Ensuring the social and cultural rights of the Khmer ethnic community in Can Tho City in the context of the two-tier local government system
TS. Đào Lộc Bình
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: locbinhhv4@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer tại thành phố Cần Thơ trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Dưới góc độ quản trị công và luật học, bài viết làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực trạng vận hành mô hình mới; đồng thời, chỉ ra những cơ hội đột phá trong thực thi chính sách an sinh, văn hóa, cũng như nhận diện các thách thức về áp lực biên chế, quá tải công việc và nguồn lực tại cơ sở. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hóa năng lực quản trị, phát huy truyền thống văn hóa và nâng cao đời sống cho đồng bào Khmer.
Từ khóa: Quyền xã hội – văn hóa; dân tộc Khmer; thành phố Cần Thơ; chính quyền hai cấp; quản trị công.
Abstract: This article examines the practice of ensuring social and cultural rights for the Khmer ethnic community in Can Tho City amid the transition to the two-tier local government model under the Law on Organization of Local Government 2025. From the perspectives of public governance and legal studies, the article clarifies the theoretical and legal foundations, as well as the operational realities of the new model. It also identifies breakthrough opportunities for implementing social welfare and cultural policies, while highlighting challenges related to staffing pressures, excessive workloads, and resource constraints at the grassroots level. On this basis, the article proposes solutions to optimize governance capacity, promote cultural traditions, and improve the quality of life of the Khmer community.
Keywords: Social and cultural rights; Khmer ethnic community; Can Tho City; two-tier local government; public governance.
1. Đặt vấn đề
Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc gắn liền với những cuộc cách mạng sâu sắc về thể chế và tổ chức bộ máy. Theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lần đầu tiên kể từ năm 1945, nước ta thực hiện giảm một cấp hành chính (không tổ chức cấp huyện), chuyển sang vận hành thống nhất hệ thống hành chính hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã). Cuộc cách mạng mang tính lịch sử này đã mở ra không gian phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân.
Đối với thành phố Cần Thơ, sau khi thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất không gian hành chính với quy mô lớn, địa bàn rộng đã trở thành một trong số địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số (phần lớn là đồng bào dân tộc Khmer) sinh sống. Trong bối cảnh kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, việc bảo đảm quyền con người, trọng tâm là quyền xã hội, văn hóa của đồng bào Khmer không chỉ là thước đo năng lực của chính quyền hai cấp mà còn là nhiệm vụ chính trị sống còn nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc chuyển hóa từ quản lý hành chính thụ động sang “chủ động kiến tạo” tại cơ sở chính là chìa khóa để giải quyết nhanh chóng các nhu cầu an sinh, giáo dục và thực hành văn hóa đặc thù của đồng bào.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
2.1. Quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số nhìn từ tiếp cận quyền con người
Quyền con người là những giá trị bẩm sinh, vốn có và mang tính phổ quát của mọi cá nhân. Trong hệ thống pháp luật quốc tế, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR năm 1966) mà Việt Nam là thành viên đã quy định rõ nghĩa vụ của quốc gia trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền xã hội và quyền văn hóa. Đối với các nhóm yếu thế (dễ bị tổn thương) như người dân tộc thiểu số, việc bảo đảm các quyền này không chỉ đơn thuần là phân phối lợi ích kinh tế mà còn là sự thừa nhận quyền tự quyết văn hóa, bình đẳng tộc người và quyền được phát triển một cách bền vững dựa trên bản sắc riêng biệt.
Tại Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng luôn quan tâm chăm lo bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng luôn khẳng định: “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo và mục tiêu phấn đấu”… và “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc… giải quyết hài hòa lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 121 – 122).
Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thiết lập nguyên tắc hiến định vững chắc khẳng định: “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”; đồng thời ghi nhận: các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mình” (Quốc hội, 2013, 2025, khoản 2 Điều 5). Quyền xã hội và văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm quyền được tiếp cận giáo dục bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (hoặc song ngữ), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, quyền thực hành các nghi lễ truyền thống, và quyền được nhà nước bảo trợ về an sinh xã hội, giải quyết việc làm, ổn định sinh kế. Tiếp cận dưới góc độ quản trị công hiện đại, việc bảo đảm các quyền này đòi hỏi một cơ cấu chính quyền cơ sở có tính linh hoạt cao, năng lực phản ứng chính sách nhanh chóng và có sự tham gia thực chất của người dân vào quy trình ra quyết định.
