Population aging and challenges for the labor market in Tay Ninh province
Nguyễn Thị Tân Mùi
Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh
Email: tanmui2008@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Tây Ninh là một trong những địa phương có tốc độ già hóa dân số nhanh ở vùng Đông Nam Bộ. Trên cơ sở phân tích số liệu thống kê chính thức, bài viết đánh giá thực trạng và xu hướng già hóa dân số của tỉnh, đồng thời chỉ ra những tác động của quá trình này đối với thị trường lao động. Kết quả cho thấy già hóa dân số làm suy giảm quy mô lực lượng lao động, già hóa cơ cấu lao động và gia tăng áp lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ đó, bài viết gợi mở một số định hướng thích ứng chủ động trước quá trình già hóa dân số.
Từ khóa: Tây Ninh; già hóa dân số; thị trường lao động; nguồn lao động; dân số cao tuổi.
Abstract: Tây Ninh is one of the localities in the Southeast region experiencing rapid population aging. Based on an analysis of official statistical data, this article assesses the current status and trends of population aging in the province and highlights the impacts on the labor market. The results show that population aging is leading to a decline in the size of the labor force, an aging labor force structure, and increased pressure to improve workforce quality. Based on this, the article suggests several strategies for proactively adapting to the aging population.
Keywords: Tay Ninh; population aging; labor market; labor supply; elderly population.
1. Đặt vấn đề
Già hóa dân số là xu hướng nhân khẩu học nổi bật của xã hội hiện đại, được thúc đẩy bởi mức sinh giảm và tuổi thọ tăng lên. Theo dự báo của Liên Hợp quốc, tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên trên thế giới sẽ tăng từ khoảng 10% vào năm 2020 lên 22% vào năm 2050. Tại Việt Nam, quá trình già hóa thuộc nhóm nhanh trên thế giới; tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên dự báo tăng từ 11,9% năm 2019 lên trên 25% vào năm 2050, đồng thời sẽ kết thúc thời kỳ cơ cấu dân số vàng vào khoảng giai đoạn 2036 – 2040.
Già hóa dân số làm thu hẹp lực lượng lao động và già hóa lực lượng lao động, gia tăng mất cân đối cung – cầu lao động; đồng thời tạo áp lực nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực thích ứng của nền kinh tế. Tuy nhiên, mức độ tác động ở mỗi địa phương có sự khác biệt, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu lao động và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực.
Tây Ninh là địa phương có nhiều điểm nổi bật trong tiến trình biến đổi nhân khẩu học. Mức sinh giảm, dân số cao tuổi gia tăng, cùng xu hướng lao động trẻ dịch chuyển sang các trung tâm công nghiệp lân cận, diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế cửa khẩu, làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt lao động, già hóa cơ cấu lực lượng lao động và áp lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương. Bài viết phân tích thực trạng già hóa dân số và những thách thức đối với thị trường lao động của tỉnh trên 3 phương diện: quy mô, cơ cấu và chất lượng lao động, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và thích ứng với quá trình già hóa dân số.
2. Thực trạng và xu hướng già hóa dân số tỉnh Tây Ninh
Già hóa dân số đã trở thành xu hướng dân số rõ rệt ở Tây Ninh. Sự giảm dần của tỷ trọng nhóm tuổi 0-14 và sự gia tăng của nhóm dân số cao tuổi là biểu hiện của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học trên địa bàn tỉnh, phản ánh mức sinh giảm và tuổi thọ tăng lên. Theo thống kê, tổng tỷ suất sinh trên địa bàn giảm từ 1,82 con/phụ nữ năm 2009 xuống còn 1,53 con/phụ nữ năm 2024, đưa Tây Ninh vào nhóm 5 địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước. Mặc dù nhỉnh hơn mức bình quân chung của vùng Đông Nam Bộ (1,49 con/phụ nữ), mức sinh của tỉnh vẫn thấp hơn đáng kể so với mức bình quân toàn quốc (1,91 con/phụ nữ) và vẫn duy trì dưới mức sinh thay thế. Xu hướng này diễn ra rõ nét hơn tại khu vực đô thị và các địa bàn tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp, làm suy giảm nhanh chóng quy mô nhóm dân số 0-14 tuổi.
