Nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân khu vực 10, TP. Hồ Chí Minh

Improving the effectiveness of administrative handling measures at the People’s Court of Region 10, Ho Chi Minh City

TS. Nguyễn Thế Tài
Học viện Hành chính và Quản trị công
Võ Thị Mỹ Tiên
Tòa án nhân dân khu vực 10, TP. Hồ Chí Minh
Email: taint@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực thực hiện thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc và cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trên cơ sở phân tích quy phạm và thống kê mô tả số liệu nội bộ của Tòa án nhân dân khu vực 10, TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2022–2025, bài viết đánh giá tác động của các quy định có hiệu lực trong năm 2026. Kết quả cho thấy, khối lượng hồ sơ tăng nhanh: 97,0% hồ sơ liên quan đến cai nghiện bắt buộc, và thời gian giải quyết bình quân năm 2025 là 11 ngày, tạo áp lực đáng kể khi thời hạn thông thường giảm xuống còn 10 ngày. Tuy nhiên, các tỷ lệ đúng hạn, giữ nguyên quyết định và khiếu nại chưa đủ để tự thân chứng minh chất lượng của kiểm soát tư pháp. Bài viết đề xuất chuẩn hóa hồ sơ đầu vào, thiết lập bộ tiêu chí kiểm soát tính hợp pháp – cần thiết – tương xứng, tổ chức chuyên môn hóa có kiểm soát, liên thông dữ liệu an toàn và theo dõi kết quả bằng các chỉ số có thể kiểm chứng.

Từ khóa: Biện pháp xử lý hành chính; Tòa án nhân dân; cai nghiện bắt buộc; người chưa thành niên; quyền con người; phối hợp liên ngành.

Abstract: Since 1 July 2025, regional People’s Courts have exercised jurisdiction over placements in reformatories, compulsory education establishments, and compulsory drug rehabilitation establishments. Using doctrinal legal analysis and descriptive statistics from the People’s Court of Region 10, Ho Chi Minh City, for 2022 – 2025, this article assesses the impact of legal instruments taking effect in 2026. The findings indicate rapidly increasing caseloads: compulsory drug rehabilitation accounts for 97.0% of the files. At the same time, the average processing time in 2025 was 11 days, creating substantial pressure after the ordinary statutory time limit was reduced to 10 days. Nevertheless, timely resolution rates, upheld decisions, and complaints do not, by themselves, establish the substantive quality of judicial review. The article proposes standardized intake files, a legality necessity proportionality review framework, controlled specialization, secure data interoperability, and verifiable performance indicators.

Keywords: administrative handling measures; People’s Court; compulsory drug rehabilitation; minors; human rights; inter-agency coordination.

1. Đặt vấn đề

Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc và cơ sở cai nghiện bắt buộc không phải là hình phạt hình sự, nhưng đều khiến người bị áp dụng bị cách ly khỏi gia đình và cộng đồng trong một thời gian đáng kể. Vì vậy, việc giao Tòa án quyết định không chỉ là sự phân công thẩm quyền hành chính; đó còn là cơ chế kiểm soát tư pháp đối với một quyết định hạn chế quyền con người. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung gần nhất năm 2025), ba biện pháp này thuộc nhóm biện pháp xử lý hành chính do Tòa án xem xét, quyết định (Quốc hội, 2012, 2025c).

Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực thay thế Tòa án nhân dân cấp huyện theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 (Quốc hội, 2024a, 2025d; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025a). Đến năm 2026, khung pháp lý tiếp tục thay đổi đáng kể: Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 thiết lập nền tảng thực hiện thủ tục trên môi trường số; Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 rút ngắn thời hạn giải quyết và sửa đổi thủ tục đối với người thành niên; Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026 thay thế thủ tục cũ đối với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi từ ngày 01/8/2026.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, đối chiếu pháp luật và thống kê mô tả. Dữ liệu thực tiễn được kế thừa từ đề án thạc sĩ của Võ Thị Mỹ Tiên (2026) và số liệu nội bộ do đơn vị cung cấp. Phạm vi số liệu chủ yếu là giai đoạn 2022–2025; do đó, bài viết không mở rộng kết quả trước ngày 01/7/2026 để đánh giá thực chứng về hiệu quả của quy định mới. Mục tiêu là nhận diện khoảng cách giữa chuẩn mực pháp lý và năng lực tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp có thể đo lường được.