2.2. Khung pháp lý mới về mô hình chính quyền địa phương hai cấp và sự phân định thẩm quyền với việc bảo đảm quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số
Khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 1 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành hai cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh) (Quốc hội, 2025). Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính này là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). Luật khẳng định nguyên tắc tổ chức CQĐP phải tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xây dựng chính quyền gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Để vận hành hiệu quả mô hình hai cấp và tránh tình trạng khoảng trống quyền lực sau khi cấp huyện kết thúc hoạt động, Chính phủ đã ban hành đồng bộ 28 nghị định chuyên ngành nhằm phân định lại thẩm quyền, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền từ các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh về cho chính quyền cấp xã. Trong đó, có 4 văn bản pháp lý nền tảng điều chỉnh trực tiếp việc bảo đảm quyền xã hội và văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm:
Một là, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị định giao trực tiếp cho UBND cấp xã thẩm quyền tổ chức rà soát, lập hồ sơ xác định danh sách các xã (khu vực I, II, III) và trực tiếp công nhận các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, chủ tịch UBND cấp xã được trao quyền trực tiếp công nhận, đưa ra khỏi danh sách, thay thế và bổ sung người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, bên cạnh việc quản lý, tiếp nhận các thông báo về hoạt động tôn giáo, lễ hội tín ngưỡng tại cơ sở (Chính phủ, 2025a).
Hai là, Nghị định số 125/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 trong lĩnh vực tài chính, cho phép HĐND cấp xã quyết định phân bổ dự toán ngân sách chi tiết đến từng dự án thành phần của các chương trình mục tiêu quốc gia, ủy thác vốn sang Ngân hàng Chính sách xã hội để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, ổn định sinh kế, cải thiện nhà ở và duy trì làng nghề truyền thống (Chính phủ, 2025b).
Ba là, Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch. Văn bản này trao quyền cho chính quyền cấp xã quản lý các hoạt động thông tin cơ sở, tiếp nhận thông báo biểu diễn nghệ thuật, tổ chức lễ hội và phê duyệt các kế hoạch ngày hưởng ứng quy mô cấp xã, bảo đảm tính chủ động cao trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa phi vật thể tại địa phương (Chính phủ, 2025c).
Bốn là, Nghị định số 142/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Theo đó, chính quyền cấp xã có nhiệm vụ quản lý, xét duyệt, lập danh sách trẻ em mầm non, học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng chính sách ưu đãi, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, quản lý các trường phổ thông dân tộc bán trú và ban hành kế hoạch nâng chuẩn đào tạo giáo viên phù hợp với đặc thù tộc người (Chính phủ, 2025d).
Sự kết hợp giữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và hệ thống các Nghị định của Chính phủ về phân cấp chuyên ngành đã thiết lập một hành lang pháp lý mới trong đó đặt trọng tâm trách nhiệm thực thi, bảo đảm quyền con người lên vai cấp chính quyền cơ sở. Bên cạnh đó, quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào dân tộc Khmer nói riêng là những quyền cơ bản được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ, bao gồm: quyền thụ hưởng an sinh xã hội, giáo dục, y tế bình đẳng và quyền được gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết truyền thống (Quốc hội, 2013, 2025, Điều 34, 38,39,40, 41, 42). Khi vận hành mô hình hai cấp, chính quyền cấp xã được phân cấp, phân quyền một cách sâu rộng, trực tiếp tiếp nhận thẩm quyền và nguồn lực từ cấp tỉnh chuyển xuống.
Sự thay đổi cơ chế này đưa cấp xã trở thành tuyến đầu kiến tạo, trực tiếp đảm đương trọng trách cung cấp dịch vụ công, bảo vệ quyền lợi và giải quyết các nhu cầu thiết thực của người dân tộc thiểu số. Từ đó, khoảng cách chính sách từ trung ương đến địa phương được thu hẹp, bảo đảm tinh thần “lấy người dân làm trung tâm”, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là cơ sở pháp lý để chính quyền địa phương hai cấp ở thành phố Cần Thơ bảo đảm quyền xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer.
3. Thực trạng bảo đảm quyền văn hóa, xã hội, của đồng bào dân tộc Khmer ở thành phố Cần Thơ khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp
3.1. Đặc điểm đặc thù ảnh hưởng đến việc thực thi quyền của đồng bào dân tộc Khmer tại thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là thành phố trực thuộc trung ương, với “vai trò trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long về công nghiệp và dịch vụ” và là “đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế”, từng bước khẳng định “vai trò trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long về văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ” (Bộ Chính trị, 2020) đóng vai trò động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của toàn vùng. Theo quy định tại Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng được hợp nhất để hình thành đơn vị hành chính mới mang tên thành phố Cần Thơ. Sau khi hoàn thành việc sắp xếp, thành phố Cần Thơ có diện tích tự nhiên 6.360,83 km², dân số hơn 3,2 triệu người (Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ, 2026).