Nguyên nhân của xu hướng này chủ yếu đến từ sự cải thiện về trình độ học vấn, điều kiện sống và xu hướng ưu tiên phát triển nghề nghiệp, làm gia tăng việc kết hôn muộn và trì hoãn việc sinh con. Mặt khác, chi phí nuôi dạy con trẻ ngày càng cao, hệ thống hỗ trợ gia đình còn hạn chế và các vấn đề sức khỏe sinh sản đã làm giảm ý định và khả năng sinh con của các cặp vợ chồng. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, sẽ dẫn đến thiếu hụt lao động, rút ngắn giai đoạn dân số vàng và đẩy nhanh quá trình già hóa dân số.
Bên cạnh mức sinh giảm, tuổi thọ trung bình tăng lên qua các năm từ 75,1 tuổi năm 2018, 75,4 tuổi năm 2021 lên 76,1 tuổi năm 2024, đồng nghĩa với việc người dân sống lâu hơn, quy mô nhóm dân số cao tuổi (60+) sẽ liên tục tích lũy và mở rộng trong các chu kỳ nhân khẩu học tiếp theo. Điều đáng chú ý là tuổi thọ trung bình của Tây Ninh có xu hướng tiến gần đến mức bình quân của vùng, thu hẹp từ 0,9 tuổi năm 2018 xuống còn 0,3 tuổi năm 2024 và cao hơn mức tuổi thọ trung bình chung của cả nước, đạt 74,7 tuổi năm 2024.
- 2.1. Chỉ số già hóa có xu hướng tăng và có sự khác biệt theo giới tính.
Cơ cấu dân số theo độ tuổi cho thấy Tây Ninh đang trải qua giai đoạn dân số vàng với lực lượng lao động dồi dào, song lợi thế này đang có dấu hiệu suy giảm khi quy mô dân số cao tuổi liên tục tăng lên. Giai đoạn 2009-2024, chỉ số già hóa của Tây Ninh, được xác định bằng tỷ số giữa số người cao tuổi (60+) trên 100 trẻ em (0-14 tuổi), tăng từ 35,2% năm 2009 lên 46,4% năm 2014, 55,5% năm 2019 và đạt 72,8% năm 2024. Nghĩa là, cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi thì năm 2009 có khoảng 35 người từ 60 tuổi trở lên, nhưng đến năm 2024 con số này đã tăng lên gần 73 người, phản ánh sự mở rộng của nhóm dân số cao tuổi và sự thu hẹp của nhóm trẻ em cùng với sự suy giảm dần khả năng tái tạo lực lượng lao động trong tương lai.
Bảng 1. Chỉ số già hóa của Tây Ninh và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ
| 2009 | 2014 | 2019 | 2024 | Tốc độ già hóa mỗi năm | |
| Tây Ninh | 35.2 | 46.4 | 55.5 | 72.8 | 4,9 |
| Đồng Nai | 24.4 | 32.0 | 36.5 | 47.5 | 4,5 |
| TP Hồ Chí Minh | 32.3 | 38.1 | 44.4 | 52.9 | 3,5 |
| Vùng Đông Nam Bộ | 30.8 | 37.7 | 44.1 | 54.3 | 3,8 |
So với các tỉnh trong vùng, Tây Ninh có chỉ số già hóa cao nhất và tốc độ già hóa nhanh nhất. Khoảng cách già hóa giữa Tây Ninh và vùng ngày càng mở rộng, từ 4,4% năm 2009 lên 18,5% năm 2024. Các chỉ số ở Bảng 1 là một trong những bằng chứng về sự phân hóa nhân khẩu học của Tây Ninh so với các địa phương trong vùng.
Nằm trong vùng kinh tế năng động Đông Nam Bộ, nơi có dòng nhập cư lao động trẻ mạnh mẽ (nhóm 20-34 tuổi) với tỷ suất di cư thuần dương (7,5‰), Tây Ninh bộc lộ khả năng thu hút lực lượng lao động trẻ này thấp hơn (6,0‰) so với các cực tăng trưởng của vùng, như: TP. Hồ Chí Minh (34,4‰), Đồng Nai (7,1‰). Mặt khác, cơ hội việc làm có thu nhập cao tại chỗ còn hạn chế, tạo ra “lực đẩy” khiến một bộ phận lớn lao động trẻ ở Tây Ninh di cư về TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Sự phân hóa tác động trẻ hóa dân số cơ học bởi các dòng nhập cư vùng, cùng mức sinh thấp kéo dài và tuổi thọ tăng, làm thu hẹp quy mô dân số nhóm trẻ em và mở rộng nhóm dân số cao tuổi, đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số của Tây Ninh so với các địa phương trong vùng. Cùng với đó, khoảng cách già hóa ngày càng nới rộng cho thấy Tây Ninh đang bước vào quá trình chuyển đổi nhân khẩu học nhanh hơn so với mặt bằng chung của vùng. Điều này đồng nghĩa với việc địa phương sẽ sớm phải đối mặt với sức ép về nguồn cung lao động và phải thích ứng với thị trường lao động.