2. Khung pháp lý và tiêu chí đánh giá hiệu quả

2.1. Kiểm soát tư pháp đối với biện pháp hạn chế quyền

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 chỉ cho phép hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật khi cần thiết vì những mục tiêu chính đáng được Hiến pháp liệt kê; Điều 20 bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Quốc hội, 2013). Từ hai quy định này, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải đồng thời đáp ứng 3 tầng kiểm soát: có căn cứ luật định; thực sự cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể và tương xứng giữa mức độ hạn chế quyền và nguy cơ cần phòng ngừa. Việc hồ sơ đủ thành phần mới chỉ giải quyết tầng thứ nhất, chưa thay thế cho việc đánh giá tính cần thiết và tính tương xứng.

Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đặt ra yêu cầu chống tước đi quyền tự do tùy tiện; điểm b Điều 37 Công ước về quyền trẻ em yêu cầu việc tước quyền tự do đối với người dưới 18 tuổi chỉ được sử dụng như biện pháp cuối cùng và trong thời gian ngắn nhất có thể (United Nations, 1966, 1989). Tuyên bố chung của các cơ quan Liên Hợp quốc năm 2012 khuyến nghị chuyển từ cơ sở cai nghiện bắt buộc sang các dịch vụ tự nguyện dựa vào cộng đồng (United Nations, 2012). Trong bối cảnh pháp luật Việt Nam vẫn duy trì cai nghiện bắt buộc, phiên họp tại Tòa án phải là nơi kiểm tra thực chất các tài liệu xác định tình trạng nghiện, điều kiện áp dụng, thủ tục lập hồ sơ và khả năng lựa chọn biện pháp ít hạn chế hơn; không thể chỉ xác nhận đề nghị của cơ quan lập hồ sơ.

2.2. Những thay đổi pháp lý trực tiếp trong giai đoạn 2025–2026

Bảng 1. Một số quy định mới tác động trực tiếp đến hoạt động của Tòa án nhân dân khu vực

Văn bản, thời điểm hiệu lựcTác động pháp lý trực tiếp
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025
Hiệu lực liên quan: 01/7/2025
Tổ chức Tòa án nhân dân khu vực, xác định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ và kế thừa nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025
Hiệu lực: 01/7/2025
Điều chỉnh tên gọi, thẩm quyền và chủ thể lập hồ sơ theo mô hình tổ chức mới; chuyển một số trách nhiệm về Trưởng Công an cấp xã.
Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026
Hiệu lực: 01/3/2026
Thiết lập cơ sở chung cho gửi, nhận tài liệu, chứng cứ; thông báo, cấp, tống đạt; và thực hiện thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án.
Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026
Hiệu lực: 01/7/2026
Quy định lại đối tượng, thời hạn, quản lý trong thời gian lập hồ sơ, cai nghiện bắt buộc và quản lý sau cai; đặt ra yêu cầu nhận diện chính xác lịch sử cai nghiện và trao đổi dữ liệu.
Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026
Hiệu lực: 01/7/2026
Rút thời hạn ra quyết định từ 15 xuống 10 ngày; vụ việc phức tạp tối đa 20 ngày; cho phép hồ sơ điện tử; sửa đổi cách tổ chức phiên họp và quy định chuyển tiếp.
Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026
Hiệu lực: 01/8/2026
Thay thế Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15; quy định thủ tục riêng, thân thiện và bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi.
Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Thứ nhất, thời hạn thông thường để ra quyết định theo Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 giảm từ 15 xuống 10 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2026a). Việc rút ngắn thời hạn giúp giảm thời gian chờ đợi và hạn chế kéo dài thời gian quản lý, song cũng làm tăng rủi ro xử lý hình thức nếu tiêu chí “phức tạp” và cơ chế bổ sung hồ sơ không được thống nhất. Để bảo đảm bình đẳng trong áp dụng, quyết định kéo dài phải nêu rõ tình tiết cụ thể khiến vụ việc không thể hoàn thành trong thời hạn thông thường, thay vì chỉ lặp lại các thuật ngữ của pháp luật.