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 1668/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Cần Thơ năm 2025 xác định, sau quá trình tổ chức lại, thành phố có tổng cộng 103 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 31 phường và 72 xã (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Trong số này có 95 đơn vị được hình thành trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất (gồm 30 phường và 65 xã), đồng thời giữ nguyên 8 đơn vị hành chính cấp xã không thuộc diện sắp xếp, gồm: phường Tân Lộc và các xã Trường Long, Thạnh Phú, Thới Hưng, Phong Nẫm, Mỹ Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải. Hiện nay, thành phố tiếp tục khẳng định vị trí và trò đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại thành phố Cần Thơ không thể tách rời khỏi một không gian sinh tồn và văn hóa mang tính đặc thù cao. Sự chuyển đổi bộ máy hành chính chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi tương thích và bám rễ sâu vào cấu trúc xã hội, đặc điểm nhân khẩu và hệ giá trị tín ngưỡng của cộng đồng. Sau khi thực hiện chủ trương lớn về sắp xếp, mở rộng không gian hành chính nhằm kiến tạo cực tăng trưởng trung tâm cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ hiện nay đã vươn lên trở thành một trong những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhất khu vực Tây Nam Bộ, trong đó dân tộc Khmer chiếm vị trí chủ đạo.
Thứ nhất, về quy mô dân số và đặc điểm phân bố không gian cư trú.
Theo số liệu thống kê được cập nhật sau quá trình sáp nhập địa giới hành chính, cộng đồng người Khmer tại thành phố Cần Thơ mở rộng hiện đạt quy mô hơn 543.000 người, chiếm 14,11% dân số toàn thành phố (Phương Thảo, 22/5/2026). Mặc dù sinh sống đan xen, hòa thuận cùng cộng đồng người Kinh và người Hoa, nhưng người Khmer vẫn duy trì thói quen quần tụ trong các không gian cư trú truyền thống là “phum” và “sóc”. Các phum, sóc này phân bố chủ yếu ở khu vực ngoại thành, vùng ven đô và đặc biệt tập trung ở các địa bàn nông thôn rộng lớn như khu vực Cờ Đỏ, Ô Môn… Đặc điểm cư trú tập trung này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nhưng cũng đặt ra bài toán phức tạp cho chính quyền cơ sở trong việc đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi và các thiết chế phúc lợi xã hội lan tỏa đến từng xóm ấp.
Thứ hai, về đặc điểm sinh kế và các thách thức từ biến đổi khí hậu.
Từ bao đời nay, đời sống kinh tế và xã hội của đồng bào Khmer gắn bó hữu cơ với nền văn minh lúa nước và các phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, địa bàn sinh sống của đồng bào lại nằm trong khu vực chịu sự tác động khốc liệt và trực diện nhất của tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn (Chính phủ, 2017). Cơ cấu kinh tế dù đang trong quá trình chuyển dịch nhưng vẫn đối diện với nhiều rủi ro sinh thái. Điều này tác động trực tiếp đến quyền thụ hưởng một mức sống an toàn, đầy đủ của đồng bào. Khi mô hình chính quyền hai cấp được thiết lập, cấp xã (cấp cơ sở) trở thành phòng tuyến đầu tiên và quan trọng nhất trong việc ứng phó với thiên tai, trực tiếp triển khai các phương án chuyển đổi sinh kế, cung cấp nước sạch và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trong các tình huống khẩn cấp, đòi hỏi năng lực quản trị rủi ro phải được nâng cao vượt bậc.
Thứ ba, về hệ giá trị văn hóa và đặc thù tôn giáo mang tính liên kết cộng đồng bền chặt.
Đặc trưng nổi bật và cốt lõi nhất định hình nên diện mạo văn hóa, xã hội của người Khmer chính là sự gắn bó máu thịt với Phật giáo Nam tông. Đối với đồng bào Khmer, “Ngôi chùa” (Vát) tuyệt đối không chỉ là cơ sở thực hành tín ngưỡng tôn giáo thuần túy mà đó thực sự là trung tâm văn hóa, giáo dục và là “trái tim” của mọi hoạt động xã hội trong phum, sóc (Bùi Thị Hồng Loan, 2010). Toàn thành phố hiện có hàng trăm ngôi chùa Phật giáo Nam tông mang kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Đặc biệt, hệ thống thiết chế tự quản cộng đồng thông qua vai trò của các vị sư sãi, Ban Quản trị chùa và các vị Achar (người trí thức, có uy tín trong cộng đồng) có sức ảnh hưởng tinh thần vô cùng to lớn. Tiếng nói của các vị sư và người có uy tín thường mang tính quyết định trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự nhỏ lẻ, hòa giải gia đình và huy động sự tham gia của người dân vào các phong trào xã hội.
