các doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
(5) Vai trò của Đảng và Nhà nước trong định hướng và hỗ trợ: Đảng và Nhà nước tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo, định hướng và hỗ trợ hợp tác xã thông qua các chính sách, pháp luật, chương trình khuyến khích. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này không còn mang tính bao cấp mà chủ yếu là tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích hợp tác xã tự vươn lên.
Những đặc điểm này cho thấy, hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ, từ một mô hình mang nặng tính hành chính, bao cấp sang một mô hình kinh tế năng động, phù hợp với cơ chế thị trường nhưng vẫn giữ vững bản chất hợp tác, tương trợ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực thù địch và một số quan điểm thiếu thiện chí thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể, đánh tráo khái niệm và cho rằng, hợp tác xã là mô hình lạc hậu, kém hiệu quả, không phù hợp với cơ chế thị trường và chỉ tồn tại mang tính hình thức trong nền kinh tế hiện đại. Một số thành phần tiêu cực còn cố tình đồng nhất những hạn chế trong quá trình tổ chức và quản lý hợp tác xã trước đây với bản chất của kinh tế tập thể để phủ nhận tính đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là những nhận định phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và không phản ánh đúng thực tiễn phát triển của kinh tế tập thể cả ở Việt Nam lẫn trên thế giới.
Trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực phản động, chúng ta luôn khẳng định, hợp tác xã không phải là mô hình “lỗi thời”. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phát triển của xã hội luôn gắn với xu hướng xã hội hóa lực lượng sản xuất. Khi sản xuất ngày càng phát triển ở trình độ cao, sự liên kết, hợp tác giữa các chủ thể kinh tế trở thành yêu cầu khách quan nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Chính vì vậy, các hình thức hợp tác kinh tế không chỉ tồn tại trong các nước xã hội chủ nghĩa mà còn phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia tư bản phát triển. Thực tế cho thấy, tại nhiều nước, như: Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hà Lan, mô hình hợp tác xã vẫn hoạt động rất hiệu quả trong các lĩnh vực nông nghiệp, tín dụng, bảo hiểm, tiêu dùng và dịch vụ. Điều đó chứng minh hợp tác xã không hề đối lập với kinh tế thị trường mà hoàn toàn có khả năng thích ứng và phát triển trong môi trường cạnh tranh hiện đại nếu được tổ chức phù hợp.
Ở Việt Nam, trong công cuộc Đổi mới, Đảng và Nhà nước đã từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận về kinh tế tập thể, chuyển đổi từ mô hình hợp tác xã kiểu cũ sang hợp tác xã kiểu mới vận hành theo cơ chế thị trường. Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Hợp tác xã năm 2023, cùng các chủ trương mới của Đảng đã khẳng định nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tự chủ trong hoạt động của hợp tác xã. Điều này hoàn toàn khác với cách tổ chức mang tính bao cấp, hành chính trước đây. Do đó, việc lấy những hạn chế trong giai đoạn cũ để phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể hiện nay là cách nhìn phiến diện, thiếu tính lịch sử và cố tình bỏ qua quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng.
Thực tiễn phát triển kinh tế tập thể ở nước ta trong những năm gần đây đã chứng minh rõ hiệu quả tích cực của mô hình này. Nhiều hợp tác xã kiểu mới đã hoạt động hiệu quả, ứng dụng công nghệ cao, tham gia chuỗi giá trị và tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm của nông dân. Không ít hợp tác xã đã trở thành cầu nối quan trọng giữa người sản xuất với doanh nghiệp và thị trường, góp phần khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún vốn là hạn chế cố hữu của nền nông nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, kinh tế tập thể còn giúp nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc tập hợp nguồn lực, chia sẻ chi phí sản xuất và hỗ trợ thành viên tiếp cận khoa học, công nghệ. Đây là điều mà các hộ sản xuất cá thể khó có thể thực hiện nếu hoạt động đơn lẻ.
Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, kinh tế tập thể còn mang giá trị xã hội và nhân văn sâu sắc. Khác với mô hình doanh nghiệp thuần túy chạy theo lợi nhuận tối đa, hợp tác xã hướng tới hài hòa lợi ích kinh tế với lợi ích cộng đồng, đề cao tinh thần đoàn kết, tương trợ và cùng phát triển. Điều này phù hợp với bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Chính vì vậy, phát triển kinh tế tập thể không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bảo đảm an sinh cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng khó khăn.
Những luận điệu phủ nhận vai trò của hợp tác xã thực chất là nhằm phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế Việt Nam. Một số đối tượng cố tình cổ súy cho mô hình kinh tế thị trường tự do tuyệt đối, xem nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước và cho rằng chỉ có kinh tế tư nhân mới tạo ra hiệu quả. Đây là quan điểm mang tính cực đoan, không phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Thực tế cho thấy, nếu chỉ dựa hoàn toàn vào cơ chế thị trường tự phát sẽ dễ dẫn đến phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh thiếu lành mạnh và mất cân đối trong phát triển xã hội. Chính vì vậy, sự tồn tại và phát triển của kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã cùng với kinh tế nhà nước là yêu cầu tất yếu để bảo đảm nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán xác định kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế quan trọng, có vị trí và vai trò lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua các kỳ Đại hội và nghị quyết, nhận thức của Đảng về kinh tế tập thể ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện theo hướng khẳng định rõ hơn vai trò của khu vực kinh tế này trong phát triển kinh tế – xã hội.Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển”7, thể hiện quan điểm tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể. Đặc biệt, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác định kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế quan trọng, cần được phát triển lâu dài cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Quan điểm này tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khi nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng”8. Đồng thời, Đảng tiếp tục khẳng định cần “hỗ trợ tích cực và tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường…”9, qua đó tạo điều kiện để khu vực kinh tế này phát huy đầy đủ tiềm năng và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững và củng cố nền tảng kinh tế của đất nước.