Thứ hai, thủ tục điện tử đã có cơ sở pháp lý chung. Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 điều chỉnh việc thực hiện thủ tục tố tụng và thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án; Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 tiếp tục ghi nhận hình thức hồ sơ điện tử (Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 2026; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2026a). Vì vậy, vấn đề hiện nay không phải là thiếu hoàn toàn cơ sở pháp lý mà là thiếu quy trình liên thông chuyên biệt giữa Công an cấp xã, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ sở thi hành: chuẩn dữ liệu, định danh hồ sơ, xác thực tài liệu, thời điểm được coi là đã nhận và cơ chế xử lý khi hệ thống gặp sự cố.

Thứ ba, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định thời hạn cai nghiện bắt buộc là 24 tháng đối với lần đầu và 36 tháng đối với lần thứ hai; Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 cụ thể hóa việc quản lý, cai nghiện và quản lý sau cai (Quốc hội, 2025b; Chính phủ, 2026). Chênh lệch 12 tháng khiến việc xác định “lần cai nghiện” trở thành một sự kiện pháp lý quan trọng. Thẩm phán cần dựa vào dữ liệu có nguồn gốc, quyết định đã có hiệu lực và thông tin thi hành, không chỉ dựa vào lời khai hoặc mục “tiền án, tiền sự”, bởi các khái niệm này không đồng nhất.

Thứ tư, kể từ ngày 01/8/2026, thủ tục đối với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi được điều chỉnh trực tiếp bởi Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026, thay thế Pháp lệnh năm 2022 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2026b). Trọng tâm mới là triển khai đầy đủ các nguyên tắc: lợi ích tốt nhất, thủ tục thân thiện, quyền được giải thích, quyền có người bảo vệ và yêu cầu về năng lực của người tiến hành thủ tục.

2.3. Nội hàm của “hiệu quả”

Hiệu quả áp dụng không thể đồng nhất với tốc độ giải quyết. Một cơ chế hiệu quả phải đồng thời đáp ứng bốn yêu cầu: đúng căn cứ và đúng thủ tục; bảo đảm quyền tham gia thực chất của người bị đề nghị; giải quyết trong thời hạn; và tạo điều kiện để quyết định có thể được thi hành. Theo đó, tỷ lệ đúng hạn phản ánh hiệu suất; tỷ lệ quyết định bị sửa, bị hủy hoặc bị khiếu nại chỉ phản ánh một phần chất lượng; còn tính cần thiết, tính tương xứng và khả năng tái hòa nhập cần được đo lường bằng các dữ liệu khác. Cách tiếp cận đa tiêu chí giúp tránh tình trạng tối ưu một chỉ số thời gian nhưng làm suy giảm chất lượng xem xét tư pháp.

3. Thực trạng tại Tòa án nhân dân khu vực 10

3.1. Quy mô và cơ cấu hồ sơ

Số hồ sơ được báo cáo tăng từ 251 vụ năm 2022 lên 650 vụ năm 2025, tức tăng 159,0% và gấp khoảng 2,6 lần. Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của cả giai đoạn xấp xỉ 37,3%, nhưng mức tăng không phân bố đều; riêng giai đoạn 2024–2025 là khoảng 5,9% (Võ Thị Mỹ Tiên, 2026).

Hình 1. Số hồ sơ năm 2022, năm 2025 và kịch bản năm 2030

Nguồn: Số liệu do tác giả nghiên cứu tổng hợp; kịch bản 2030 do tác giả tính theo mức tăng 5,9%/năm.

Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chiếm 97,0% trong hồ sơ. Với mẫu số 650, tỷ lệ này tương đương xấp xỉ 631 hồ sơ nếu các tỷ lệ được tính trên cùng một tập dữ liệu. Cơ cấu tập trung giúp chuyên môn hóa, nhưng đồng thời khiến khối lượng công việc phức tạp, quá tải, Thẩm phán chưa có đủ kinh nghiệm, năng lực thích ứng. Nhóm hồ sơ còn lại chỉ chiếm 3,0% nên năng lực giải quyết các biện pháp ít phát sinh, đặc biệt là các vụ việc có người chưa thành niên.

Hình 2. Cơ cấu hồ sơ theo nhóm biện pháp xử lý hành chính

Nguồn: Số liệu nội bộ do tác giả cung cấp (Võ Thị Mỹ Tiên, 2026).

3.2. Tiến độ, chất lượng và giới hạn của dữ liệu

Số liệu năm 2025 cho thấy 99,3% hồ sơ được giải quyết đúng hạn; thời gian giải quyết trung bình là 11 ngày; 92,3% quyết định được giữ nguyên khi xét lại; 1,2% quyết định bị khiếu nại hoặc kháng nghị; 2,6% hồ sơ phải trả lại để bổ sung; 48,4% người bị đề nghị có tiền án, tiền sự (Võ Thị Mỹ Tiên, 2026). Các chỉ số cho thấy, hoạt động nhìn chung ổn định trong khung thời gian cũ, nhưng chưa đủ để kết luận về chất lượng xem xét các biện pháp.

Đặc biệt, thời hạn bình quân 11 ngày cao hơn thời hạn thông thường 10 ngày có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, nhưng không đồng nghĩa với việc mọi hồ sơ hoặc phần lớn hồ sơ sẽ bị quá hạn. Kết luận về tuân thủ phải dựa trên từng hồ sơ, ngày thụ lý, việc xác định vụ việc phức tạp và ngày ra quyết định.

Hình 3. Thời hạn thông thường và thời gian giải quyết bình quân

Nguồn: Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026; số liệu nội bộ năm 2025.

Tỷ lệ 92,3% quyết định được giữ nguyên và tỷ lệ khiếu nại, kháng nghị 1,2% chỉ là tín hiệu tham khảo, không phải là bằng chứng tự thân về sự kiểm soát tư pháp thực chất. Một quyết định không bị khiếu nại có thể do người bị đề nghị đồng thuận, nhưng cũng có thể do hạn chế trong việc tiếp cận thông tin hoặc do không nhận được sự trợ giúp pháp lý. Tương tự, 48,4% người bị đề nghị có tiền án, tiền sự không thể được sử dụng như một chỉ số về tỷ lệ tái nghiện hoặc tái phạm. “Tiền án, tiền sự” là biến tổng hợp, có thể không liên quan đến ma túy và không cho biết người đó đã cai nghiện bắt buộc bao nhiêu lần. Muốn đánh giá tính lặp lại và hiệu quả sau cai, dữ liệu phải được tách riêng: lịch sử cai nghiện, thời điểm hoàn thành cai, hành vi mới, việc làm, nơi cư trú và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ.

3.3. Những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân

Một là, khối lượng tăng nhanh trong khi thời hạn giảm. Mỗi hồ sơ đều đòi hỏi việc kiểm tra tài liệu, thông báo, chuẩn bị và tổ chức phiên họp. Nếu nhân lực không được điều chỉnh theo số lượng hồ sơ và mức độ phức tạp, áp lực thời gian có thể làm giảm mức độ thẩm tra. Vì vậy, định biên cần sử dụng khối lượng quy đổi cho các trường hợp: hồ sơ thông thường, hồ sơ có người chưa thành niên, hồ sơ cần người bảo vệ hoặc phiên dịch, hồ sơ có tranh chấp về nơi cư trú và hồ sơ phải xác minh lịch sử cai nghiện.

