Nâng cao năng lực tư duy biện chứng của sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ

Enhancing the dialectical thinking capacity of social sciences and humanities students at universities in the North Central Region

ThS. Lê Đình Hải
Trường Đại học Hồng Đức
Email: haild@hdu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư duy biện chứng của sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu, nghiên cứu thu thập 1.065 phiếu hợp lệ tại Trường Đại học Hồng Đức, Đại học Huế và Trường Đại học Vinh. Kết quả cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực trong tư duy hệ thống, nhận thức sự vận động, phát triển, phân tích mâu thuẫn và vận dụng tri thức vào thực tiễn, một bộ phận sinh viên còn hạn chế về liên hệ liên ngành, vận dụng phương pháp luận biện chứng và giải quyết vấn đề thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp: hoàn thiện chương trình và phương pháp đào tạo; nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học liên quan; phát huy tính chủ động của sinh viên; xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu khoa học dân chủ, sáng tạo, gắn với thực tiễn địa phương.

Từ khóa: Năng lực tư duy biện chứng; sinh viên; khoa học xã hội và nhân văn; Bắc Trung Bộ; giáo dục đại học.

Abstract: This article analyzes the current situation and proposes solutions to improve the dialectical thinking competence of students majoring in social sciences and humanities at universities in the North Central region of Vietnam. Based on dialectical and historical materialist methodology, combined with questionnaire surveys, in-depth interviews and document analysis, the study uses 1,065 valid responses collected from Hong Duc University, Hue University and Vinh University. The findings indicate positive developments in students’ ability to approach issues systematically and comprehensively, recognize the movement and development of phenomena, analyze and resolve contradictions, apply knowledge to practice, and generalize from practical experience. However, some students still face difficulties in interdisciplinary knowledge connection, application of dialectical methodology, identification of contradictions, and transformation of theoretical knowledge into practical problem-solving capacity. The article proposes four groups of solutions, including curriculum and teaching-method reform, improvement of courses that directly cultivate dialectical thinking, promotion of student agency, and construction of a democratic, creative and practice-oriented academic environment.

Keywords: Dialectical thinking competence; students; social sciences and humanities; North Central Vietnam; higher education.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, giáo dục đại học không chỉ có nhiệm vụ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phải phát triển năng lực tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo và giải quyết vấn đề cho người học. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định định hướng phát triển toàn diện con người, nâng cao năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng trước yêu cầu mới (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013; Bộ Chính trị, 2024a). Đối với sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn, năng lực tư duy biện chứng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp người học nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ, quá trình vận động, phát triển và những mâu thuẫn mang tính lịch sử cụ thể, qua đó, nâng cao khả năng học tập, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Các nghiên cứu của Hồ Bá Thâm (2003), Hoàng Thúc Lân (2014), Trần Viết Quang (2008) đã đề cập năng lực tư duy, tư duy biện chứng và vai trò của phương pháp luận duy vật biện chứng trong quá trình nhận thức, hoạt động thực tiễn. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu việc rèn luyện tư duy biện chứng trong giáo dục đại học. Tuy nhiên, theo phạm vi tài liệu được tác giả khảo sát, việc đánh giá năng lực tư duy biện chứng của sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ, nhất là thông qua những chỉ báo cụ thể về tư duy hệ thống, nhận thức sự vận động và phát triển, phân tích mâu thuẫn, vận dụng tri thức và khái quát hóa từ thực tiễn cần được làm rõ hơn.

Với đặc điểm kinh tế – xã hội, văn hóa và giáo dục đa dạng, vùng Bắc Trung Bộ đặt ra yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có năng lực tư duy và khả năng vận dụng tri thức phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, khảo sát năng lực tư duy biện chứng của sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học trong khu vực có ý nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích thực trạng năng lực tư duy biện chứng của sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại Trường Đại học Hồng Đức, Đại học Huế và Trường Đại học Vinh, dựa trên 1.065 phiếu khảo sát hợp lệ, kết hợp phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu, từ đó, xác định những kết quả đạt được, hạn chế chủ yếu và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư duy biện chứng của sinh viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận

Tư duy biện chứng là phương thức tư duy xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ, sự vận động và phát triển, qua đó, nhận thức bản chất và định hướng hoạt động thực tiễn. Khác với tư duy phiến diện, cô lập và tĩnh tại, tư duy biện chứng đòi hỏi chủ thể xem xét đối tượng một cách toàn diện, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Theo Hoàng Thúc Lân (2014), tư duy biện chứng duy vật không chỉ phản ánh các mối liên hệ và sự phát triển của sự vật mà còn đòi hỏi chủ thể vận dụng các khái niệm, phạm trù, quy luật và phương pháp luận của phép biện chứng duy vật vào nhận thức và thực tiễn. Yêu cầu xem xét vấn đề trong tính chỉnh thể, chú trọng mối liên hệ giữa các yếu tố cũng tương đồng với cách tiếp cận tư duy phức hợp của Morin (2008).

Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về năng lực tư duy, bài viết xác định năng lực tư duy biện chứng của sinh viên là khả năng huy động tri thức, tư duy lôgic và phương pháp luận biện chứng để nhận diện các mối liên hệ, phân tích mâu thuẫn, nhận thức sự vận động và phát triển, khái quát kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, giải quyết phù hợp các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn. Quan niệm này kế thừa cách tiếp cận năng lực tư duy như khả năng xử lý tri thức thông qua các thao tác tư duy và vận dụng vào tình huống thực tiễn (Hồ Bá Thâm, 2003); đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu vận dụng chủ động, sáng tạo phương pháp luận biện chứng trong quá trình nhận thức và hành động (Trần Viết Quang, 2008).

Để phục vụ khảo sát và đánh giá thực trạng, bài viết xem xét năng lực tư duy biện chứng của sinh viên trên năm phương diện: (1) Nhận thức vấn đề một cách hệ thống, toàn diện; (2) Nhận thức sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng; (3) Phân tích và giải quyết mâu thuẫn; (4) Vận dụng tri thức vào thực tiễn; (5) Khái quát hóa và tổng kết thực tiễn. Các phương diện này được sử dụng làm căn cứ xây dựng nội dung khảo sát, phân tích những biểu hiện đạt được và xác định hạn chế trong năng lực tư duy biện chứng của sinh viên.

Năng lực tư duy biện chứng được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục, tự học, nghiên cứu khoa học và trải nghiệm thực tiễn. Quá trình này chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm: mục tiêu và chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp giảng dạy, điều kiện học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học, môi trường kinh tế – xã hội và tính tích cực, chủ động của sinh viên. Do đó, đánh giá năng lực tư duy biện chứng cần xem xét cả khả năng của người học và những điều kiện giáo dục, xã hội tác động đến quá trình hình thành, phát triển năng lực, qua đó, tạo cơ sở xác định các giải pháp phù hợp.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích năng lực tư duy biện chứng của sinh viên trong mối quan hệ với quá trình đào tạo, môi trường học tập và điều kiện kinh tế – xã hội. Các phương pháp phân tích – tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận và luận giải kết quả nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và thống kê mô tả nhằm đánh giá thực trạng, nhận diện những hạn chế và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy biện chứng của sinh viên.

Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua khảo sát sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại Trường Đại học Hồng Đức, Đại học Huế và Trường Đại học Vinh. Tổng số phiếu phát ra là 1.078, trong đó có 1.065 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 98,79%. Trong số phiếu hợp lệ, sinh viên Trường Đại học Hồng Đức chiếm 35,87%, Đại học Huế chiếm 32,58% và Trường Đại học Vinh chiếm 31,55%. Xét theo giới tính, nữ sinh viên chiếm 64,8%, nam sinh viên chiếm 35,2%; theo năm học, sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai chiếm 63,6%, sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư chiếm 36,4%.

Bảng hỏi, gồm: 37 biến quan sát, được xây dựng trên cơ sở năm phương diện đánh giá năng lực tư duy biện chứng đã xác định trong khung nghiên cứu. Với 1.065 phiếu hợp lệ, quy mô mẫu tương đối lớn so với số biến quan sát. Theo Comrey & Lee (1992), trong nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố, cỡ mẫu từ 1.000 quan sát trở lên được xếp vào mức xuất sắc. Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ phù hợp của mẫu còn phụ thuộc vào phương pháp chọn mẫu, chất lượng dữ liệu và kỹ thuật phân tích được sử dụng; quy mô mẫu lớn không tự động bảo đảm tính đại diện.

