Phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại

Promoting the values of Ho Chi Minh thought on education in building a modern national education system

TS. Đỗ Thị Thu Hà
Học viện Chính trị Khu vực 1
Email: thuhado556@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là kim chỉ nam soi đường cho sự nghiệp xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên mới, việc vận dụng và phát triển sáng tạo triết lý giáo dục của Người là yêu cầu khách quan, cấp thiết. Bài viết phân tích những giá trị cốt lõi mang tầm nhìn thời đại trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn kết với quan điểm chỉ đạo đột phá tại Đại hội XIV của Đảng về định hình nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, dân chủ và hội nhập. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất các giải pháp, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển đất nước bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Từ khóa: Đại hội XIV của Đảng; giáo dục; tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng nền giáo dục quốc dân.

Abstract: Ho Chi Minh’s educational thought has served as a guiding principle for the development of Vietnam’s revolutionary education system. As Vietnam enters a new era, creatively applying and further developing his educational philosophy has become an objective and urgent requirement. This article analyzes the core values embodying a vision for the times embedded in the ideological legacy of President Ho Chi Minh, in connection with the breakthrough orientations set forth at the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam concerning the development of a modern, equitable, democratic, and internationally integrated national education system. On that basis, the article proposes solutions to contribute to achieving the country’s sustainable development goals by 2030, with a vision to 2045.

Keywords: 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; education; Ho Chi Minh Thought; development of the national education system.
1. Đặt vấn đề

Bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đáp ứng đòi hỏi lịch sử đó, Đại hội XIV (năm 2026) của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đã định hình tầm nhìn chiến lược về xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, mở, liên thông và công bằng (Bộ Chính trị, 2025). Để thực hiện thành công bước chuyển mình lịch sử này, việc kế thừa và phát huy sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Di sản lý luận của Người về giáo dục toàn diện, phương châm “học đi đôi với hành” và tinh thần tự học suốt đời chính là nền tảng vững chắc, kim chỉ nam soi đường cho các quyết sách đổi mới trong giai đoạn hiện nay.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

Một là, giáo dục gắn liền với mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ.

Ngay sau khi giành được độc lập năm 1945, trong bối cảnh chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách dưới tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã đặt nhiệm vụ diệt “giặc dốt” ngang hàng với việc diệt “giặc đói” và giặc ngoại xâm. Xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đó, trong thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tháng 9/1945, Người đã gửi gắm kỳ vọng cho thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm Châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” (Hồ Chí Minh, 2021a, tr. 34 – 35).

Yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng đòi hỏi ngành giáo dục phải linh hoạt điều chỉnh nhiệm vụ, đáp ứng hiệu quả nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của việc học không phải để mưu cầu danh lợi cá nhân hay làm phương tiện “mặc cả với Đảng”, mà học để phụng sự cách mạng. Ghi vào Sổ vàng truyền thống của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tháng 9/1949, Người viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và Nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Sứ mệnh này gắn liền với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có “đức” vừa có “tài”, là hạt nhân thúc đẩy sự nghiệp cách mạng. Do đó, chiến lược giáo dục phải mang tính định hướng lâu dài, nhân văn và bền bỉ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Hồ Chí Minh, 2021d, tr. 528). Trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Hồ Chí Minh, 2021f, tr. 622), điều đó khẳng định tính nhất quán và tầm nhìn vĩ đại của Người đối với sự nghiệp giáo dục quốc dân.

Hai là, xây dựng giáo dục toàn diện, lấy đạo đức cách mạng làm gốc.

Giáo dục toàn diện là tư tưởng xuyên suốt trong quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, nhà trường phải đào tạo con người phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ và đạo đức; mọi khuynh hướng tuyệt đối hóa một mặt, xem nhẹ các mặt còn lại đều dẫn tới sự phát triển lệch lạc của nhân cách người học. Trong thư gửi học sinh nhân dịp khai giảng năm học mới tháng 10/1955, Người xác định bốn nội dung giáo dục cụ thể: “Thể dục – để làm cho thân thể mạnh khỏe, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung; Trí dục – ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới; Mỹ dục – để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp; Đức dục – là yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công” (Hồ Chí Minh, 2021, tập 10, tr.175).

