Phát triển năng lực người lao động phục vụ đổi mới sáng tạo xanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa

Developing employee competencies for green innovation in small and medium-sized enterprises

                                                                                           ThS. Nguyễn Thị Hay
Trường Đại học Thành Đô
Email: Nthay@thanhdouni.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày 08/7/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với quan điểm không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế. Theo đó, yếu tố môi trường phải được tính đến trong từng hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, hài hòa với tự nhiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, phát triển kinh tế với tư duy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp nhằm giảm thiểu chất thải phát sinh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của năng lực người lao động tới đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; từ đó, đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới sáng tạo xanh vì mục tiêu môi trường.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; đổi mới sáng tạo xanh; năng lực người lao động; mục tiêu môi trường; Việt Nam.

Abstract: On July 8, 2024, the Prime Minister issued Decision No. 611/QĐ-TTg approving the National Environmental Protection Plan for the period 2021–2030, with a vision toward 2050, based on the principle of not sacrificing the environment for economic development. Accordingly, environmental factors must be taken into account in every economic and social development activity, in harmony with nature and respecting natural laws. Economic development should be guided by the principles of a green economy, a circular economy, and a low-carbon economy to minimize waste generation and work toward the goal of net-zero emissions by 2050. This article examines the impact of workers’ capabilities on green innovation in small and medium-sized enterprises (SMEs); based on this analysis, it proposes solutions for SMEs to implement green innovation in support of environmental goals.

Keywords: Small and medium-sized enterprises, green innovation, workforce competencies, environmental goals, Vietnam

1. Đặt vấn đề

Khi vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, khai thác quá mức tài nguyên… ngày càng trở nên nghiêm trọng, các quốc gia không chỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng mà tiếp cận tăng trưởng theo hướng bền vững, không chấp nhận đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Tăng trưởng bền vững cần có sự can thiệp của Chính phủ qua các chương trình, kế hoạch, giải pháp để thúc đẩy doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo xanh. Sau quá trình triển khai quyết liệt các chính sách khuyến khích tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường, Việt Nam đã có những kết quả bước đầu tích cực; tuy nhiên, đổi mới sáng tạo xanh trong doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp cụ thể trong thời gian tới như khuyến khích tiêu dùng xanh, tạo thị trường cho sản phẩm của quá trình đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa và các biện pháp phù hợp khác.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ lớn và giữ vai trò “xương sống”, là lực lượng quan trọng để thúc đẩy phục hồi, đổi mới mô hình tăng trưởng và tạo việc làm bền vững và là mắt xích quyết định sự thành bại của chiến dịch hành động vì khí hậu tại Việt Nam; tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước các cú sốc bên ngoài. Đổi mới sáng tạo xanh mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa như giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường, tăng khả năng sinh lời theo chuỗi giá trị, giúp doanh nghiệp đáp ứng trước các tiêu chuẩn và các quy định ngày càng nghiêm ngặt hơn, thu hút đầu tư; đặc biệt, đổi mới sáng tạo xanh giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa xây dựng hình ảnh gắn với trách nhiệm xã hội bằng sản phẩm và quy trình thân thiện môi trường. Với lợi thế quy mô nhỏ, linh hoạt, doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ thích ứng để áp dụng các mô hình chuyển đổi bền vững nhỏ như tái chế rác thải văn phòng, tiết kiệm điện chiếu sáng, tối ưu hóa vật liệu, năng lượng cục bộ.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là bên trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ hằng ngày đến người dân (như bao bì tự hủy, nông sản hữu cơ, dịch vụ lưu trú xanh); đồng thời, đóng vai trò quan trọng định hình thói quen tiêu dùng bền vững của xã hội. Việc “xanh hóa” của doanh nghiệp nhỏ và vừa giúp giảm phát thải gián tiếp cho toàn bộ chuỗi giá trị.