Dữ liệu định tính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý giáo dục và giảng viên có kinh nghiệm trong giảng dạy các môn khoa học xã hội, lý luận chính trị và phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nội dung phỏng vấn tập trung vào biểu hiện của năng lực tư duy biện chứng, các yếu tố ảnh hưởng, những hạn chế phổ biến và giải pháp nâng cao năng lực này trong môi trường đại học. Kết quả phỏng vấn được sử dụng để bổ sung, đối chiếu và giải thích các phát hiện từ khảo sát định lượng, qua đó hạn chế việc đưa ra kết luận chỉ dựa trên số liệu tự đánh giá của sinh viên.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Những biểu hiện tích cực trong năng lực tư duy biện chứng của sinh viên

Kết quả khảo sát 1.065 sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại Trường Đại học Hồng Đức, Đại học Huế và Trường Đại học Vinh cho thấy, năng lực tư duy biện chứng của sinh viên có những biểu hiện tích cực ở các phương diện nhận thức mối liên hệ, vận dụng tri thức, phân tích vấn đề và khái quát hóa. Cụ thể, 90,1% sinh viên đánh giá mối liên hệ giữa tri thức, kỹ năng và phương pháp học tập là quan trọng hoặc rất quan trọng; 85,4% cho rằng, tư duy biện chứng có ảnh hưởng lớn hoặc rất lớn đến kết quả học tập; 75,2% thường xuyên hoặc rất thường xuyên liên hệ kiến thức mới với kiến thức đã học. Những kết quả này cho thấy, đa số sinh viên nhận thức được vai trò của việc kết nối tri thức và bước đầu hình thành cách tiếp cận học tập có tính liên kết. Tuy nhiên, đây chủ yếu là những chỉ báo về nhận thức và tự đánh giá, chưa đủ để khẳng định sinh viên đã thành thạo tư duy hệ thống trong các tình huống thực tiễn.

Ở phương diện nhận thức sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, có 82,9% sinh viên tự đánh giá năng lực nhận thức và xử lý vấn đề ở mức tốt hoặc rất tốt; 81,32% tự đánh giá khả năng vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào học tập và nghiên cứu khoa học ở mức tương ứng. Kết quả này phản ánh xu hướng tích cực trong tự nhận định của sinh viên về khả năng tiếp cận và xử lý vấn đề. Theo nội dung phỏng vấn sâu được tổng hợp trong nghiên cứu, năng lực tư duy biện chứng còn thể hiện ở khả năng đặt vấn đề trong bối cảnh cụ thể, nhận diện xu hướng biến đổi và điều chỉnh nhận định khi có thông tin mới. Tuy nhiên, để xác định mức độ vận dụng thực chất, cần đối chiếu kết quả tự đánh giá với sản phẩm học tập, bài tập tình huống hoặc kết quả nghiên cứu của sinh viên.

Vai trò của hoạt động thực tiễn trong phát triển năng lực tư duy biện chứng cũng được thể hiện rõ qua kết quả khảo sát. Có 92,49% sinh viên đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng, thực tập thực tế giúp họ hiểu rõ hơn các vấn đề xã hội; 91,74% cho rằng, tham gia nghiên cứu khoa học giúp rèn luyện khả năng phân tích vấn đề; 89,30% đánh giá hoạt động xã hội, cộng đồng góp phần phát triển tư duy. Các tỷ lệ này cho thấy, sinh viên đánh giá cao những hình thức học tập tạo điều kiện kết nối kiến thức lý luận với tình huống thực tế. Đây là cơ sở thực tiễn để các cơ sở giáo dục đại học tiếp tục tăng cường hoạt động thực tế, nghiên cứu khoa học và trải nghiệm cộng đồng; đồng thời, hướng dẫn sinh viên phân tích, đối chiếu và khái quát tri thức từ những trải nghiệm đó.