Hai là, chất lượng hồ sơ đầu vào chưa đồng đều. Tỷ lệ trả lại 2,6% không lớn, nhưng trong thời hạn 10 ngày, mỗi vòng bổ sung đều làm giảm đáng kể thời gian dành cho nghiên cứu và ảnh hưởng đến quyền tham gia. Nguyên nhân có thể nằm ở danh mục tài liệu chưa thống nhất, kỹ năng lập hồ sơ không đồng đều và khó khăn trong việc xác minh tình trạng cư trú, tình trạng nghiện hoặc lịch sử cai nghiện. Đây là giả thuyết quản trị cần được kiểm chứng bằng thống kê về lý do trả hồ sơ, không nên quy hoàn toàn cho một chủ thể.

Ba là, dữ liệu phân tán giữa cơ quan lập hồ sơ, Tòa án và cơ sở thi hành. Việc xác định lần cai nghiện, thời hạn phải chấp hành và tình trạng thi hành cần dữ liệu chính xác, cập nhật và có giá trị chứng minh. Sai lệch dữ liệu có thể dẫn đến chênh lệch 12 tháng trong thời hạn cai nghiện. Đồng thời, hồ sơ ma túy và sức khỏe chứa dữ liệu cá nhân nhạy cảm, nên liên thông phải tuân thủ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025; nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu, phân quyền truy cập, ghi nhật ký và giới hạn mục đích phải được tích hợp ngay từ thiết kế hệ thống (Quốc hội, 2025a; Chính phủ, 2025).

Bốn là, năng lực tiếp nhận của cơ sở thi hành chịu tác động đồng thời bởi số lượng hồ sơ và thời hạn chấp hành. Phép tính 97,0% của 650 hồ sơ cho kết quả khoảng 631 hồ sơ cai nghiện, nhưng không thể suy ra trực tiếp thành số người phải tiếp nhận vì chưa biết tỷ lệ chấp nhận đề nghị, thời điểm thi hành, các trường hợp đình chỉ hoặc trùng lặp cá nhân. Do đó, các con số 1.262 người cho chu kỳ 24 tháng hoặc 1.893 người cho chu kỳ 36 tháng chỉ là kịch bản công suất cực đại theo giả định đơn giản, không phản ánh nhu cầu thực tế. Nhu cầu phải được tính theo luồng vào, luồng ra, tỷ lệ quyết định có hiệu lực và thời gian chấp hành thực tế.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

4.1. Chuẩn hóa kiểm soát pháp lý và hồ sơ

Thứ nhất, xây dựng phiếu kiểm tra tư pháp thống nhất gồm bốn nhóm câu hỏi: (1) thẩm quyền và thủ tục lập hồ sơ; (2) độ tin cậy, tính hợp pháp của tài liệu xác định tình trạng nghiện và nhân thân; (3) điều kiện áp dụng, sự cần thiết và khả năng lựa chọn biện pháp ít hạn chế hơn; (4) tính tương xứng của loại biện pháp và thời hạn. Phiếu kiểm tra là công cụ hỗ trợ lập luận, không thay thế cho việc đánh giá độc lập của thẩm phán. Quyết định cần trả lời ngắn gọn cho từng nhóm vấn đề, nhất là khi bác bỏ ý kiến của người được đề nghị.

Thứ hai, ban hành danh mục hồ sơ dùng chung trong quy chế phối hợp liên ngành. Danh mục cần phân biệt tài liệu bắt buộc theo luật, tài liệu cần thiết tùy trường hợp và tài liệu tham khảo; đồng thời xác định cơ quan chịu trách nhiệm, hình thức bản điện tử, thời hạn hoàn tất và cách xử lý khi có tài liệu mâu thuẫn. Đối với lịch sử cai nghiện, phải có trường dữ liệu riêng về số, ngày ra quyết định, ngày bắt đầu và kết thúc thi hành, cơ quan thi hành và tình trạng pháp lý của quyết định.