Ở Việt Nam, đổi mới sáng tạo xanh đã được các doanh nghiệp ở các lĩnh vực quan tâm thực hiện, nhiều mô hình kinh tế hướng tới thân thiện với môi trường được doanh nghiệp và chính quyền địa phương đẩy mạnh áp dụng. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp lớn đã và đang tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi xanh, thì 64% doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực hiện bất kỳ hành động chuyển đổi xanh nào (Thành Trung, 2025). Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa đặt mình vào quá trình chuyển đổi xanh hoặc đang ở giai đoạn chuẩn bị, chưa thực thi các giải pháp xanh cụ thể, một trong các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu nhân sự kỹ thuật phù hợp. Do đó, nghiên cứu ảnh hưởng của năng lực người lao động tới đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực người lao động cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới sáng tạo xanh là cần thiết để Việt Nam thực hiện mục tiêu “Hành động vì khí hậu”.

2. Cơ sở lý thuyết

Đổi mới sáng tạo xanh có thể được định nghĩa là tổng của “thiết kế sinh thái + sản ​​xuất sinh thái” vì đổi mới sáng tạo xanh liên quan đến việc phát triển các sản phẩm hoặc quy trình sinh thái, áp dụng các đổi mới trong công nghệ liên quan đến tiết kiệm năng lượng, ngăn ngừa ô nhiễm và thiết kế sản phẩm sinh thái (Borsatto & Bazani, 2021). Mặc dù đổi mới sáng tạo xanh chủ yếu tập trung vào các quy trình sản xuất, một số công ty đã mở rộng xu hướng này không chỉ bằng cách thiết kế lại sản xuất mà còn tất cả các quy trình của họ, bao gồm cả kênh phân phối và dịch vụ hậu mãi. Do đó, đổi mới sáng tạo xanh là một sự đổi mới được bao gồm trong toàn bộ chu kỳ kinh doanh, tức là trong thiết kế, sản xuất, cung cấp và sử dụng cuối cùng của các sản phẩm thương mại, chủ yếu góp phần vào tính bền vững môi trường (Takalo, S.K.; Tooranloo, H.S. (2021).

Nghiên cứu về yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động đến hoạt động đổi mới sáng tạo xanh, Schumpeter (1934) cho rằng, ý tưởng của người lao động có thể xuất phát từ việc suy nghĩ làm sao để cải tiến công việc và nâng cao năng suất đối với công việc cụ thể; hoặc khi đứng trước vấn đề mới phát sinh, lần đầu xảy ra trong doanh nghiệp, người lao động đôi khi lại đưa ra được những ý tưởng hoàn toàn mới để giải quyết vấn đề này. Theo Schumpeter, sự sáng tạo của người lao động và doanh nghiệp trong quá trình hoạt động ảnh hưởng lớn tới đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Do nguồn lực hạn chế (đặc biệt nguồn nhân lực và tài chính), các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu thực hiện các loại đổi mới sáng tạo dần dần, thông qua quá trình làm việc, vận hành và tương tác. Các hoạt động đổi mới sáng tạo xanh trong doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu gồm đổi mới về sản phẩm đầu ra (sản xuất các sản phẩm chất lượng cao; sử dụng vật liệu mới, năng lượng mới); đổi mới trang thiết bị kỹ thuật làm tăng năng suất lao động và sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường hoặc sản phẩm sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nguyễn Hoa Cương và cộng sự, 2024).

Makanyeza và cộng sự (2023) cho rằng một số yếu tố nội bộ như quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tổ chức, vốn nhân lực, nguồn vốn kinh doanh và khả năng lãnh đạo của các nhà quản lý cấp cao là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Vốn nhân lực, ngoài số lượng nhân sự còn bao gồm chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm, là yếu tố thiết yếu để doanh nghiệp có thể tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới hoặc quy trình mới. Vốn nhân lực thể hiện sự học hỏi và tiếp thu kiến ​​thức một cách có chọn lọc để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ được thiết kế với tiêu chí tiết kiệm nguyên nhiên liệu, hạn chế rác thải gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất và sử dụng góp phần xây dựng nền kinh tế xanh.

Vốn nhân lực chất lượng đóng vai trò là điểm khởi đầu cho tất cả các quá trình đổi mới, tượng trưng cho việc học tập có chọn lọc và tiếp thu kiến ​​thức. Phát triển năng lực người lao động sẽ thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo xanh vì mục tiêu môi trường.