Do đó, khi xóa bỏ khâu trung gian là chính quyền cấp huyện, hệ thống chính quyền cấp xã tại Cần Thơ buộc phải có khả năng tương tác trực tiếp, thấu hiểu sâu sắc và xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với các thiết chế tự quản tôn giáo này. Sự thành bại trong việc thực thi các quyền văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer phụ thuộc trực tiếp vào việc chính quyền cấp xã có phát huy được sức mạnh và sự đồng thuận từ các ngôi chùa Nam tông hay không.
3.2. Những kết quả tích cực bước đầu trong việc bảo đảm quyền văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở Cần Thơ khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp
Quá trình tinh gọn bộ máy nhà nước theo tinh thần Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, với điểm nhấn là việc chuyển đổi sang hệ thống hành chính hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) tại Cần Thơ, đã tạo ra một cuộc cách mạng về phương thức quản trị công. Sự thay đổi này không đơn thuần là phép cộng trừ về cơ cấu tổ chức mà là sự tái phân bổ quyền lực nhà nước, chuyển dịch trọng tâm hành động về tuyến cơ sở. Bằng việc trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn, cấp xã đã chuyển từ trạng thái “thừa hành thụ động” sang “chủ động kiến tạo”. Nhờ đó, kể từ khi chính quyền hai cấp bắt đầu vận hành từ ngày 01/7/2025 đến nay việc bảo đảm quyền văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer đã đạt được những thành tựu nổi bật, mang tính thực chất và đi vào chiều sâu.
Một là, đột phá trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội, thụ hưởng các dịch vụ y tế và nâng cao chất lượng sống. Trước đây, các nguồn lực từ trung ương và cấp tỉnh thường phải đi qua “trạm trung chuyển” là cấp huyện, dẫn đến quy trình thủ tục hành chính kéo dài, làm chậm trễ tiến độ tiếp cận vốn của người dân. Trong mô hình mới, chính quyền cấp xã được phân cấp trực tiếp tiếp nhận, quản lý và giải ngân các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Sự rút ngắn khoảng cách quản lý này đã tạo ra hiệu ứng tức thì.
Công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào Khmer tại Cần Thơ đạt được những chỉ số ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố năm 2025 còn 0,63% (tỷ lệ hộ nghèo vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống còn 1,34% (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025). Hàng ngàn hộ gia đình Khmer nghèo đã được hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt và vật tư để xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát, hiện thực hóa quyền có chỗ ở an toàn theo quy định của Hiến pháp. Các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, cấp bồn chứa nước ngọt và hệ thống lọc nước sinh hoạt ứng phó với hạn mặn được UBND cấp xã quyết định và cấp phát nhanh chóng đến đúng đối tượng, không còn tình trạng tắc nghẽn hồ sơ.
Về quyền thụ hưởng y tế, sự chủ động của cấp xã trong công tác rà soát và cấp phát thẻ Bảo hiểm y tế đã giúp tỷ lệ đồng bào Khmer tham gia bảo hiểm y tế tại nhiều địa bàn đạt ngưỡng trên 98% (trong khi tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân hàng năm đều đạt, ước đến cuối năm 2025 đạt trên 95%) (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025). Các cơ sở y tế được đầu tư cùng đội ngũ y bác sĩ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân thành phố nói chung, đồng bào Khmer nói riêng. Các trạm y tế xã được tái đầu tư từ ngân sách trực tiếp của thành phố, nâng cao năng lực khám chữa bệnh ban đầu, giúp đồng bào được chăm sóc sức khỏe ngay tại phum, sóc mà không phải di chuyển xa.
Hai là, thành tựu lớn trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng và phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Quyền được giáo dục là chìa khóa để phá vỡ vòng lặp nghèo đói. Với mô hình chính quyền hai cấp, năng lực tự chủ tài chính cơ sở được nâng lên, cho phép các xã có đông đồng bào Khmer chủ động trích lập ngân sách hỗ trợ giáo dục. Mạng lưới trường lớp từ mầm non đến trung học cơ sở tại các vùng có đông đồng bào được kiên cố hóa 100%. Tỷ lệ huy động trẻ em người Khmer trong độ tuổi đến trường đạt mức cao.