Thứ ba, quy định nội bộ về các vụ việc phức tạp và việc gia hạn. Các dấu hiệu có thể gồm: tranh chấp về thẩm quyền hoặc nơi cư trú; tài liệu xác định tình trạng nghiện mâu thuẫn; cần giám định, phiên dịch hoặc người bảo vệ; chưa xác minh được lịch sử cai nghiện; có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng trong quá trình lập hồ sơ. Việc kéo dài phải được ghi nhận bằng quyết định có lý do và được thống kê định kỳ để ngăn ngừa việc sử dụng ngoại lệ như một thông lệ.

Thứ tư, triển khai đúng Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026 đối với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi. Cần bố trí Thẩm phán đáp ứng yêu cầu chuyên môn; giải thích quyền bằng ngôn ngữ pháp lý phù hợp; bảo đảm sự tham gia của người đại diện và người bảo vệ; tổ chức không gian, thời lượng, cách hỏi thân thiện và ghi nhận rõ việc đã cân nhắc lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên. Hồ sơ nhóm này nên được nhận diện tự động để ưu tiên xếp lịch và kiểm tra xem đã đủ số lượng chủ thể tham gia hay chưa.

4.2. Tổ chức nhân lực và quy trình theo thời hạn 10 ngày

Tòa án nhân dân khu vực 10 cần thiết kế quy trình ngược từ hạn cuối: ngày 0 tiếp nhận và kiểm tra điều kiện thụ lý; ngày 1–2 hoàn thành phân công và kiểm tra sơ bộ; ngày 3–5 thông báo, chuyển hồ sơ và xử lý yêu cầu bổ sung; ngày 6–8 mở phiên họp; ngày 9–10 hoàn tất, ban hành và gửi quyết định. Đây là mốc quản trị nội bộ, không làm thay đổi thời hạn luật định và phải có nhánh xử lý riêng cho các vụ việc phức tạp. Bảng theo dõi điện tử cần cảnh báo tại các mốc 50%, 70% và 90% của thời hạn.

Phân công nhân sự nên kết hợp chuyên môn hóa với luân phiên. Một nhóm nòng cốt duy trì kỹ năng và cập nhật pháp luật; thẩm phán dự phòng được huấn luyện để xử lý các tình huống đột biến, tránh phụ thuộc vào một vài cá nhân. Khối lượng phân công không chỉ đếm số hồ sơ mà còn phải tính cả hệ số phức tạp. Việc bồi dưỡng nên sử dụng các tình huống hồ sơ thật đã được ẩn danh, tập trung vào việc đánh giá chứng cứ, quyền được nghe, kỹ năng làm việc với người chưa thành niên và lập luận về tính tương xứng.

4.3. Hồ sơ điện tử, liên thông dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trên nền tảng Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026, quy trình liên thông chuyên biệt cần quy định: mã hồ sơ duy nhất; danh mục siêu dữ liệu; chữ ký số và cơ chế kiểm tra tính toàn vẹn; biên nhận điện tử có dấu thời gian; cơ chế chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; nhật ký truy cập; và phương án dự phòng khi hệ thống bị gián đoạn. Chỉ tài liệu cần thiết cho mục đích giải quyết, thi hành và kiểm tra quyết định mới được chia sẻ. Thông tin sức khỏe, tình trạng nghiện và lý lịch phải được phân quyền chặt chẽ, mã hóa khi truyền/lưu trữ và có thời hạn lưu giữ rõ ràng.

Liên thông dữ liệu không đồng nghĩa với việc một cơ quan được xem toàn bộ dữ liệu của cơ quan khác. Mô hình phù hợp là truy vấn có mục đích, trả về dữ liệu tối thiểu, kèm theo nguồn, thời điểm cập nhật và trạng thái pháp lý. Khi dữ liệu mâu thuẫn, hệ thống phải cảnh báo và yêu cầu xác minh thủ công; không để thuật toán tự động xác định lần cai nghiện hoặc đề xuất thời hạn mang tính quyết định.