Bên cạnh chỉ số già hóa chung, chỉ số già hóa theo giới tính cũng là yếu tố cần được xem xét trong bối cảnh già hóa của Tây Ninh, bởi đây là cơ sở quan trọng để đánh giá các nhu cầu an sinh và chăm sóc người cao tuổi theo hướng nhạy cảm giới trong quá trình xây dựng chính sách dân số địa phương.
Mặc dù chỉ số già hóa đều gia tăng ở cả hai giới, song có sự phân hóa đáng kể về mức độ và tốc độ biến động. Về mức độ, già hóa diễn ra mạnh hơn ở nữ giới. Nếu năm 2009, cứ 100 trẻ em gái dưới 15 tuổi thì có 45 cụ bà từ 60 tuổi trở lên, trong khi ở nam giới là 27 người, thì đến năm 2024, con số này tăng lên 86 và 60 người. Lợi thế về tuổi thọ tự nhiên của nữ giới là nguyên nhân chủ yếu giúp duy trì khoảng cách này. Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng trưởng bình quân của chỉ số già hóa, ở nam giới (5,6%/năm) cao hơn nữ giới (4,0%/năm) trong giai đoạn 2009-2024 cho thấy xu hướng thu hẹp dần khoảng cách về tỷ lệ tử vong giữa hai giới. Sự gia tăng nhanh hơn của chỉ số già hóa ở nam giới có liên quan đến sự cải thiện về khả năng sống sót của nam giới ở các nhóm tuổi cao hơn, trong bối cảnh điều kiện sống được cải thiện và việc triển khai hiệu quả Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 của tỉnh Tây Ninh. Dù vậy, nữ giới vẫn duy trì mức già hóa cao hơn do lợi thế về tuổi thọ vốn có.
Sự khác biệt về mức độ già hóa giữa nam và nữ cũng được phản ánh rõ hơn khi xem xét cơ cấu giới tính trong nhóm dân số cao tuổi. Chỉ tiêu này thể hiện sự khác biệt về tuổi thọ giữa nam và nữ, đồng thời gợi ý những nhu cầu chăm sóc và an sinh xã hội khác nhau.
Kết quả phân tích tỷ số giới tính theo nhóm tuổi cao tuổi cho thấy, số nam trên 100 nữ giảm dần theo tuổi từ 85,9 nam/100 nữ ở nhóm 60-64 tuổi xuống còn 52,1 nam/100 nữ ở nhóm 80+, có nghĩa là nữ giới ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong nhóm dân số cao tuổi. Do nam giới có mức tử vong cao hơn trong suốt vòng đời, số lượng nam còn sống ở các nhóm tuổi cao giảm nhanh hơn so với nữ giới, làm gia tăng mức độ “nữ hóa” của dân số cao tuổi trên địa bàn. Như vậy, mặc dù khoảng cách tử vong giữa hai giới đang thu hẹp, nữ giới vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu dân số cao tuổi của Tây Ninh. Đây là xu hướng chung của Việt Nam và các nước trên thế giới.
Sự gia tăng tỷ trọng dân số nữ ở các nhóm tuổi rất cao gợi ý nhu cầu mở rộng dịch vụ chăm sóc dài hạn theo hướng nhạy cảm giới. Trên cơ sở đó, địa phương cần tăng cường dịch vụ chăm sóc tại nhà, hỗ trợ tài chính cho người cao tuổi sống đơn thân, và đào tạo nhân lực chăm sóc có hiểu biết về khác biệt giới trong lão hóa, bởi phụ nữ cao tuổi thường có thời gian sống góa bụa dài hơn, nguy cơ sống đơn thân cao hơn và nhu cầu chăm sóc dài hạn lớn hơn so với nam giới cùng độ tuổi.