Tư tưởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh mang tính khoa học sâu sắc khi Người chỉ dẫn việc vận dụng linh hoạt nội dung cho từng lứa tuổi, mỗi cấp học, bậc học cụ thể: Đối với “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công” (Hồ Chí Minh, 2021c, tr.186). Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu” (Hồ Chí Minh, 2021c, tr.1186).

Đặc biệt, trong sự phát triển nhân cách của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng mối quan hệ giữa Tài và Đức, giữa Hồng và Chuyên. Trong đó, đạo đức cách mạng (Đức) đóng vai trò là cái gốc, là nền tảng quyết định. Người khẳng định: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” (Hồ Chí Minh, 2021e, tr.398).

Ba là, phương châm “Học đi đôi với hành”, lý luận liên hệ mật thiết với thực tiễn

Để nội dung giáo dục toàn diện đi vào thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương pháp luận giáo dục mang tính cách mạng, học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ mật thiết với thực tiễn công tác. Lý luận chân chính phải là lý luận thiết thực, nghĩa là “Trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế. Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị, có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích” (Hồ Chí Minh, 2021b, tr.311 – 312). Sự thống nhất biện chứng giữa học và hành được Người ví von một cách sinh động “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên” (Hồ Chí Minh, 2021b, tr. 275).

Bốn là, tinh thần tự học, thái độ học tập đúng đắn và học tập suốt đời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hiện thân vĩ đại, sinh động nhất cho tinh thần tự học và tự giáo dục suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2021c, tr. 377). Tinh thần này là vũ khí sắc bén để chống lại sự trì trệ, lạc hậu “xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình” (Hồ Chí Minh, 2021đ, tr. 333).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất cản trở sự tiến bộ của con người: “Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” (Hồ Chí Minh, 2021d, tr. 98). Do đó, người học phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà, tự nguyện, tự giác, xem học tập là một nhiệm vụ cách mạng bắt buộc phải hoàn thành. Trong quá trình học tập, phải có bản lĩnh dũng cảm bảo vệ chân lý, giữ vững tính nguyên tắc, chống lại lối sống điều hòa, ba phải; đồng thời, phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, mạnh dạn phê bình và thật thà tự phê bình trên tinh thần đồng chí thương yêu để cùng nhau tiến bộ.

Năm là, sứ mệnh vẻ vang, cao quý và yêu cầu gương mẫu của người thầy giáo

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ thầy giáo, cô giáo giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và tương lai của dân tộc. Người luôn đề cao vị thế xã hội và trân trọng tôn vinh những người làm nghề “dạy chữ, dạy người”. Người khẳng định “Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh” (Hồ Chí Minh, 2021e, tr. 402 – 403). Đây là một sự đánh giá hết sức sâu sắc, nhân văn, ghi nhận sự cống hiến thầm lặng nhưng vĩ đại của các nhà giáo đối với sự nghiệp trồng người.

Tuy nhiên, sứ mệnh càng vẻ vang thì trách nhiệm càng nặng nề. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người thầy giáo phải chú ý cả tài lẫn đức; tài là chuyên môn, văn hóa, đức là chính trị, đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh nguyên lý giáo dục nêu gương: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con” (Hồ Chí Minh, 2021đ, tr. 270). Người thầy là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, mọi hành vi, cử chỉ, đạo đức của người thầy đều có tác động trực tiếp, sâu sắc đến việc hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.

3. Tầm nhìn chiến lược và định hướng đột phá phát triển giáo dục quốc dân theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Từ những di sản lý luận trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng đã tiếp tục kế thừa và phát triển sáng tạo các quan điểm ấy vào thực tiễn mới. Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV (năm 2026) của Đảng tiếp tục khẳng định vị thế và tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.101). Sứ mệnh lịch sử của giáo dục trong giai đoạn mới không chỉ đóng vai trò nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực mà còn là động lực chiến lược đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, văn minh, hiện thực hóa khát vọng sánh vai với các cường quốc năm châu.
Nhằm tạo bước đột phá mạnh mẽ về thể chế, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tiếp tục tái khẳng định quan điểm mang tính nguyên tắc “phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” (Bộ Chính trị, 2025). Quan điểm này được xác lập nhất quán từ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI), theo đó “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013). Sau mười năm thực hiện, Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024a). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị vì thế là bước phát triển trên nền tảng kế thừa, chuyển trọng tâm từ “đổi mới” sang “đột phá”. Giáo dục phải được đặt trong thế phát triển tổng thể, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, đóng vai trò là nền tảng và nguồn lực nội sinh để đất nước bứt phá nhanh, bền vững hướng tới các mục tiêu phát triển chiến lược.