Đối với năng lực phân tích mâu thuẫn và khái quát hóa, 86,76% sinh viên đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng, bản thân có khả năng phát hiện mâu thuẫn trong một vấn đề; 87,79% tự đánh giá có khả năng khái quát hóa từ các hiện tượng cụ thể. Đây là những biểu hiện có ý nghĩa đối với quá trình nhận thức biện chứng, bởi việc phát hiện những mặt đối lập, xác định vấn đề cốt lõi và rút ra nhận định từ các trường hợp cụ thể là cơ sở để phân tích và giải quyết vấn đề. Do vậy, các tỷ lệ trên phản ánh mức độ tự đánh giá của người học, chưa trực tiếp đo lường độ chính xác khi phát hiện mâu thuẫn hoặc chất lượng khái quát hóa. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng các kết quả này để kết luận về mức độ thành thạo năng lực tư duy biện chứng.

Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên đã nhận thức tương đối rõ vai trò của tư duy biện chứng, đánh giá cao việc kết nối tri thức với thực tiễn và tự đánh giá tích cực về khả năng phân tích, xử lý vấn đề. Tuy nhiên, các kết quả này chủ yếu phản ánh nhận thức và cảm nhận của người học; mức độ chuyển hóa thành năng lực thực hành cần được xem xét thêm thông qua các chỉ báo về hạn chế, kết quả học tập và khả năng vận dụng trong những tình huống cụ thể.

Bảng 1. Một số chỉ báo tích cực về năng lực tư duy biện chứng của sinh viên

Chỉ báo khảo sátTỷ lệÝ nghĩa
Đánh giá mối liên hệ giữa tri thức, kỹ năng và phương pháp học tập là quan trọng/rất quan trọng90,1%Nhận thức được yêu cầu tiếp cận tri thức trong tính liên hệ
Cho rằng tư duy biện chứng ảnh hưởng lớn/rất lớn đến kết quả học tập85,4%Thừa nhận vai trò phương pháp luận của tư duy biện chứng
Thường xuyên/rất thường xuyên liên hệ kiến thức mới với kiến thức đã học75,2%Bước đầu hình thành xu hướng học tập tích hợp, liên ngành
Tự đánh giá năng lực nhận thức và xử lý vấn đề ở mức tốt/rất tốt82,9%Có khả năng nhận diện và xử lý vấn đề trong bối cảnh cụ thể
Đồng ý/hoàn toàn đồng ý rằng thực tập, thực tế giúp hiểu rõ hơn vấn đề xã hội92,49%Nhận thức rõ vai trò của thực tiễn đối với học tập và nghiên cứu
Đồng ý/hoàn toàn đồng ý rằng bản thân có khả năng phát hiện mâu thuẫn86,76%Có biểu hiện của năng lực phân tích mâu thuẫn trong nhận thức
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của tác giả, năm 2026.

3.2. Những hạn chế chủ yếu

Bên cạnh những biểu hiện tích cực, năng lực tư duy biện chứng của một bộ phận sinh viên vẫn còn hạn chế, trước hết ở khả năng liên hệ và tích hợp tri thức. Có 24,8% sinh viên chưa thường xuyên liên hệ kiến thức của môn học mới với những nội dung đã học, trong đó 19,3% chỉ thỉnh thoảng, 3,6% hiếm khi và 1,9% không bao giờ thực hiện. Điều này cho thấy, việc kết nối tri thức giữa các môn học chưa trở thành thói quen ổn định ở một bộ phận người học. Khi kiến thức được tiếp nhận chủ yếu theo từng môn học riêng lẻ, sinh viên có thể gặp khó khăn trong việc nhận diện mối liên hệ giữa các vấn đề, tổng hợp thông tin và hình thành cách nhìn toàn diện.