3. Thực trạng thực hiện đổi mới sáng tạo xanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa

Báo cáo “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã nhận thức được tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và đổi mới sáng tạo xanh. Nhà nước quan tâm và đã ban hành nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới sáng tạo xanh, như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia – NATIF, các gói tín dụng xanh…tuy nhiên thực tế tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và nhận được hỗ trợ còn khá thấp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp hạn chế lớn về vốn và tài chính, năng lực công nghệ, thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao, thiếu thông tin kỹ thuật và quy trình thủ tục hành chính khi tiếp cận chính sách ưu đãi nên các hoạt động đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu ở mức độ cải tiến dần dần, như tiết kiệm năng lượng, phân loại và giảm rác thải, cải tiến quy trình nhỏ thông qua làm việc và tương tác thay vì đầu tư chiều sâu cho R&D.

Bảng 1: Mô hình kinh doanh tuần hoàn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam8

STTLĩnh vựcMô hình kinh doanh tuần hoàn
1Nông nghiệpMô hình chăn nuôi thu hồi phân, khí biogas, mô hình trồng lúa kết hợp nuôi rươi. Một số doanh nghiệp sản xuất lương thực thực phẩm phát huy nguồn tài nguyên bản địa để sáng tạo ra các sản phẩm hữu cơ, thân thiện môi trường (trà thảo mộc, ngũ cốc sạch, các sản phẩm từ bột gạo, sâm bố chính, …); Một số doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản tuần hoàn nước kết hợp nuôi cá và trồng rau thuỷ canh và sản xuất các sản phẩm từ phụ phẩm thuỷ hải sản.
2Công nghiệpMô hình sản xuất sạch hơn và sử dụng nguyên liệu thân thiện môi trường. Một số doanh nghiệp dệt may đã tiếp cận các giải pháp nguyên phụ liệu, thương mại hoá các chất liệu sinh thái (vải sợi sen, sợi bạc hà, …), chất liệu tái chế (sợi vải làm từ bã cà phê, vỏ chai nhựa, …), chất liệu tái chế (sợi vải làm từ bã cà phê, vỏ chai nhựa, …);
(Nguồn: Nguyễn Hoa Cương và nhóm nghiên cứu, 2024)

Bảng 1 cho thấy, việc thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo xanh trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn khá hạn chế. Mức độ ứng dụng và cập nhật công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khá thấp, các sản phẩm sản xuất ra có giá trị gia tăng thấp, sản phẩm mới với doanh nghiệp nhưng ít mới với thị trường. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu “đổi mới xanh” trong việc sử dụng nguyên liệu đầu vào (đối với doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, thực phẩm), áp dụng quy trình tuần hoàn (doanh nghiệp nông, lâm, thủy sản).

Bảng 2. Thực trạng thực hiện đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp theo quy mô doanh nghiệp2

Đơn vị tính: %

Quy mô20222023
Không ĐMSTChỉ ĐM sản phẩmChỉ ĐM quy trìnhĐM sản phẩm và quy trìnhKhông ĐMSTChỉ ĐM sản phẩmChỉ ĐM quy trìnhĐM sản phẩm và Quy trình
DN nhỏ78.98.86.65.764.39.013.613.1
DN vừa52.115.522.59.958.89.311.320.6
DN lớn42.116.617.823.657.19.111.921.9
Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025

Theo kết quả điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong số doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo, tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới sản phẩm là 67,3%. Trong đó 23,4% DN chỉ đổi mới sản phẩm và 43,9% DN đổi mới cả sản phẩm và quy trình. Theo quy mô doanh nghiệp, 31,0% doanh nghiệp lớn có đổi mới sản phẩm so với 22,1% doanh nghiệp nhỏ và 29,9% doanh nghiệp vừa (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Trong đổi mới sản phẩm, về cơ bản, các sản phẩm đổi mới đều do các doanh nghiệp tự thực hiện (99,1% đối với doanh nghiệp lớn; 92,8% đối với doanh nghiệp nhỏ và 90,5% đối với doanh nghiệp vừa); việc hợp tác với các tổ chức khác trong đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp còn khá hạn chế (Nguyễn Hoa Cương và nhóm nghiên cứu, 2024).