Để hoàn thành sứ mệnh đó, hệ thống giáo dục quốc dân cần được đổi mới toàn diện “theo hướng mở, liên thông giữa các phương thức, trình độ và cấp học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hoá chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.101). Yêu cầu “chuyển mạnh” này đã được Nghị quyết số 29-NQ/TW xác định thành quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013); Đại hội XIV bổ sung yếu tố thể lực và đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra.
Song hành với sự bứt phá của khoa học và công nghệ, Đại hội XIV và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định việc chuyển đổi số toàn diện là động lực trung tâm để hiện đại hóa giáo dục nước nhà, trong đó Nghị quyết số 71-NQ/TW dành riêng một nhóm nhiệm vụ cho “Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo” (Bộ Chính trị, 2025). Định hướng này nằm trong khuôn khổ chung của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, khi Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu” (Bộ Chính trị, 2024b). Nhiệm vụ trọng tâm là phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số cùng trí tuệ nhân tạo (AI) trong toàn bộ hoạt động giảng dạy, học tập và quản trị trường học. Chuyển đổi số không chỉ giúp cá nhân hóa lộ trình học tập, mở rộng không gian tiếp cận tri thức mà còn tạo nền tảng vững chắc để triển khai các chương trình đào tạo từ xa, đúng với yêu cầu “xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội” (Bộ Chính trị, 2024b), hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý và nâng cao hiệu quả quốc gia trong việc trang bị kỹ năng số toàn diện cho người học.

Yêu cầu phát triển bứt phá của nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải đi trước một bước trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế. Đại hội XIV chủ trương “tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.103). Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đảng yêu cầu xây dựng các cơ chế, chính sách đặc biệt vượt trội nhằm “phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; chú trọng thu hút các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.103).

Đồng thời, nền giáo dục quốc dân hiện đại phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và tham gia hiệu quả vào mạng lưới học tập toàn cầu. Đại hội XIV của Đảng định hướng “thu hút mạnh mẽ các nguồn lực cho giáo dục; khuyến khích các nhà giáo, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học trong nước; đẩy mạnh việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.103). Tất cả những nỗ lực này hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội học tập suốt đời, nơi mọi người dân đều có ý thức tự học, tự rèn luyện dưới sự hỗ trợ đắc lực của các thiết chế giáo dục để bảo đảm sự công bằng và không ai bị bỏ lại phía sau.

3. Một số giải pháp

Một là, chuyển mạnh mục tiêu giáo dục sang phát triển năng lực và phẩm chất toàn diện, kiên định triết lý “vừa hồng vừa chuyên” trong bối cảnh mới.

Vận dụng giá trị cốt lõi này, giải pháp căn bản hàng đầu trong xây dựng nền giáo dục hiện đại là chuyển đổi triệt để mục tiêu giáo dục từ truyền thụ kiến thức thuần túy sang bồi dưỡng năng lực hành động gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng. Nhà trường hiện đại không chỉ đào tạo những kỹ sư, nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao mà phải chú trọng đặc biệt đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng yêu nước, ý thức tự tôn, tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội và chuẩn mực ứng xử văn minh cho thế hệ trẻ. Định hướng này cụ thể hóa yêu cầu của Văn kiện Đại hội XIV: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.101).

Cần thực hiện nghiêm túc việc tích hợp hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới vào nội dung giảng dạy ở mọi bậc học, theo đúng yêu cầu của Nghị quyết số 71-NQ/TW: “Xây dựng và cụ thể hóa hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới, tích hợp xuyên suốt trong chương trình giáo dục ở tất cả cấp học” (Bộ Chính trị, 2025). Việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống và tinh thần thượng tôn pháp luật phải được tiến hành thường xuyên, sinh động, chống lối dạy lý thuyết suông hay gò ép hình thức. Đây chính là con đường thực chất nhất để bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau “vừa hồng vừa chuyên”, trở thành những chủ nhân tương lai thực sự có đức, có tài, đủ sức gánh vác trọng trách đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Hai là, thực hiện đồng bộ phương châm “học đi đôi với hành” qua giáo dục tích hợp STEAM và nghiên cứu khoa học thực tiễn.