4.4. Phối hợp thi hành, quản lý sau cai và đánh giá kết quả

Tòa án không trực tiếp quản lý cơ sở cai nghiện hay quyết định đầu tư công suất, nhưng có thể cung cấp dữ liệu dự báo đáng tin cậy cho Công an và Ủy ban nhân dân Thành phố. Báo cáo hằng quý nên thể hiện số hồ sơ thụ lý, tỷ lệ đề nghị được chấp nhận, thời hạn ra quyết định, thời điểm dự kiến chấp hành và phân nhóm theo 24/36 tháng. Dữ liệu này giúp triển khai Nghị quyết số 55/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025 và Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 dựa trên nhu cầu thực tế, thay vì chỉ dựa trên số lượng hồ sơ thụ lý.

Đánh giá sau cai cần được thực hiện thông qua cơ chế liên ngành. Các chỉ số nên bao gồm tỷ lệ hoàn thành chương trình, có việc làm hoặc học nghề, tiếp cận điều trị tự nguyện, tái sử dụng ma túy và tái phạm trong các khoảng thời gian xác định. Những dữ liệu này không dùng để tự động gây bất lợi cho cá nhân trong vụ việc mới; mục đích chính là đánh giá chính sách và bố trí hỗ trợ. Mọi hoạt động theo dõi phải có căn cứ pháp lý, có thời hạn và được kiểm soát quyền truy cập.

4.5. Bộ chỉ số theo dõi

Bảng 2 là bộ chỉ số quản trị do tác giả đề xuất, không phải là chuẩn pháp lý bắt buộc. Mục tiêu cần được rà soát sau 12 tháng thực hiện quy định mới và điều chỉnh theo số liệu thực tế. Chỉ số về quyền tham gia và chất lượng lập luận được bổ sung để cân bằng với chỉ số về tốc độ.

Bảng 2. Chỉ số hiện trạng và định hướng theo dõi

Chỉ sốHiện trạng 2025Định hướngÝ nghĩa/điều kiện đo
Hồ sơ giải quyết đúng thời hạn luật định99,3%≥ 99,5%Tách thời hạn thông thường và trường hợp phức tạp; tính từ ngày thụ lý.
Thời gian giải quyếtBình quân 11 ngàyTrung vị ≤ 8 ngày; công bố P90Không chỉ dùng số bình quân; theo dõi phân bố và lý do kéo dài.
Hồ sơ phải bổ sung2,6%≤ 1,5%Phân loại nguyên nhân, cơ quan lập hồ sơ và tài liệu còn thiếu.
Quyết định bị sửa/hủyChưa táchTheo dõi hằng quýPhân loại lỗi căn cứ, thủ tục, chứng cứ và lập luận.
Người bị đề nghị tham gia phiên họpChưa có100%, trừ trường hợp luật địnhPhản ánh quyền được nghe; ghi rõ lý do vắng mặt.
Người chưa thành niên có người bảo vệChưa có100% theo trường hợp luật địnhTheo dõi riêng hồ sơ thuộc Pháp lệnh 03/2026.
Hồ sơ điện tử đúng chuẩnChưa có≥ 95% sau 12 thángĐủ chữ ký số, dấu thời gian, siêu dữ liệu và nhật ký truy cập.
Nguồn: Tác giả đề xuất.

5. Kiến nghị

Đối với Tòa án nhân dân tối cao, cần hướng dẫn thống nhất tiêu chí vụ việc phức tạp, phương pháp xác định lần cai nghiện và biểu mẫu quyết định; ban hành chuẩn dữ liệu, quy trình liên thông hồ sơ điện tử chuyên biệt; tổng kết việc thi hành Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 và Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026 sau ít nhất 12 tháng; xây dựng chương trình bồi dưỡng theo tình huống cho Thẩm phán, Thư ký.