Bảng 3. Tỷ lệ doanh nghiệp đưa sản phẩm được cải tiến ra thị trường theo quy mô doanh nghiệp và phương thức thực hiện4

Đơn vị tính: %

Quy môDoanh nghiệp tự thực hiệnHợp tác với tổ chức khácDo tổ chức khác thực hiện
Doanh nghiệp nhỏ92,813,81,4
Doanh nghiệp vừa90,59,50,0
Doanh nghiệp lớn99,110,40,9
Nguồn: Điều tra Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2022 của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đang tích cực tự nỗ lực đổi mới, nâng cấp sản phẩm để thích ứng với thị trường; tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân sự, công nghệ, các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng chủ động kết nối, hợp tác với các đối tác bên ngoài để bù đắp thiếu hụt bằng hình thức tự thực hiện và hợp tác với tổ chức khác. Trong khi đó các doanh nghiệp vừa lại có tỷ lệ hợp tác thấp nhất (9,5%) cho thấy tình trạng doanh nghiệp vừa phụ thuộc chủ yếu vào tự làm nhưng thiếu đi sự hợp tác bên ngoài để gia tăng năng lực cạnh tranh, điều này phản ánh một “khoảng trống” chưa tận dụng hiệu quả các mạng lưới hợp tác ngoài của doanh nghiệp vừa.

Thực hiện đổi mới sáng tạo theo hướng xanh đòi hỏi đầu tư đổi mới công nghệ với nguồn lực đủ lớn và trình độ nhân lực tương ứng, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực nhân lực và nguồn lực tài chính rất hạn chế. Người lao động là lực lượng trực tiếp triển khai các hoạt động đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn và xây dựng mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Phát triển năng lực người lao động cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mang ý nghĩa chiến lược lâu dài và hoàn thành sứ mệnh “Hành động vì khí hậu”.

4. Chất lượng lao động Việt Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo

Giai đoạn 2021 – 2025 kinh tế nước ta đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện; cơ cấu, chất lượng lao động có những kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng năng suất lao động của nền kinh tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên 29,2% năm 2025, đạt mục tiêu đặt ra từ 29 – 29,5% tại Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 154. Mặc dù mức tăng chưa lớn, song xu hướng này cho thấy nỗ lực của Nhà nước và xã hội trong nâng cao trình độ, kỹ năng cho người lao động, tạo nền tảng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và đáp ứng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Hình 1. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ, giai đoạn 2021-2025 (%)3

(Nguồn: Cục Thống kê, 2026)

Sau 5 năm tích cực thực hiện các thị trường lao động Việt Nam ghi nhận nhiều điểm sáng quan trọng, như quy mô việc làm tăng, thu nhập cải thiện, thất nghiệp duy trì ở mức thấp và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Tuy nhiên, những hạn chế về lao động phi chính thức, việc làm bền vững, chất lượng nguồn nhân lực và tình trạng thất nghiệp thanh niên vẫn là các “điểm tối” cần được quan tâm. Việc tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là tăng cường đào tạo lao động đáp ứng yêu cầu

Theo kết quả điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ với 2.000 doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa trở lên trên phạm vi toàn quốc hoạt động trong các lĩnh vực về đổi mới sáng tạo để đánh giá quan hệ giữa tỷ lệ trình độ lao động với nỗ lực hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, kết quả thống kê như sau:

Bảng 4. Tỷ lệ doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo theo tỷ lệ lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên2

Đơn vị tính: %

Quy mô lao động có trình độ ĐH trở lên20222023Mức độ thay đổi tỷ lệ doanh nghiệp có ĐMST năm 2023 so với năm 2022 (%)
Có ĐMSTKhông ĐMSTCó ĐMSTKhông ĐMST
Dưới 5%25,874,225,574,5– 0,3
Từ 5 – dưới 10%28,971,132,767,33,8
Từ 10 – dưới 25%29,470,638,261,88,8
Từ 25 – dưới 50%31,268,843,456,612,2
Từ 50% trở lên31,968,149,250,817,3
Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025

Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ trình độ lao động ngày càng ảnh hưởng đến nỗ lực hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, gần một nửa số doanh nghiệp với trên 50% lao động có trình độ đại học được điều tra đã thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo, điều này chứng minh doanh nghiệp sở hữu tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên càng cao thì khả năng thực hiện đổi mới sáng tạo càng lớn. Nguyên nhân của mối quan hệ trên là do đội ngũ lao động trình độ cao mang lại năng lực hấp thụ công nghệ tốt hơn, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng cao hơn, giúp doanh nghiệp dễ dàng chủ động triển khai các giải pháp/sản phẩm/quy trình đổi mới. Về ngưỡng tác động của nhân lực chất lượng cao tới đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp không có đổi mới sáng tạo chiếm đại đa số ở nhóm doanh nghiệp sử dụng dưới 10% nhân lực trình độ cao. Khi doanh nghiệp sử dụng trên 50% lao động trình độ cao khi tỷ lệ nhân lực đạt từ 50% trở lên, gần 50%số doanh nghiệp đã thực hiện đổi mới sáng tạo.

Như vậy, năng lực người lao động chính là “bệ phóng” quan trọng cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo thành công, đặc biệt là đổi mới sáng tạo xanh doanh nghiệp không chỉ đầu tư hiện đại hóa máy móc, công nghệ mà phải ưu tiên tuyển dụng và đào tạo nhân lực trình độ cao. Các doanh nghiệp cần bảo đảm sử dụng tỷ lệ lao động trình độ đại học từ 25% để tạo ra “sức bật” quy mô cho các hoạt động sáng tạo và cải tiến.

6. Thiếu hụt trình độ lao động chất lượng cao ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2023, tỷ lệ việc làm xanh trong tổng số việc làm tại Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 3,6%, chủ yếu tập trung ở các ngành điện, khí đốt, cấp nước (23%), khai mỏ (5%) và dịch vụ thị trường (5%). Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và thực trạng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xanh cho thấy mức độ thiếu hụt nghiêm trọng về lao động chất lượng cao tại Việt Nam, đặc biệt là lao động trong việc làm xanh (Khổng Chiêm, 2025).

Cũng theo các kịch bản của Ngân hàng Thế giới về sự thay đổi nhu cầu lao động so với theo lĩnh vực và kỹ năng tại Việt Nam đến năm 2050, nhu cầu nhóm lao động không có kỹ năng ở tất cả các lĩnh vực đều giảm. Trong nhóm lao động không có kỹ năng, nhu cầu lao động đối với công việc nông nghiệp không đòi hỏi kỹ năng được dự báo giảm gần 20% vào năm 2050, trong khi nhu cầu lao động không có kỹ năng trong các lĩnh vực chế biến chế tạo tăng trên 40%. Đến năm 2050, phân khúc việc làm nông nghiệp trong thị trường lao động không đòi hỏi kỹ năng dự kiến sẽ giảm hơn 30% so với năm 2022, trong khi phân khúc việc làm chế biến chế tạo sẽ tăng đáng kể 20%. Xu hướng tương tự cũng được thể hiện trên thị trường lao động có kỹ năng, với dự báo nhu cầu lao động trong các lĩnh vực chế biến chế tạo tăng 30%. Như vậy, nhu cầu lao động trong tương lai ở các ngành nghề và lĩnh vực đều gắn với công nghệ, khoa học; điều đó đòi hỏi lao động cần được qua đào tạo, trang bị các kỹ năng về công nghệ để đáp ứng yêu cầu thị trường7.

Giai đoạn 2018 – 2022, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng số hóa. Tuy đã triển khai nhiều chính sách phát triển nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tại doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ đạt khoảng 29%; nếu tính cả lao động qua đào tạo nghề, tỷ lệ này đạt khoảng 70%; trong khi đó tại Hàn Quốc, các tỷ lệ tương ứng lần lượt là 55% và 70% (TTXVN, 2026).

Hình 2: So sánh tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đào tạo nghề tại DNNVV ở Việt Nam và Hàn Quốc

(Nguồn: TTXVN, 2026)

Tỷ lệ lao động qua đào tạo tại Việt Nam còn rất thấp, phản ánh tình trạng lao động thiếu nền tảng lý thuyết bài bản, khó thích ứng nhanh khi doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn chuyển đổi công nghệ hoặc mở rộng quy mô; năng suất lao động cá nhân thấp, khả năng làm việc với máy móc, công nghệ phức tạp kém, khó đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra đồng đều. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu mới về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo xanh, kinh doanh bền vững và hội nhập sâu rộng, các hoạt động phát triển năng lực người lao động cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tiếp tục được thực hiện.