Hạn chế còn thể hiện ở phương pháp tổ chức và xử lý tri thức. Có 15,5% sinh viên chưa thường xuyên tự khái quát nội dung chính của bài học và 19,15% chưa thường xuyên sử dụng sơ đồ tư duy hoặc sơ đồ logic trong học tập. Các số liệu này phản ánh mức độ chưa thường xuyên trong việc sử dụng một số phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức. Trong khi đó, tư duy logic giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành lập luận chặt chẽ và nhất quán (Vũ Văn Viên, 2006). Vì vậy, việc chưa duy trì thường xuyên các thao tác tổ chức, hệ thống hóa tri thức có thể hạn chế khả năng nhận diện những mối liên hệ, xây dựng lập luận và khái quát vấn đề của sinh viên.

Ở phương diện vận dụng phương pháp luận biện chứng, 18,69% sinh viên tự đánh giá khả năng vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào phân tích và giải quyết vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học ở mức trung bình, yếu hoặc rất yếu. Bên cạnh đó, 13,24% chưa thực sự tự tin về khả năng phát hiện mâu thuẫn; 12,21% chưa tự tin về khả năng khái quát hóa từ các hiện tượng cụ thể; 12,43% chưa thực sự tự tin trong vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn. Những kết quả này cho thấy, bên cạnh việc nhận thức được vai trò của tư duy biện chứng, một bộ phận sinh viên vẫn chưa tự tin khi vận dụng các thao tác tư duy vào những nhiệm vụ cụ thể. Đặc biệt, khả năng chuyển từ nhận thức lý luận sang phân tích tình huống và giải quyết vấn đề thực tiễn vẫn là phương diện cần được quan tâm trong quá trình đào tạo.

Năng lực tự học, tự nghiên cứu cũng là một hạn chế đáng chú ý. Có 20,84% sinh viên tự đánh giá năng lực này ở mức trung bình, yếu hoặc rất yếu. Theo Hồ Bá Thâm (2003), năng lực tư duy gắn với khả năng xử lý tri thức thông qua các thao tác tư duy và vận dụng vào tình huống thực tiễn. Từ góc độ đó, tự học và tự nghiên cứu không chỉ giúp sinh viên mở rộng vốn tri thức mà còn tạo điều kiện rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và vận dụng kiến thức. Khi các hoạt động này chưa được thực hiện hiệu quả, quá trình chuyển hóa tri thức thành phương pháp tư duy và năng lực giải quyết vấn đề có thể gặp trở ngại.

Nhìn chung, những hạn chế nổi bật tập trung ở khả năng kết nối tri thức, duy trì các thao tác hệ thống hóa và khái quát hóa, vận dụng phương pháp luận biện chứng và tự học, tự nghiên cứu. Các kết quả khảo sát chủ yếu phản ánh mức độ tự đánh giá của sinh viên, do đó chưa đủ để xác định đầy đủ nguyên nhân hoặc khẳng định mức độ hạn chế trong thực hành. Đây là cơ sở để tiếp tục phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên.

3.3. Nguyên nhân của hạn chế và vấn đề đặt ra

Kết quả khảo sát định lượng kết hợp với phỏng vấn sâu cho thấy, những hạn chế trong năng lực tư duy biện chứng của sinh viên có liên quan đến cả môi trường đào tạo và đặc điểm, phương pháp học tập của người học. Các yếu tố được xem xét trong nghiên cứu gồm phương pháp giảng dạy của giảng viên, chính sách và cơ chế quản lý đào tạo, điều kiện kinh tế – xã hội, chương trình và nội dung môn học, hoạt động thực tập, nghiên cứu khoa học và tính chủ động của sinh viên. Điều này cho thấy, việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, gắn trách nhiệm của cơ sở đào tạo và giảng viên với vai trò chủ thể của người học.

Về phía cơ sở đào tạo, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tư duy độc lập, tăng cường trao đổi học thuật, tranh luận, phản biện và giải quyết tình huống. Nếu hoạt động dạy học chủ yếu dừng ở truyền đạt và tái hiện kiến thức, sinh viên sẽ ít có cơ hội rèn luyện khả năng phân tích các mối liên hệ, phát hiện mâu thuẫn và vận dụng phương pháp luận vào những vấn đề cụ thể. Đồng thời, thực hành, thực tập và nghiên cứu khoa học cần được tổ chức gắn với yêu cầu vận dụng tri thức, xử lý thông tin và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, qua đó tăng cường sự gắn kết giữa lý luận và thực hành.