Đối với Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, cần phân bổ nhân lực dựa trên khối lượng quy đổi và dữ liệu thời gian xử lý; chủ trì quy chế phối hợp với Viện kiểm sát và Công an Thành phố; tổ chức kiểm tra chuyên đề về quyền tham gia, chất lượng lập luận và bảo vệ dữ liệu; công bố báo cáo so sánh giữa các Tòa án nhân dân khu vực theo bộ chỉ số thống nhất nhưng không biến chỉ số tốc độ thành căn cứ duy nhất để đánh giá thi đua.

Đối với Công an và Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, cần chuẩn hóa nghiệp vụ lập hồ sơ ở cấp xã; kết nối, kiểm soát dữ liệu về tình trạng nghiện, lịch sử quyết định và thi hành; dự báo công suất cơ sở bằng mô hình luồng vào–luồng ra; bảo đảm kinh phí, nhân lực và điều kiện quản lý sau cai theo Nghị quyết số 55/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025. Đối với Viện kiểm sát, cần tăng cường kiểm sát ngay từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ, tập trung vào căn cứ hạn chế quyền, tính đầy đủ của tài liệu và việc bảo đảm quyền của người bị đề nghị, kể cả khi pháp luật cho phép phiên họp sơ thẩm tiếp tục trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt.

Đối với Tòa án nhân dân khu vực 10, cần áp dụng ngay phiếu kiểm tra bốn tầng, lịch xử lý ngược theo thời hạn 10 ngày, cơ chế cảnh báo hạn, thống kê lý do trả hồ sơ và nhật ký dữ liệu. Sau sáu tháng, đơn vị nên đánh giá thử nghiệm dựa trên mẫu hồ sơ ngẫu nhiên; sau 12 tháng, đối chiếu số liệu trước–sau để xác định giải pháp nào thực sự cải thiện chất lượng, thay vì chỉ ghi nhận mức độ hoàn thành hoạt động.

6. Kết luận

Hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân khu vực 10 phải được nhìn nhận đồng thời từ 3 phương diện: tính đúng đắn của việc kiểm soát tư pháp, năng lực hoàn thành trong thời hạn ngắn và khả năng thi hành quyết định. Các quy định có hiệu lực trong năm 2026 đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ hơn cho thủ tục rút gọn, số hóa và xử lý riêng đối với người chưa thành niên. Khoảng trống chủ yếu chuyển từ cấp độ “thiếu văn bản” sang cấp độ tổ chức thực hiện: tiêu chí nghiệp vụ, chất lượng hồ sơ, liên thông dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và phân bổ nguồn lực. Bài viết đề xuất kịch bản năm 2030 và các mục tiêu chỉ mang tính quản trị, không phải là dự báo hay chuẩn mực pháp lý. Nghiên cứu tiếp theo cần sử dụng dữ liệu cấp hồ sơ đã ẩn danh, so sánh giữa nhiều Tòa án nhân dân khu vực và đo lường cả quyền tham gia, chất lượng lập luận, kết quả thi hành án và tái hòa nhập.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2019). Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019 về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019.
Chính phủ (2025). Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Chính phủ (2026). Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.
Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2025). Nghị quyết số 55/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025 quy định chính sách hỗ trợ đối với công tác cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và người lao động tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026). Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2024). Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024.
Quốc hội (2024). Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Quốc hội (2025a). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2025.
United Nations. (1966). International Covenant on Civil and Political Rights. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/international-covenant-civil-and-political-rights
United Nations. (1989). Convention on the Rights of the Child. https://digitallibrary.un.org/record/80135
United Nations. (2012). Joint statement: Compulsory drug detention and rehabilitation centers. https://digitallibrary.un.org/record/3950265
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2022). Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2026a). Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2026b). Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 ngày 08/7/2026 về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc.
Võ Thị Mỹ Tiên (2026). Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân khu vực 10, TP. Hồ Chí Minh. Đề án tốt nghiệp thạc sĩ. Học viện Hành chính và Quản trị công.