Một điểm sáng trong việc bảo đảm quyền học tập là sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính quyền xã và các điểm chùa trong việc tổ chức mô hình giáo dục song ngữ. Vào các dịp nghỉ hè, UBND các xã đã cấp kinh phí hỗ trợ, đồng thời phối hợp với Ban Quản trị các chùa Nam tông mở các lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho con em đồng bào. Không chỉ dừng lại ở giáo dục phổ thông, thành phố đã tập trung nguồn lực xây dựng và nâng cấp hệ thống Trường Phổ thông Dân tộc nội trú khang trang, hiện đại. Hiện nay thành phố có 13 trường phổ thông dân tộc nội trú, gồm 135 lớp, trong đó cấp trung học phổ thông có 48 lớp, trung học cơ sở có 87 lớp, thu hút gần 4.000 học sinh (Đỗ Nam, 27/5/2026). Cơ sở vật chất nhiều trường được đầu tư nâng cấp, đạt trường chuẩn quốc gia, là điều kiện tốt để thầy cô giáo cùng các em học sinh nâng cao chất lượng dạy và học. Những vùng đất trước đây vô vàn khó khăn nay đã vươn lên thành những điểm sáng về tinh thần hiếu học. Điển hình như tại các ấp đặc biệt khó khăn trước đây thuộc xã Mỹ Hương hay các phum sóc tại Cờ Đỏ, đã có hàng trăm con em đồng bào tốt nghiệp đại học, sau đại học, trở thành nguồn cán bộ chất lượng cao bổ sung cho bộ máy chính quyền cơ sở, phục vụ chính quê hương mình.
Ba là, sự phát triển trong việc tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền tự do tín ngưỡng, thực hành bản sắc văn hóa truyền thống.
Nếu quyền xã hội là nền tảng vật chất thì quyền văn hóa là linh hồn của cộng đồng Khmer. Mô hình quản trị hai cấp, với sự gần gũi tối đa giữa cán bộ quản lý và người dân, đã tạo ra một môi trường cởi mở, thân thiện và tôn trọng sự đa dạng văn hóa. Chính quyền hai cấp đặc biệt là cấp xã tại Cần Thơ đã thể hiện vai trò là người bảo trợ vững chắc cho các giá trị di sản với việc bảo tồn và phát huy các giá trị này gắn với phát triển du lịch (Trang Anh, 22/11/2025).
Các ngày lễ trọng đại của đồng bào như Tết Chôl Chnăm Thmây (lễ mừng năm mới), Lễ Sêne Đôlta (lễ cúng ông bà) và Oóc Om Bóc (lễ cúng trăng) được chính quyền địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tổ chức với quy mô trang trọng, an toàn, không chỉ trong không gian nhà chùa mà còn mở rộng ra không gian công cộng. Chính quyền các xã đã chủ động phân bổ kinh phí hỗ trợ các đội ghe Ngo, các đoàn nghệ thuật quần chúng tập luyện và biểu diễn. Sự công nhận và đầu tư tôn tạo đối với các di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh đối với các ngôi chùa cổ đã minh chứng cho cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền văn hóa. Hơn thế nữa, bằng việc lồng ghép linh hoạt tiếng Việt và tiếng Khmer trong các buổi tiếp dân, sinh hoạt cộng đồng và hệ thống loa truyền thanh cơ sở, chính quyền không chỉ thể hiện sự tôn trọng ngôn ngữ mẹ đẻ của đồng bào mà còn xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, giúp các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thẩm thấu tự nhiên vào đời sống.
Bốn là, bước tiến trong việc bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người Khmer.
Mô hình chính quyền cấp xã trực thuộc tỉnh đòi hỏi tính đại diện dân chủ phải được đề cao ở mức cao nhất. Thành phố Cần Thơ đã triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm tăng cường tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc Khmer trong bộ máy chính quyền cơ sở. Tại các kỳ bầu cử Đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ gần đây, cơ cấu đại biểu người Khmer luôn được bảo đảm ở mức cao, phản ánh đúng tỷ lệ dân số trên địa bàn. Người dân của phum, sóc trực tiếp tham gia vào HĐND, UBND cấp xã đã bảo đảm tiếng nói, nguyện vọng và những đặc thù văn hóa của đồng bào Khmer luôn được lắng nghe, thấu hiểu và chuyển hóa thành các quyết sách hành chính một cách chính xác, minh bạch.
Tuy nhiên, thực tiễn bảo đảm quyền xã hội, văn hóa của đồng bào Khmer tại thành phố Cần Thơ vẫn còn một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, hạn chế về năng lực cán bộ và áp lực quá tải công việc tại cấp xã.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sự mâu thuẫn giữa việc “tăng thẩm quyền, tăng nhiệm vụ” nhưng lại “giảm nhân lực” khi thực hiện tinh giản biên chế. Khi xóa bỏ cấp huyện, toàn bộ khối lượng công việc hành chính dồn về cấp xã, dẫn đến tình trạng công chức bị quá tải, thiếu thời gian bám sát phum, sóc. Hơn nữa, một bộ phận cán bộ mới được luân chuyển hoặc tuyển dụng chưa am hiểu thấu đáo phong tục tập quán và đặc biệt là chưa thành thạo tiếng Khmer. Rào cản ngôn ngữ và văn hóa này tạo ra thách thức lớn trong việc đối thoại trực tiếp, dễ dẫn đến những quyết định hành chính máy móc khi giải quyết các vấn đề tín ngưỡng, lễ hội, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách quyền con người tại cơ sở.