Về phía sinh viên, các hạn chế trong liên hệ tri thức, khái quát hóa nội dung, vận dụng phương pháp luận và tự học, tự nghiên cứu cho thấy yêu cầu phát triển năng lực tư duy không thể chỉ dựa vào việc tiếp nhận kiến thức trên lớp. Sinh viên cần hình thành phương pháp học tập khoa học, chủ động hệ thống hóa kiến thức, đối chiếu các quan điểm, kiểm chứng nhận định bằng bằng chứng và thường xuyên tự đánh giá quá trình nhận thức. Đây là những điều kiện quan trọng để chuyển tri thức lý luận thành phương pháp tư duy và khả năng giải quyết vấn đề.

Từ những kết quả trên, việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng của sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ đặt ra bốn yêu cầu trọng tâm: (1) Nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng vận dụng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng; (2) Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo theo hướng phát triển năng lực tư duy; (3) Tăng cường thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học và gắn kết lý luận với thực tiễn; (4) Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, năng lực tự học và tự nghiên cứu của sinh viên. Các yêu cầu này cần được triển khai trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, phù hợp với định hướng thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 (Bộ Chính trị, 2024b).

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện mục tiêu, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng phát triển năng lực.

Các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ cần tiếp tục hoàn thiện mục tiêu và mô hình đào tạo ngành Khoa học xã hội và Nhân văn theo hướng xác định phát triển năng lực tư duy là một chuẩn đầu ra quan trọng. Định hướng này phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013; Bộ Chính trị, 2024a). Mục tiêu đào tạo không chỉ dừng ở việc cung cấp tri thức chuyên môn mà còn phải hướng tới khả năng nhận thức vấn đề một cách hệ thống, phân tích mâu thuẫn, đánh giá thông tin đa chiều, vận dụng tri thức vào thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm để phát triển nhận thức.

Chương trình đào tạo cần được rà soát, cập nhật theo hướng tích hợp, tăng cường liên hệ giữa các học phần lý luận, cơ sở ngành, chuyên ngành với hoạt động thực tiễn. Sự liên thông giữa các học phần góp phần khắc phục tình trạng tri thức phân mảnh, tạo điều kiện để sinh viên kết nối nhiều góc nhìn khi phân tích hiện tượng xã hội, qua đó phát triển tư duy hệ thống và khả năng liên kết tri thức (Morin, 2008).

Phương pháp dạy học cần chuyển từ truyền thụ một chiều sang tổ chức các hoạt động nhận thức tích cực. Những hình thức như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, tranh biện học thuật, phân tích tình huống, học tập theo dự án, nghiên cứu trường hợp và phản tư sau trải nghiệm cần được vận dụng phù hợp để sinh viên chủ động phát hiện vấn đề, nhận diện mâu thuẫn, phân tích quan hệ nhân quả và lựa chọn phương án giải quyết. Đổi mới phương pháp cần đi đôi với đánh giá quá trình học tập, chất lượng sản phẩm học thuật và khả năng vận dụng tri thức, thay vì chỉ chú trọng kiểm tra mức độ ghi nhớ, tái hiện kiến thức.

Hai là, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học trực tiếp rèn luyện tư duy biện chứng.

Các môn học như Triết học Mác – Lênin, Lôgic học, Phương pháp nghiên cứu khoa học, các học phần lý luận chính trị và những học phần nền tảng của ngành Khoa học xã hội và Nhân văn có vai trò quan trọng trong rèn luyện phương pháp tư duy. Trần Viết Quang (2008) nhấn mạnh yêu cầu gắn việc hình thành năng lực tư duy biện chứng với khả năng nắm vững và vận dụng chủ động, sáng tạo phương pháp luận duy vật biện chứng. Vì vậy, giảng dạy các học phần này cần giảm lối học thuộc khái niệm, tăng cường yêu cầu phân tích, lập luận và vận dụng kiến thức vào các vấn đề chuyên ngành.