- 2.2. Gia tăng tuổi trung vị của dân số
Nếu chỉ số già hóa phản ánh sự thay đổi trong tương quan giữa nhóm dân số trẻ em và dân số cao tuổi, thì tuổi trung vị cho thấy mức độ dịch chuyển của toàn bộ cơ cấu dân số theo độ tuổi. Vì vậy, tuổi trung vị được xem là chỉ báo bổ sung quan trọng để đánh giá tiến trình già hóa dân số của tỉnh Tây Ninh một cách toàn diện hơn.
Bảng 2. Tuổi trung vị của dân số Tây Ninh so với Đông Nam Bộ và cả nước
| 2009 | 2014 | 2019 | 2024 | |
| Tây Ninh | 29,0 | 31,0 | 33,6 | 36,1 |
| Đông Nam Bộ | 27,9 | 30,0 | 31,6 | 34,0 |
| Cả nước | 28,0 | 29,9 | 32,6 | 33,9 |
Diễn biến tuổi trung vị của Tây Ninh qua Bảng 2 củng cố bằng chứng thực tiễn rằng quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh trên địa bàn tỉnh. Đối sánh với vùng Đông Nam Bộ và cả nước, tuổi trung vị Tây Ninh thể hiện 3 đặc điểm nổi bật: (1) Tốc độ gia tăng nhanh, tăng 7,1 tuổi trong vòng 15 năm; (2) Tuổi trung vị luôn duy trì ở mức cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung của vùng Đông Nam Bộ và cả nước; (3) Xu hướng nới rộng khoảng cách tuổi trung vị so với vùng và cả nước. Những đặc điểm trên là kết quả của sự biến đổi cấu trúc dân số địa phương dưới tác động kết hợp của mức sinh thấp, tuổi thọ tăng và các dòng di cư nội vùng như đã phân tích. Kết quả này cung cấp thêm bằng chứng rằng quá trình già hóa dân số của Tây Ninh không chỉ thể hiện ở sự mở rộng quy mô nhóm dân số cao tuổi, mà còn phản ánh sự dịch chuyển của toàn bộ cấu trúc dân số sang các nhóm tuổi lớn hơn.
- 2.3. Xu hướng “già ở nhóm già nhất” của dân số
Giai đoạn 2009-2024, quy mô nhóm dân số cao tuổi của tỉnh tăng nhanh, từ 208,2 nghìn người năm 2009 lên 414,1 nghìn người năm 2024 (tăng gấp đôi sau 15 năm), nhưng động lực chính nằm ở các nhóm dân số cao tuổi trẻ hơn (60-69 tuổi). Trong giai đoạn này, nhóm 60-64 tuổi ghi nhận tốc độ tăng cao nhất (18,9%/năm), đánh dấu sự gia tăng mạnh mẽ của các nhóm tuổi trong dân số bước vào ngưỡng cao tuổi. Động lực tăng trưởng này chuyển dần sang nhóm 65-69 tuổi (10,3%/năm) và nhóm 70-74 tuổi (9,1%/năm) trong các năm tiếp theo, phản ánh rõ việc các nhóm tuổi liên tục dịch chuyển sang các nhóm tuổi cao hơn.
Giai đoạn 2024-2049, dự báo Tây Ninh sẽ bước sang chu kỳ già hóa sâu, khi tốc độ tăng dân số cao tuổi có xu hướng dịch chuyển lên các nhóm tuổi cao hơn. Nhóm 60-64 tuổi có xu hướng giảm từ 18,9% xuống dưới 1%, trong khi nhóm 80+ vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn do hiệu ứng tích lũy của đoàn hệ và sự cải thiện về tuổi thọ của dân số. Sự gia tăng nhanh của nhóm dân số rất cao tuổi cho thấy tiến trình già hóa dân số của Tây Ninh có xu hướng dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, thể hiện qua sự thay đổi cơ cấu ngay trong nội bộ nhóm dân số cao tuổi. Đồng thời, gợi mở xu hướng “già ở nhóm già nhất” của dân số Tây Ninh trong những năm tới.
Tuy nhiên, do nhóm dân số 80+ là nhóm có tình trạng sức khỏe kém hơn, mức độ rủi ro cao hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào trợ cấp xã hội so với nhóm dân số cao tuổi trẻ hơn, nên sự gia tăng nhanh của nhóm dân số này được dự báo sẽ tạo ra áp lực ngày càng lớn, đòi hỏi địa phương phải có chiến lược mở rộng mạng lưới y tế, an sinh xã hội và dịch vụ chăm sóc dài hạn một cách cấp thiết.