Thứ hai, hạn chế về năng lực tự chủ tài chính và hạ tầng chuyển đổi số.
Phần lớn các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa có nguồn thu tại chỗ ổn định. Mặc dù được giao quyền tự chủ ngân sách rất lớn, nguồn lực tài chính của chính quyền cơ sở chủ yếu vẫn phụ thuộc vào ngân sách cấp thành phố bổ sung cân đối. Tình trạng này cộng với việc phân bổ nguồn lực đôi lúc chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đã cản trở tiến độ đầu tư đồng bộ cho hạ tầng kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin và trang thiết bị làm việc tại các vùng sâu, vùng bãi ngang chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, gây khó khăn cho việc cung ứng dịch vụ và thủ tục hành chính trực tuyến song ngữ cho đồng bào.
Thứ ba, nguy cơ mai một bản sắc và lúng túng trong phối hợp liên thiết chế.
Dưới tác động của đô thị hóa và các trào lưu giải trí hiện đại trong kỷ nguyên số, không gian thực hành các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của người Khmer đang bị thu hẹp dần. Do đó, nếu thiếu nguồn lực số hóa và lưu trữ, các di sản phi vật thể đứng trước nguy cơ mai một. Mặt khác, việc huy động, phát huy vai trò của nhà chùa, các sư và người có uy tín dù có chủ trương nhưng nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống dân vận, mặt trận còn hình thức, chậm đổi mới, dẫn đến hiệu quả phối hợp giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội tại cơ sở chưa cao dẫn đến hạn chế trong bảo đảm các quyền này của đồng bảo.
Thứ tư, hạn chế trong công tác nắm bắt tư tưởng của đồng bào và đấu tranh phản bác các thông tin, luận điều sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng.
Công tác nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội tại cơ sở đôi lúc còn lúng túng, thụ động, chưa kịp thời do đó khi triển khai thực hiện các quyền xã hội, văn hóa vẫn còn lúng túng, chưa đáp ứng tốt nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào. Bên cạch đó, các thế lực thù địch, phản động không ngừng lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, chống phá chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc Khmer nói chung, quyền xã hội, văn hóa nói riêng. Tuy nhiên, công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Sự hạn chế về kỹ năng công nghệ số của cán bộ cơ sở cùng với việc thiếu hụt hệ sinh thái số đồng bộ khiến trận địa thông tin chưa thực sự bao phủ, làm giảm sức thuyết phục trong việc định hướng dư luận vùng đồng bào.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện năng lực quản trị công và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở trực tiếp.
Việc xóa bỏ hoàn toàn cấp huyện trung gian đồng nghĩa với việc toàn bộ chức năng quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực thi chính sách an sinh xã hội được dồn thẳng xuống tuyến đầu là chính quyền cấp xã. Sự thay đổi cơ chế này tạo ra một áp lực công việc khổng lồ, đòi hỏi một sự bứt phá về năng lực của đội ngũ công chức cơ sở.
Giải pháp căn cốt đầu tiên là phải khẩn trương cơ cấu lại và nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, như: Cờ Đỏ, Ô Môn, Thới Lai. Thành ủy và UBND thành phố Cần Thơ cần chỉ đạo xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đặc thù, tập trung vào kỹ năng quản trị công hiện đại, năng lực xử lý tình huống chính sách xã hội và kỹ năng ứng dụng công nghệ số trong quản lý dân cư, cấp phát an sinh, “đào tạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số (Khmer, Hoa…) cho cán bộ, công chức, viên chức” (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025, tr. 43). Đặc biệt, cần quán triệt sâu sắc mục tiêu “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có khát vọng, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025, tr. 39).
Chính quyền thành phố phải hiện thực hóa bằng các đề án cụ thể nhằm đào tạo tiếng Khmer và bồi dưỡng kiến thức nhân chủng học, phong tục tập quán vùng miền một cách bắt buộc đối với tất cả cán bộ, công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khi không còn cấp huyện làm màng lọc, người công chức cấp xã phải có khả năng giao tiếp song ngữ, thấu hiểu tư duy văn hóa của đồng bào để giải quyết các thủ tục hành chính, các tranh chấp dân sự hay tư vấn sinh kế một cách thấu tình đạt lý. Đồng thời, cần có chính sách thu hút, tuyển dụng đặc cách những người con ưu tú của các phum, sóc đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng vào làm việc trong bộ máy chính quyền hai cấp, tạo nguồn cán bộ cốt cán người dân tộc thiểu số ổn định và bền vững cho tương lai.
Thứ hai, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, tối ưu hóa các nguồn lực tài chính trực tiếp cho cấp xã.