Trong quá trình giảng dạy, cần gắn các nguyên lý, quy luật và phạm trù của phép biện chứng với những tình huống cụ thể như biến đổi văn hóa cộng đồng, đô thị hóa, di cư lao động, bảo tồn di sản, phát triển du lịch, giáo dục vùng khó khăn, truyền thông số, biến đổi khí hậu và sinh kế của người dân Bắc Trung Bộ. Việc đặt tri thức lý luận trong bối cảnh thực tiễn giúp sinh viên nhận diện các mối quan hệ đa chiều, kiểm nghiệm khả năng vận dụng phương pháp luận và chuyển hóa kiến thức lý thuyết thành công cụ phân tích vấn đề.

Đội ngũ giảng viên cần được bồi dưỡng thường xuyên về phương pháp dạy học phát triển năng lực, đánh giá quá trình, thiết kế nhiệm vụ học tập có vấn đề và hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Kết quả mô hình nghiên cứu của luận án được dẫn trong nghiên cứu cho thấy, phương pháp giảng dạy là một trong những nhân tố có ảnh hưởng nổi bật đến năng lực tư duy biện chứng. Do đó, giảng viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn cần thiết kế môi trường học tập khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, trao đổi học thuật, phản biện và tự điều chỉnh lập luận. Nhận định này cần được đối chiếu với kết quả phân tích định lượng cụ thể của luận án trước khi công bố.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong tự học, tự nghiên cứu và rèn luyện.

Năng lực tư duy biện chứng chỉ có thể phát triển bền vững khi sinh viên trở thành chủ thể tích cực của quá trình nhận thức. Vì vậy, cần giúp sinh viên hình thành động cơ học tập đúng đắn, ý thức tự giác trong tự học, tự nghiên cứu và rèn luyện phương pháp tư duy. Mỗi sinh viên cần chủ động xây dựng kế hoạch học tập, đọc tài liệu mở rộng, ghi chép phản tư, đặt câu hỏi nghiên cứu và thường xuyên tự đánh giá cách tiếp cận vấn đề. Qua đó, tri thức và phương pháp tư duy từng bước được chuyển hóa thành năng lực vận dụng trong học tập, nghiên cứu và thực tiễn.

Sinh viên cần được hướng dẫn sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập như sơ đồ tư duy, sơ đồ lôgic, nhật ký học tập, hồ sơ năng lực, cơ sở dữ liệu học thuật và học liệu số. Trong bối cảnh chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc sử dụng công nghệ cần gắn với năng lực chọn lọc, kiểm chứng, so sánh nguồn và đặt thông tin trong bối cảnh cụ thể. Tiếp cận tri thức từ nhiều nguồn chỉ thực sự có ý nghĩa khi sinh viên biết kết nối, đánh giá và tổ chức thông tin thành hệ thống lập luận có căn cứ.

Các trường đại học cần xây dựng cơ chế khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, viết tiểu luận, khóa luận, thực hiện dự án cộng đồng và tham gia các cuộc thi học thuật. Quá trình nghiên cứu tạo điều kiện để sinh viên trải nghiệm đầy đủ các bước từ phát hiện vấn đề, xây dựng câu hỏi hoặc giả thuyết, thu thập dữ liệu đến phân tích kết quả, kiểm chứng và rút ra kết luận. Đây là môi trường thiết thực để rèn luyện các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa và khả năng liên hệ lý luận với thực tiễn.

Bốn là, xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu khoa học dân chủ, sáng tạo và gắn với thực tiễn địa phương.

Môi trường học tập có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tư duy biện chứng. Môi trường học thuật dân chủ, cởi mở, khuyến khích đối thoại và tôn trọng sự khác biệt tạo điều kiện để sinh viên trình bày quan điểm, tranh luận, bảo vệ lập luận bằng chứng cứ và điều chỉnh nhận thức trước những ý kiến có cơ sở. Ngược lại, môi trường học tập nặng tính áp đặt, hình thức, thiếu đối thoại có thể làm hạn chế tính chủ động của người học. Vì vậy, xây dựng môi trường học tập cần được xem là một bộ phận trong chiến lược phát triển năng lực tư duy của sinh viên, không chỉ là vấn đề cơ sở vật chất.