- 2.4. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm mạnh
Nếu các chỉ số trên phản ánh những thay đổi trong cơ cấu tuổi của dân số, thì tỷ số hỗ trợ tiềm năng cho thấy, hệ quả nhân khẩu học của những thay đổi đó thông qua mối quan hệ giữa dân số trong độ tuổi lao động và dân số cao tuổi.
Tỷ số hỗ trợ tiềm năng được tính bằng tỷ số giữa số người trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) và số người cao tuổi (60 tuổi trở lên). Sự giảm mạnh của tỷ số hỗ trợ tiềm năng hàm ý rằng gánh nặng hỗ trợ nhân khẩu học của Tây Ninh ngày càng gia tăng. Năm 2009, trung bình 8,2 người trong độ tuổi lao động hỗ trợ 1 người cao tuổi; đến năm 2029, tỷ số này giảm xuống còn khoảng 3,6 người và dự báo đến năm 2049 chỉ còn 1,7 người. Xu hướng này cho thấy nguồn lực hỗ trợ từ cơ cấu dân số đang dần suy giảm, và áp lực hỗ trợ người cao tuổi sẽ tiếp tục gia tăng trong những thập kỷ tới, khi mỗi người lao động phải gánh vác trách nhiệm hỗ trợ ngày càng nhiều người cao tuổi.
Khác với sự gia tăng mạnh mẽ ở các cực tăng trưởng khác trong vùng, lực lượng lao động của Tây Ninh tăng rất chậm trong giai đoạn 2009-2024. Tính toán từ dữ liệu thống kê của GSO cho thấy trong 15 năm, lực lượng lao động của tỉnh chỉ tăng thêm khoảng 273 nghìn người, trong khi tỷ trọng của nhóm này trong tổng dân số lại giảm và tốc độ tăng (0,9%/năm) chậm hơn so với nhóm dân số cao tuổi (4,6%/năm). Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của di cư lao động trẻ và đại dịch Covid-19.
Hình 1. Xu hướng biến động chỉ số già hóa và tỷ số hỗ trợ tiềm năng của Tây Ninh

Nguồn: Xử lý dữ liệu từ Điều tra dân số và nhà ở 2009, 2014, 2019, 2024; Dự báo dân số của GSO 2016, 2025
Trong bối cảnh nền kinh tế địa phương đang trên đà phát triển, xu hướng này đặt Tây Ninh trước nguy cơ thiếu hụt lao động nghiêm trọng trong tương lai, làm gia tăng áp lực lên tài chính công và hệ thống an sinh xã hội trong dài hạn. Áp lực này có thể trở nên rõ rệt hơn nếu khả năng thu hút lao động của Tây Ninh tiếp tục thấp hơn so với các trung tâm công nghiệp lớn trong vùng. Nếu không có các chính sách duy trì và thu hút lực lượng lao động trong độ tuổi lao động, nâng cao năng suất thông qua đào tạo nhân lực và đổi mới công nghệ, Tây Ninh có nguy cơ đối mặt với tình trạng già hóa trước khi tích lũy đủ nguồn lực cho phát triển và bảo đảm an sinh xã hội.
3. Thách thức của già hóa dân số đối với thị trường lao động tỉnh Tây Ninh
Những biểu hiện già hóa dân số của Tây Ninh như mức sinh thấp kéo dài, sự gia tăng chỉ số già hóa, tuổi trung vị và sự suy giảm tỷ số hỗ trợ tiềm năng phản ánh sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu độ tuổi của dân số địa phương. Bức tranh nhân khẩu này đặt ra 3 thách thức chính đối với thị trường lao động Tây Ninh, đó là: thu hẹp nguồn cung lao động; già hóa cơ cấu lực lượng lao động; và suy giảm lợi thế cạnh tranh, cùng với bẫy kỹ năng thấp.
- Một là, thách thức suy giảm quy mô lao động.