Để phát huy giá trị này, giải pháp trọng tâm hiện nay là hiện thực hóa phương châm học đi đôi với hành thông qua việc triển khai mạnh mẽ đề án giáo dục tích hợp STEAM và hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số ngay từ bậc học phổ thông. Học sinh cần được rèn luyện khả năng tư duy độc lập, tự chủ, tự thực hành thông qua các dự án công nghệ, nghiên cứu ứng dụng thực tế thay vì học thuộc lòng sách vở.

Đối với giáo dục đại học, giải pháp đột phá là thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với các doanh nghiệp sản xuất, phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học “trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo” (Bộ Chính trị, 2024b). Vì vậy, Đại hội XIV chủ trương “có chính sách đột phá phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngang tầm các nước tiên tiến” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.101). Quá trình đào tạo đại học phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học tiên tiến của thế giới với thực tiễn đặc thù của Việt Nam để người học có thể áp dụng trực tiếp tri thức vào công cuộc kiến thiết, phát triển đất nước.

Ba là, đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số” và phổ cập kỹ năng số để xây dựng xã hội học tập suốt đời.

Kế thừa sáng tạo tinh thần chiến dịch “Bình dân học vụ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải pháp đột phá hiện nay là phát động phong trào “Bình dân học vụ số” nhằm phổ cập năng lực số và kỹ năng công nghệ toàn diện cho Nhân dân. Đây là bước đi then chốt để thực hiện mục tiêu chiến lược của Đại hội XIV của Đảng về phát triển nguồn nhân lực số phục vụ nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Để xây dựng xã hội học tập suốt đời, cần đa dạng hóa các mô hình học tập, đẩy mạnh đào tạo trực tuyến mở và nâng cao năng lực của các trung tâm học tập cộng đồng. Đại hội XIV của Đảng xác định phương hướng “Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng đa dạng hóa, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.103). Đồng thời, “hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng, nhất là ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đào tạo từ xa; hỗ trợ những người yếu thế có điều kiện để học tập suốt đời” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.104). Qua đó, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự học bền bỉ theo tấm gương học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp người lao động không bị lạc hậu và đào thải trong kỷ nguyên số.

Bốn là, phát triển đội ngũ nhà giáo xứng tầm thời đại và ban hành các chính sách đãi ngộ, tôn vinh đặc thù cho giáo viên

Nhằm phát huy giá trị tư tưởng này, giải pháp then chốt của Đại hội XIV của Đảng là tập trung đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Người thầy trong kỷ nguyên mới phải không ngừng học tập, tự nâng cao trình độ chuyên môn, làm chủ công nghệ số và ứng dụng thuần thục AI vào công tác giảng dạy nhằm khơi gợi năng lực sáng tạo của học sinh.

Bên cạnh đó, giải pháp đột phá và cấp thiết là phải xây dựng các chính sách đãi ngộ tương xứng để tôn vinh và giữ chân đội ngũ nhà giáo. Đảng và Nhà nước cần nhanh chóng cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc chính sách cải cách tiền lương, ban hành các chế độ phụ cấp, phụ cấp kiêm nhiệm và thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội cho giáo viên gặp khó khăn về nhà ở, Đại hội XIV của Đảng khẳng định chủ trương “Có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và cán bộ quản lý giáo dục” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.101). Đồng thời, cần thực hiện việc sắp xếp, tinh giản các đơn vị sự nghiệp giáo dục, trường học một cách khoa học để nâng cao hiệu quả đầu tư công, tập trung nguồn lực tài chính cho phát triển chuyên môn.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là di sản vô giá, mang tính thời đại sâu sắc và là kim chỉ nam soi đường cho sự nghiệp giáo dục cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, các định hướng chiến lược của Đại hội XIV về xây dựng một nền giáo dục quốc dân hiện đại, mở và công bằng chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo triết lý nhân văn của Người. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển giáo dục là chìa khóa then chốt để nâng tầm nguồn nhân lực quốc gia. Kiên định phát huy di sản giáo dục Hồ Chí Minh không chỉ giúp chấn hưng giáo dục nước nhà mà còn tạo bệ phóng vững chắc đưa Việt Nam bứt phá phát triển và hội nhập thành công trong kỷ nguyên số.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024a). Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021b). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021c). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021d). Toàn tập (Tập 11). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021đ). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021e). Toàn tập (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2021f). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.