7. Một số giải pháp

Thứ nhất, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo xanh trong doanh nghiệp.

Đổi mới sáng tạo xanh có thể đến từ những hành động nhỏ, từ việc thay đổi cách giao tiếp và cách ứng xử nội bộ, cách thức vận hành tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải và kiểm soát phát thải trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối các nguồn lực từ nhà đầu tư, cố vấn và quỹ đầu tư, đồng thời thay đổi tư duy để mở rộng tầm nhìn về đổi mới sáng tạo xanh ngay từ bước đầu tiên là xây dựng và lựa chọn dự án kinh doanh đề cao tiêu chí an toàn môi trường sinh thái.

Các đòn bẩy chiến lược của sự thay đổi văn hóa đổi mới sáng tạo xanh có thể được thực hiện bằng cách áp dụng một số đòn bẩy cơ bản nhất định gồm: (1) Đào tạo để hướng sự chú ý và cam kết của nhân viên hướng tới tầm nhìn mới, gắn với bảo vệ môi trường. (2) Phát triển khả năng lãnh đạo và quản lý thay đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới sáng tạo xanh bằng các chính sách và khung hoạt động. (3) Quy trình và văn hóa mới giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, việc cải thiện sự phối hợp các hoạt động, chia sẻ thông tin và hệ thống thông tin hiệu quả hơn có thể thúc đẩy sự phát triển hành vi đổi mới của doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần thay đổi tư duy xanh bằng cách gắn mục tiêu xanh vào KPI như đưa các tiêu chí giảm lãng phí, sáng kiến xanh vào đánh giá hiệu suất của từng phòng ban.

Thứ hai, hiện đại hóa chương trình đào tạo.

Hệ thống giáo dục hiện tại chưa cập nhật kịp thời các kiến thức và kỹ năng xanh vào giáo trình chính thức về vấn đề này, các khóa đào tạo nâng cao năng lực người lao động phục vụ đổi mới sáng tạo xanh chủ yếu được thực hiện bởi các tổ chức nước ngoái, tốn kém về chi phí. Bên cạnh các chương trình đào tạo nhân sự nội bộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể nâng cao trình độ và năng lực người lao động qua các chương trình hỗ trợ của Chính phủ hoặc hợp tác đào tạo với các doanh nghiệp, đặc biệt là các tổ chức quốc tế có chương trình hỗ trợ đào tạo nhân sự cho kinh tế xanh.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần tận dụng các nguồn lực bên ngoài, như phản hồi từ khách hàng, bằng sáng chế, đối thủ cạnh tranh, agency, công chúng… để nâng cao năng lực người lao động đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo xanh thông qua những thay đổi, cải tiến nhỏ trong quy trình tác nghiệp thông qua “Cẩm nang xanh” hướng dẫn quy trình vận hành xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu rác thải tại nơi làm việc.

Thứ ba, tạo động lực cho người lao động.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khi không thể cạnh tranh bằng các khoản thưởng tài chính lớn, chìa khóa để tạo động lực cho người lao động nâng cao trình độ xanh nằm ở sự linh hoạt, ghi nhận kịp thời và gắn liền lợi ích cá nhân với sự phát triển bền vững như trao thưởng nóng cho các ý tưởng cắt giảm lãng phí, tiết kiệm điện, nước hoặc tối ưu hóa nguyên vật liệu thành công. Hỗ trợ chi phí cho nhân viên tự học các chứng chỉ xanh (như ESG, ISO 14001, năng lượng sạch) với cam kết gắn bó với công ty. Bổ sung quy chế nội bộ phép nhân viên quy đổi các giờ tham gia khóa đào tạo xanh ngoài giờ làm việc thành ngày nghỉ bù hoặc điểm thưởng phúc lợi.

Thứ tư, chuyển đổi số công cụ làm việc.

Công nghệ và công cụ làm việc ra đời để giải phóng con người khỏi các “bẫy tác vụ” thủ công mang tính lặp đi lặp lại. Doanh nghiệp xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa bộ quy trình, tài liệu kỹ thuật, lịch sử dự án, các bài học kinh nghiệm và đồng bộ tài nguyên cho phép nhân sự tiếp cận dữ liệu lớn và không cần qua nhiều thủ tục hành chính xin-cho không chỉ thúc đẩy hiệu suất mà còn là yếu tố nền tảng định hình năng lực tư duy của người lao động.