Sự suy giảm quy mô lao động là một thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế địa phương trước áp lực già hóa dân số tự nhiên và tác động khuếch đại của di cư. Thực tiễn cho thấy, tổng tỷ suất sinh sụt giảm xuống dưới mức sinh thay thế (1,53 con/phụ nữ), làm thu hẹp quy mô nhóm 0-14 tuổi, vốn là nguồn lao động bổ sung tại chỗ của Tây Ninh. Kết quả là quy mô lao động của tỉnh tăng rất chậm, thậm chí còn giảm (khoảng 10 nghìn người năm 2024 so với năm 2020). Dù nằm trong vùng nhập cư lao động trẻ và ghi nhận tỷ suất di cư thuần dương, sức hút lao động trẻ của tỉnh vẫn không đủ để bù đắp sự thiếu hụt lao động tại chỗ so với các tỉnh trong vùng. Khi quy mô lao động suy giảm, chỉ số già hóa tăng, sự chuyển dịch bất lợi của tỷ số hỗ trợ tiềm năng càng rõ: từ 8,2 lao động hỗ trợ 1 người cao tuổi năm 2009 giảm xuống 4,8 lao động năm 2024 và dự báo đến năm 2049 chỉ còn 1,7 lao động hỗ trợ 1 người cao tuổi, có nghĩa rằng gánh nặng hỗ trợ nhân khẩu học trên mỗi người lao động tăng từ 0,12 người cao tuổi năm 2009 lên 0,59 người cao tuổi năm 2049, tức tăng gấp 4,9 lần.
Đáng chú ý hơn, xu hướng này sẽ càng rõ nét trong các thập kỷ tới. Theo dự báo, quy mô dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh sẽ giảm khoảng 280 nghìn người đến năm 2049 (giảm 14,2%), hàm ý rằng Tây Ninh đang trên đà khép lại dư lợi của thời kỳ dân số vàng, bước vào giai đoạn suy giảm cơ học của nguồn cung lao động tại chỗ và đứng trước nguy cơ khủng hoảng thiếu hụt nhân lực trong dài hạn. Về bản chất, đây là quá trình chuyển dịch từ lợi thế số lượng lao động sang giai đoạn chất lượng lao động và năng suất trở thành yếu tố quyết định khả năng duy trì tăng trưởng kinh tế địa phương.
- Hai là. thách thức già hóa cơ cấu lực lượng lao động.
Tác động kép từ mức sinh thấp kéo dài và xu hướng di cư của nhiều lao động trẻ sang các trung tâm công nghiệp lớn như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai… làm thu hẹp quy mô dân số trẻ, đẩy tuổi trung vị của tỉnh tăng cao so với mặt bằng chung của vùng và cả nước. Sự suy giảm nguồn cung lao động mới gia nhập thị trường, cùng với sự dịch chuyển đoàn hệ sang các nhóm tuổi cao hơn, đã thúc đẩy tiến trình già hóa của cấu trúc lực lượng lao động tại địa phương. Sự dịch chuyển này thể hiện rõ qua việc tỷ trọng lao động trẻ (15-29 tuổi) giảm từ 41,7% xuống 29,1%, trong khi lao động lớn tuổi (45-59 tuổi) tăng từ 22,3% lên 36,6% trong giai đoạn 2009-2049, và nhóm tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất chuyển từ 15-19 tuổi sang 55-59 tuổi.
Cán cân tuổi lao động dịch chuyển kéo theo sự thay đổi trong đặc tính của lực lượng lao động. Mặc dù lao động lớn tuổi có lợi thế về kinh nghiệm và độ ổn định gắn bó, song các nghiên cứu chỉ ra rằng lao động lớn tuổi thường gặp nhiều trở ngại trong việc nâng cao kỹ năng, kém linh hoạt trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và khó thích ứng với công nghệ mới. Trong bối cảnh Tây Ninh đang đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, tiến trình đòi hỏi tính linh hoạt và khả năng làm chủ công nghệ cao, sự suy giảm dần lợi thế của lực lượng lao động trẻ, nhóm có khả năng thích ứng và tiếp thu công nghệ cao hơn nhóm lao động lớn tuổi, có thể làm gia tăng chi phí đào tạo lại, chậm tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của thị trường lao động địa phương.
- Ba là, thách thức suy giảm lợi thế cạnh tranh và nguy cơ rơi vào bẫy kỹ năng thấp.
Già hóa dân số cùng thực trạng chất lượng lao động tại chỗ hạn chế (tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 18,4%, thấp nhất trong vùng Đông Nam Bộ và thấp hơn mức bình quân cả nước) cho thấy lực lượng lao động địa phương hiện khó đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Và gián tiếp, xu hướng nữ hóa dân số cao tuổi đang đặt thị trường lao động tỉnh Tây Ninh trước nguy cơ suy giảm lợi thế cạnh tranh do áp lực chuyển đổi sang nền kinh tế số và kinh tế xanh. Nếu sự già hóa cấu trúc của lực lượng lao động có thể làm suy giảm lợi thể về tính linh hoạt và khả năng hấp thụ công nghệ mới, gia tăng nguy cơ rơi vào bẫy kỹ năng thấp, thì xu hướng “nữ hóa” dân số cao tuổi tạo ra lực kéo lùi gián tiếp lên năng suất và sự tham gia của lực lượng lao động nữ địa phương thông qua cơ chế phân tán nguồn nhân lực sang hoạt động chăm sóc phi chính thức.