Năng lực tự chủ tài chính tại cấp cơ sở chính là điều kiện tiên quyết để mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành thông suốt. Để khắc phục triệt để tình trạng thiếu hụt nguồn lực đầu tư cho các thiết chế văn hóa – xã hội tại cấp xã, HĐND thành phố Cần Thơ cần ban hành các nghị quyết đặc thù về phân cấp ngân sách, bảo đảm dòng vốn từ ngân sách tỉnh và các chương trình mục tiêu quốc gia được rót thẳng, kịp thời về tài khoản của UBND cấp xã mà không bị tắc nghẽn thông qua các thủ tục phê duyệt trung gian.
Việc sử dụng nguồn lực tài chính phải bám sát tinh thần chỉ đạo của Đại hội XIV về việc ưu tiên nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai và biến đổi khí hậu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 112). Chính quyền cấp xã phải được trao quyền chủ động trong việc lập kế hoạch và giải ngân vốn đối với các dự án dân sinh quy mô nhỏ và vừa. Cụ thể, nguồn vốn cần tập trung ưu tiên cho ba trụ cột an sinh then chốt:
(1) Kết cấu hạ tầng phục vụ sinh kế đặc thù: đầu tư kiên cố hóa hệ thống giao thông nông thôn kết nối các phum sóc, hệ thống thủy lợi nội đồng và các công trình cung cấp nước sạch tập trung nhằm giúp đồng bào Khmer chủ động ứng phó với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đang diễn ra khốc liệt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
(2) Hạ tầng y tế và giáo dục cơ sở: phân bổ ngân sách để nâng cấp đồng bộ các trạm y tế xã, trang bị máy móc tầm soát bệnh cơ bản và tủ thuốc thiết yếu cho đồng bào. Đối với giáo dục, cần tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường mầm non, tiểu học vùng nông thôn, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất khang trang để thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng của trẻ em Khmer (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025).
(3) Bảo tồn thiết chế văn hóa: triển khai thực hiện áp dụng nghiêm túc Nghị định số 137/2025/NĐ-CP của Chính phủ về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa để giao quyền cho cấp xã chủ động chi ngân sách hỗ trợ hoạt động của các nhà văn hóa cộng đồng, bảo dưỡng các loại hình nhạc cụ truyền thống, và cấp kinh phí cho các hoạt động thể thao quần chúng như đua ghe Ngo, bóng chuyền vào các dịp lễ hội.
Thứ ba, phát huy vai trò của các thiết chế tự quản cộng đồng gắn liền với hệ thống chùa Phật giáo Nam tông Khmer.
Trong không gian văn hóa Nam Bộ, ngôi chùa Phật giáo Nam tông là một thực thể đặc biệt, vừa là không gian tâm linh thiêng liêng, vừa là thiết chế tự quản xã hội có sức gắn kết cộng đồng vô cùng chặt chẽ của người Khmer. Do đó, một trong những giải pháp mang tính đột phá về mặt quản trị công trong mô hình hai cấp tại Cần Thơ phải chủ động tích hợp, phát huy vai trò của nhà chùa và các vị chức sắc tôn giáo vào quy trình quản lý xã hội của chính quyền cơ sở.
Chính quyền cấp xã cần thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ và tham vấn ý kiến của Ban Quản trị các chùa Nam tông, các vị sư sãi và những người có uy tín (Achar) trước khi ban hành hoặc triển khai các đề án kinh tế – xã hội trên địa bàn. Cần phát huy tối đa uy tín tinh thần của các vị sư trong việc tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, các thông điệp về bảo vệ môi trường, phòng, chống tệ nạn xã hội, xây dựng nông thôn mới khi được các vị hòa thượng, thượng tọa lồng ghép vào các buổi thuyết pháp tại giảng đường (Sala) luôn mang lại hiệu quả lan tỏa nhanh chóng và bền vững.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ chế phối hợp trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết. Chính quyền cấp xã cần phân định thẩm quyền trong lĩnh vực giáo dục để hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất (bàn ghế, bảng viết, tập sách) và tạo điều kiện pháp lý thuận lợi nhất để các chùa tiếp tục mở các lớp dạy chữ Khmer vào dịp hè. Việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc ngay trong khuôn viên nhà chùa chính là cách thức bảo vệ quyền văn hóa tự nhiên và sinh động nhất của đồng bào. Đồng thời, chính quyền cần hỗ trợ đắc lực cho các mô hình tự quản tại phum sóc như “Tổ hòa giải nhân dân” có sự tham gia của các vị Achar, nhằm giải quyết nhanh chóng, ổn thỏa các mâu thuẫn nội bộ ngay từ cơ sở, không để phát sinh thành các điểm nóng về an ninh trật tự.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách gắn liền với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong bối cảnh chuyển đổi thể chế và sắp xếp bộ máy hành chính diện rộng, các thế lực thù địch và các tổ chức cực đoan luôn tìm mọi cách để lợi dụng các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, nhân quyền nhằm xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, giải pháp bảo đảm quyền văn hóa, xã hội phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại cơ sở.