Những quan điểm trên cho thấy, phát triển kinh tế tập thể không phải là giải pháp mang tính tình thế mà là chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị – xã hội, góp phần tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Hiện nay, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về kinh tế tập thể không chỉ là nhiệm vụ lý luận mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò của kinh tế tập thể; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền những mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách hỗ trợ, nâng cao chất lượng quản trị và ứng dụng khoa học, công nghệ để kinh tế tập thể phát triển mạnh mẽ hơn trong thời kỳ mới. Khi kinh tế tập thể thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, đó sẽ là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái và khẳng định tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Trước thực tiễn đó, việc phát triển mô hình hợp tác xã vẫn được xác định là một nhiệm vụ chiến lược, một mục tiêu trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng và Nhà nước. Để hiện thực hóa mục tiêu này, yêu cầu tiên quyết là phải có sự thống nhất trong nhận thức và quan điểm chỉ đạo, dựa trên nguyên tắc nền tảng: “trình độ sản xuất tới đâu thì mô hình tổ chức sản xuất tương ứng tới đó”. Theo đó, cần loại bỏ tư duy áp đặt chỉ tiêu định lượng về số lượng, tránh khuynh hướng gò ép, hành chính hóa trong quá trình phát triển kinh tế tập thể. Vai trò của Nhà nước cần chuyển mạnh sang kiến tạo môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi, hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển tự thân, nội sinh của các hợp tác xã. Định hướng trọng tâm là tiếp tục củng cố và đổi mới toàn diện các hợp tác xã về cả phương thức tổ chức, cơ chế quản lý và mô thức hoạt động theo mô hình hợp tác xã kiểu mới. Mục tiêu cuối cùng là khơi dậy động lực phát triển nội tại, để hợp tác xã không chỉ là một tổ chức kinh tế hợp tác tự nguyện đơn thuần mà phải trở thành một chủ thể kinh tế tự chủ, năng động và hoạt động hiệu quả trong môi trường kinh tế thị trường.
Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động của các hợp tác xã ở Việt Nam cho thấy, việc vận dụng đúng đắn và sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mô hình hợp tác xã vẫn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu thiết thực nhằm góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của kinh tế tập thể và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
4. Một số giải pháp phát triển hợp tác xã trong giai đoạn mới
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước vè mô hình hợp tác xã. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023 kịp thời, đồng bộ, khả thi, bảo đảm tính nhất quán và phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là các quy định về đất đai, tín dụng, thuế, chính sách hỗ trợ đặc thù cho từng loại hình, lĩnh vực hợp tác xã (nông nghiệp công nghệ cao, hợp tác xã tạo việc làm, hợp tác xã cộng đồng…).
Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của người dân và hệ thống chính trị về vai trò của Hợp tác xã. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là tạo ra sự chuyển biến căn bản trong nhận thức của toàn xã hội và hệ thống chính trị về vai trò của kinh tế hợp tác. Để hiện thực hóa nguyên tắc này, cần phải đẩy mạnh công tác phổ biến, tập huấn các nội dung của Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản pháp luật liên quan khác trong toàn bộ hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Cần đặc biệt quán triệt và tôn trọng nguyên tắc tự nguyện trong việc thành lập, vận hành và phát triển hợp tác xã; mọi hoạt động phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của thành viên, tránh mọi biểu hiện áp đặt chủ quan, duy ý chí, hoặc phát triển theo phong trào thiếu bền vững.
Thứ ba, phát huy vai trò của Liên minh hợp tác xã Việt Nam. Đây là tổ chức đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các Hợp tác xã và các xã viên. Vì vậy, Liên minh hợp tác xã cần thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ trong việc chủ động đề xuất, tham mưu với Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế thị trường. Đồng thời, kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho các hợp tác xã phát triển.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã, tiếp tục củng cố tổ chức, đổi mới quản trị theo hướng chuyên nghiệp, gắn với kinh tế số: hợp tác xã cần xây dựng quy chế hoạt động dân chủ, công khai, minh bạch; kiện toàn bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả; nâng cao vai trò của Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên. Khuyến khích mời các giám đốc điều hành có năng lực, chuyên môn; đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Đảng đã xác định mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa hợp tác xã là một nhiệm vụ trọng tâm. Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước cần đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm bảo đảm các hợp tác xã hoạt động hiệu quả và bền vững. Đồng thời, việc xây dựng mô hình hợp tác xã số theo hướng phát triển kinh tế số là thực sự cần thiết để đáp ứng kịp thời với những yêu cầu của thời đại mới.
5. Kết luận
Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây không chỉ là cơ sở để phát triển kinh tế tập thể theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh rằng kinh tế tập thể, nếu được tổ chức và quản lý hiệu quả, hoàn toàn có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội. Những luận điệu phủ nhận vai trò của hợp tác xã thực chất là sự xuyên tạc nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, cần tiếp tục kiên định và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế tập thể; đồng thời, đổi mới mô hình hợp tác xã theo hướng hiện đại, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế số.
Bên cạnh đó, phải tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Chú thích:
1. C.Mác (1993). Tư bản. Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia. tr. 793.
2. V. Lênin toàn tập (1977). Tập 45. Tiến bộ, Matxcơva, tr. 428.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 493.
4, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.129, 129.
5. Phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. https://tapchikinhtetaichinh.vn/phat-trien-mo-hinh-hop-tac-xa-kieu-moi-tai-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-144154.html.
6. Đến hết năm 2025: cả nước có hơn 35 nghìn hợp tác xã. https://mof.gov.vn/tin-tuc-tai-chinh/thoi-su/den-het-nam-2025-ca-nuoc-co-hon-35-nghin-hop-tac-xa
8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 95, 96.