Các khoa, bộ môn và tổ chức Đoàn – Hội cần tăng cường tổ chức tọa đàm chuyên đề, hội thảo sinh viên, diễn đàn đối thoại, câu lạc bộ học thuật và các dự án nghiên cứu quy mô phù hợp với thực tiễn Bắc Trung Bộ. Nội dung có thể tập trung vào bảo tồn di sản, phát triển du lịch cộng đồng, ứng phó thiên tai, giáo dục vùng khó khăn, di cư lao động, biến đổi văn hóa làng xã, truyền thông địa phương và xây dựng nông thôn mới. Thông qua các hoạt động này, sinh viên có cơ hội tiếp cận những vấn đề xã hội cụ thể, đối chiếu thông tin từ nhiều nguồn, nhận diện mâu thuẫn và đề xuất giải pháp trên cơ sở phân tích có căn cứ.

Bên cạnh đó, các trường cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và học liệu phục vụ tự học, thảo luận và nghiên cứu, bao gồm thư viện, học liệu số, không gian tự học, phòng thảo luận nhóm và các thiết chế thực hành chuyên ngành. Cơ chế đánh giá, khen thưởng cũng cần bảo đảm công bằng, minh bạch, coi trọng nỗ lực thực chất, chất lượng sản phẩm học thuật, khả năng vận dụng tri thức và liêm chính khoa học. Việc kết hợp đồng bộ các điều kiện này sẽ tạo môi trường thuận lợi để sinh viên rèn luyện tư duy độc lập, phản biện và biện chứng, đồng thời tăng cường mối liên hệ giữa hoạt động đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

5. Kết luận

Năng lực tư duy biện chứng có ý nghĩa nền tảng đối với sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Kết quả khảo sát 1.065 sinh viên tại Trường Đại học Hồng Đức, Đại học Huế và Trường Đại học Vinh cho thấy, đa số sinh viên nhận thức được vai trò của tư duy biện chứng và bước đầu thể hiện khả năng liên hệ tri thức, nhận diện sự vận động, phát hiện mâu thuẫn và khái quát hóa vấn đề. Tuy nhiên, do kết quả chủ yếu dựa trên tự đánh giá kết hợp với phỏng vấn sâu, những phát hiện này phản ánh xu hướng và mức độ biểu hiện của năng lực, chưa thể thay thế cho việc đánh giá trực tiếp, toàn diện năng lực tư duy biện chứng của sinh viên.

Thực tế cho thấy, năng lực tư duy biện chứng của sinh viên chưa phát triển đồng đều. Một bộ phận còn hạn chế trong liên kết tri thức liên ngành, hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức, vận dụng phương pháp luận biện chứng, tự học, tự nghiên cứu và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu đổi mới đồng bộ từ chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy đến hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hành và ý thức chủ động của người học.

Vì vậy, nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tại các trường đại học vùng Bắc Trung Bộ cần được thực hiện thông qua bốn nhóm giải pháp có mối quan hệ chặt chẽ: hoàn thiện mục tiêu, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng phát triển năng lực; nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học trực tiếp rèn luyện phương pháp tư duy; phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong tự học, tự nghiên cứu; xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu khoa học dân chủ, sáng tạo, gắn với thực tiễn địa phương. Hiệu quả của các giải pháp phụ thuộc vào sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo, giảng viên và sinh viên, cần được theo dõi, đánh giá định kỳ bằng những tiêu chí phù hợp. Qua đó, từng bước chuyển tri thức lý luận thành phương pháp tư duy và năng lực giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có khả năng phân tích độc lập, tư duy phản biện và thích ứng với những biến đổi của đời sống xã hội.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024a). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Comrey, A. L., & Lee, H. B. (1992). A first course in factor analysis (2nd ed.). Lawrence Erlbaum Associates.
Hoàng Thúc Lân (2014). Phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.
Hồ Bá Thâm (2003). Phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia.
Morin, E. (2008). Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai. Nxb Tri thức.
Trần Viết Quang (2008). Triết học với việc xây dựng năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên sư phạm ở nước ta hiện nay [Luận án tiến sĩ Triết học]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Vũ Văn Viên (2006). Tư duy lôgic – bộ phận hợp thành tư duy khoa học. Tạp chí Triết học, (12).