Việc số hóa cũng giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí liên quan in ấn, chuyển phát tài liệu; giảm tải năng lượng tiêu thụ tại văn phòng và giảm khí thải giao thông từ nhân viên.

8. Kết luận

Nguồn nhân lực sở hữu tư duy bền vững và kỹ năng xanh chính là “bánh răng” cốt lõi giúp hiện thực hóa các sáng kiến đổi mới, tối ưu hóa tài nguyên và vận hành hiệu quả các công cụ chuyển đổi số phục vụ cho ĐMST xanh. Phát triển năng lực người lao động đáp ứng ĐMST xanh đã trở thành yếu tố sống còn quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới. Trước đây doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn tự cho phép mình đứng ngoài công cuộc ĐMST, tình trạng này sẽ khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa đối mặt với các rủi ro pháp lý về môi trường và tự đóng cánh cửa tiếp cận nguồn vốn xanh toàn cầu. Đầu tư vào con người lúc này là chiến lược ngắn nhất để doanh nghiệp nhỏ và vừa bứt phá năng lực cạnh tranh, kiến tạo giá trị nhân văn và phát triển thịnh vượng cùng nền kinh tế carbon thấp.

Tài liệu tham khảo:
Borsatto, J.M.L.S.; Bazani, C.L (2021). Green innovation and environmental regulations: A systematic review of international academic works. Environ. Sci. Pollut. Res. 2021, 28, 63751-63768.   
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024. Nxb Khoa học và Kỹ thuật.
Cục Thống kê (2026). Thị trường lao động, việc làm của Việt Nam năm 2025: những điểm sáng và hạn chế.https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thi-truong-lao-dong-viec-lam-cua-viet-nam-nam-2025-nhung-diem-sang-va-han-che/.
Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (2023). Chính sách tài chính và nhân lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Tổng luận Khoa học Công nghệ Kinh tế, tháng 5/2023.
Khổng Chiêm (2025). Việt Nam rất thiếu nhân lực cho sản xuất xanh và năng lượng tái tạo. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/viet-nam-rat-thieu-nhan-luc-cho-san-xuat-xanh-va-nang-luong-tai-tao-20250916130727009.htm
Makanyeza, C., Mabenge, B. K., & Ngorora-Madzimure, G. P. K. (2023). Factors influencing small and medium enterprises’ innovativeness: Evidence from manufacturing companies in Harare, Zimbabwe. Global Business and Organizational Excellence, 42(3), 10-23. https://doi.org/10.1002/ joe.22180.  
Ngân hàng Thế giới (2025). Việt Nam 2045 tăng trưởng xanh hơn Con đường hướng tới tương lai bền vững. https://.worldbank.org/curated/en/099051625143037334/pdf/P176996-1f81a83a-aa8f-49d2-84ea-ec7d286593c5.pdf.
Nguyễn Hoa Cương và cộng sự (2024). Thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Nxb Thanh Niên.
Romijn, H., & Albaladejo, M. (2002). Determinants of innovation capability in small electronics and software firms in southeast England. Research Policy, 31(7), 1053-1067.   
Schumpeter, J.A. (1934). The theory of economic development: an inquiry into profits, capital, credit, interest and the business cycle. Harvard Economic Studies, Vol. 46, Har-vard College, Cambridge, MA.
Takalo, S.K.; Tooranloo, H.S. (2021). Green innovation: A systematic literature review. J. Clean. Prod. 2021, 279, 122-474.
Thành Trung (2025). Chuyển đổi xanh – Xu thế tất yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://vov.vn/kinh-te/chuyen-doi-xanh-xu-the-tat-yeu-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-post1196482.vov.
TTXVN (2026). Khai thác năng lực doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cơ hội cho tăng trưởng 2 con số. https://www.vietnamplus.vn/khai-thac-nang-luc-doanh-nghiep-nho-va-vua-co-hoi-cho-tang-truong-2-con-so-post1120467.vnp.
Văn phòng Chính phủ (2024). Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.