Bằng chứng từ UNFPA (2021) cho thấy, do tính chất đặc thù, trong gia đình, nữ giới (con gái và con dâu) có tỷ lệ chăm sóc mẹ cao hơn so với nam giới. Điều này càng được củng cố bởi các phân tích trong Báo cáo Kinh tế Chăm sóc (2024), xác nhận rằng phụ nữ Việt Nam có xu hướng “nội hóa” nghĩa vụ chăm sóc, ngay cả khi họ là lao động chính trong gia đình. Khi xem xét trong bối cảnh Tây Ninh, sức ép từ già hóa dân số nhiều khả năng sẽ tạo ra những rào cản vô hình đối với lực lượng lao động nữ tại địa phương. Định kiến giới trong phân công lao động có thể buộc một bộ phận lao động nữ trong độ tuổi phải cắt giảm thời gian làm việc, từ bỏ các cơ hội thăng tiến, hoặc chấp nhận chuyển từ khu vực chính thức sang khu vực phi chính thức để linh hoạt thời gian cho các nghĩa vụ gia đình. Sự dịch chuyển này về bản chất không làm suy giảm quy mô lực lượng lao động cơ học, song phản ánh quá trình xói mòn chất lượng nhân lực địa phương. Sở dĩ, khu vực lao động phi chính thức vốn có năng suất thấp và hạn chế trong việc tiếp cận các lưới an sinh xã hội sẽ gián tiếp làm suy giảm năng suất lao động tổng thể và kìm hãm năng lực cạnh tranh của thị trường lao động địa phương trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- 4. Kết luận
Quá trình già hóa dân số tại tỉnh Tây Ninh đang diễn ra ngày càng sâu sắc, làm thay đổi cơ cấu dân số và đặt ra nhiều thách thức đối với thị trường lao động địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự suy giảm quy mô lực lượng lao động, xu hướng già hóa trong lực lượng lao động và áp lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ trở thành những vấn đề nổi bật trong thời gian tới. Vì vậy, tỉnh Tây Ninh cần chủ động triển khai các chính sách thích ứng, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đào tạo lại và đào tạo thường xuyên, đồng thời khai thác hiệu quả tiềm năng của người lao động cao tuổi. Đây là những định hướng quan trọng nhằm nâng cao khả năng thích ứng của thị trường lao động, duy trì động lực tăng trưởng và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh già hóa dân số.
Tài liệu tham khảo:
Ngô Quỳnh An, Trần Huy Phương và Doãn Thị Mai Hương (2024). Lực lượng lao động Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số. Tạp chí Kinh tế và Quản lý, 1 (194).
Phạm Thị Lý, Nguyễn Thanh Trọng, Nguyễn Thị Đông (2022). Tác động của chuyển đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á.
Hương Giang (29/12/2025). Mức sinh thấp và già hóa dân số: Thách thức dài hạn từ thực tiễn tại Tây Ninh. Sở Y tế tỉnh Tây Ninh.
Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh (2025). Báo cáo tóm tắt về việc điều chỉnh quy hoạch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
United Nations (2022). World Population Prospects 2022: Summary of Results, UN DESA.
Pham Ngoc Thanh, Nguyen Minh Tri, Nguyen Quoc Thang (2024). Developing high-quality human resources to meet the requirements of rapid and sustainable development: Realities and solutions. Heritage and Sustainable Development, 6(2), 529-544.
Bùi Thị Minh Tiệp (2012). Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tổng cục Thống kê (2010). Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, tháng 6/2010.
Tổng cục Thống kê (2014). Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Các kết quả chủ yếu, tháng 9/2015.
Tổng cục Thống kê (2024). Kết quả chủ yếu của Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ Việt Nam năm 2024. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2016). Dự báo Dân số Việt Nam giai đoạn 2014-2049. Nxb Hà Nội.
Tổng cục Thống kê (2020). Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 lấy số liệu tại thời điểm 1/4/2019. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2025). Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024–2074. Nxb Hà Nội.