Chính quyền địa phương thành phố Cần Thơ cần chủ động đổi mới toàn diện công tác truyền thông chính sách theo hướng hiện đại, đa dạng và dễ tiếp cận. Tiếp tục tăng cường sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình, các ấn phẩm báo chí điện tử bằng song ngữ Việt – Khmer. Hệ thống thông tin cơ sở, đặc biệt là các trang thông tin của UBND cấp xã trên các nền tảng mạng xã hội, phải thường xuyên cập nhật công khai, minh bạch các chính sách hỗ trợ, các con số giải ngân, danh sách các hộ gia đình được thụ hưởng phúc lợi để Nhân dân dễ dàng giám sát, thực hiện quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 121) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Song song đó, căn cứ vào Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 35 Thành ủy Cần Thơ, các cấp ủy đảng và chính quyền cơ sở cần chủ động xây dựng mạng lưới cộng tác viên thông tin rộng khắp trong vùng đồng bào dân tộc. Kịp thời phát hiện, đấu tranh và phản bác có hiệu quả đối với các luận điệu xuyên tạc cho rằng việc tinh gọn bộ máy, giảm cấp hành chính là làm suy yếu sự quan tâm của Nhà nước đối với đồng bào thiểu số. Những bài viết chính luận khoa học, sắc bén, những câu chuyện người thật việc thật về sự vươn lên thoát nghèo, về những ấp học tập tiêu biểu của người Khmer cần được lan tỏa mạnh mẽ để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, củng cố vững chắc niềm tin của đồng bào Khmer vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới đất nước.
5. Kết luận
Sự chuyển đổi mang tính lịch sử sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bao gồm cấp tỉnh và cấp xã, không chỉ là một cuộc cách mạng đột phá về tổ chức bộ máy nhà nước mà còn là minh chứng sinh động cho triết lý quản trị công hiện đại: lấy Nhân dân làm trung tâm. Đối với một đô thị mang vị thế trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long như thành phố Cần Thơ, việc bảo đảm toàn diện quyền văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc Khmer trong cấu trúc hành chính mới mang ý nghĩa chính trị và thực tiễn vô cùng sâu sắc. Những kết quả bước đầu trong việc phân cấp, phân quyền, đưa nguồn lực trực tiếp về tuyến cơ sở đã tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn thủ tục trung gian, giúp các chính sách an sinh, giáo dục “đi thẳng” vào đời sống tại các phum, sóc. Đồng thời, không gian văn hóa đặc thù gắn với hệ thống Phật giáo Nam tông tiếp tục được chính quyền bảo vệ, tôn trọng và phát huy mạnh mẽ.
Tuy nhiên, để tối ưu hóa mô hình quản trị này trong thời gian tới, hệ thống chính trị thành phố cần quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược. Việc chuẩn hóa năng lực cán bộ, công chức cơ sở, trao quyền tự chủ tài chính mạnh mẽ cho cấp xã và phát huy vai trò của các chức sắc, người có uy tín trong cộng đồng phải được tiến hành song song. Đặc biệt, công tác dân tộc cần gắn kết máu thịt với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động đập tan mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chỉ đạo 35 Thành ủy Cần Thơ (2026). Kế hoạch số 01-KH/BCĐ ngày 25/3/2026 về tổ chức Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành phố Cần Thơ lần thứ Tư, năm 2026.
Bộ Chính trị (2020). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bùi Thị Hồng Loan (2010). Tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2010, tr.79-89.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 125/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.
Chính phủ (2025c). Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch.
Chính phủ (2025d). Nghị định số 142/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ (2026). Giới thiệu chung về thành phố Cần Thơ. https://cantho.gov.vn/gioi-thieu-chung-ve-thanh-pho-can-tho/gioi-thieu-chung-286508
Đảng bộ thành phố Cần Thơ (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Cần Thơ, tr. 118, 20, 52.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.112, 121, 121 – 122.
Đỗ Nam (27/5/2026). Nhiều gia đình người Khmer nuôi con thành tài. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/nhieu-gia-dinh-nguoi-khmer-nuoi-con-thanh-tai-post965119.html
Phương Thảo (22/5/2026). Cần Thơ: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer. Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ. https://www.cantho.gov.vn/hoat-dong-so-nganh/can-tho-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc-khmer-339154
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Trang Anh (22/11/2025). Cần Thơ: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer gắn với phát triển du lịch. Công https://bvhttdl.gov.vn/can-tho-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-dan-toc-khmer-gan-voi-phat-trien-du-lich-20251120150116407.htm
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1668/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Cần Thơ năm 2025.



