Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập và vận dụng đối với sinh viên Việt Nam hiện nay

Ho Chi Minh’s thought on learning methods and its application to Vietnamese students today

TS. Phạm Thị Kim Lan
Học viện Tài chính

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập, làm rõ các nội dung cơ bản như tự học, học đi đôi với hành, học tập suốt đời, học từ thực tiễn và học tập gắn với rèn luyện đạo đức. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải giá trị định hướng của những quan điểm này và phân tích khả năng vận dụng đối với sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng phương thức học tập theo hướng chủ động, thực tiễn và toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; phương thức học tập; sinh viên Việt Nam; tự học; rèn luyện đạo đức; học tập suốt đời; chuyển đổi số.

Abstract: This article analyzes Ho Chi Minh’s thought on learning methods, clarifying key contents such as self-study, learning associated with practice, lifelong learning, learning from practical experience, and learning combined with moral cultivation. On that basis, the article examines the orientational value of these viewpoints and analyzes their applicability to Vietnamese students in the current context of digital transformation and international integration. Accordingly, several solutions are proposed to promote proactive, practice-oriented, and comprehensive learning methods, thereby contributing to improving the quality of education and developing human resources capable of meeting the country’s development requirements.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; learning methods; Vietnamese students; self-directed learning; moral cultivation; lifelong learning; digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Giáo dục và đào tạo giữ vai trò then chốt trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Đối với sinh viên – lực lượng trí thức trẻ, chủ thể trực tiếp của quá trình học tập – việc xác lập phương thức học tập đúng đắn có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đào tạo và năng lực phát triển bản thân. Tuy nhiên, phương thức học tập của một bộ phận sinh viên hiện nay vẫn còn những hạn chế, như: thiếu tính chủ động, chưa gắn kết giữa học tập với thực tiễn, chưa chú trọng đúng mức đến rèn luyện đạo đức và trách nhiệm xã hội.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập không chỉ được nhìn nhận như quá trình tiếp nhận tri thức mà còn là một phương thức phát triển con người gắn liền với thực tiễn và trách nhiệm xã hội. Những quan điểm của Người về tự học, học đi đôi với hành, học tập suốt đời và học tập gắn với rèn luyện đạo đức đến nay vẫn giữ nguyên giá trị định hướng sâu sắc, đặc biệt trong việc hình thành phương thức học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại mới.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập

Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển nhiều nguồn giá trị khác nhau, trong đó nổi bật là truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và thực tiễn hoạt động cách mạng của Người.

Truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam là nền tảng quan trọng. Trong suốt lịch sử, dân tộc ta luôn đề cao việc học như con đường để lập thân, lập nghiệp và cống hiến cho xã hội. Truyền thống đó không chỉ tạo nên môi trường văn hóa thuận lợi, mà còn hình thành một hệ giá trị coi trọng tri thức, đề cao sự học và tinh thần vượt khó, không ngừng mở rộng cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu sâu sắc truyền thống này, đồng thời, nâng lên tầm mới khi gắn việc học với lý tưởng cách mạng và trách nhiệm đối với dân tộc. Trước cảnh nước mất nhà tan, Hồ Chí Minh sớm có ý thức: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”1.

Tư tưởng của Người còn chịu ảnh hưởng từ tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là tinh thần học tập và tự học chiếm lĩnh tri thức nhân loại của các lãnh tụ cộng sản, như: Karl Marx, Friedrich Engels và Vladimir Ilyich Lenin. Những tấm gương về ý chí tự học, sự kiên trì và tinh thần gắn lý luận với thực tiễn đã góp phần định hình cách tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với học tập như một quá trình chủ động và sáng tạo.

Từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú đã giúp Người nhận thức sâu sắc vai trò của học tập đối với sự phát triển của con người và xã hội. Việc học không chỉ nhằm tích lũy tri thức, mà còn để phục vụ thực tiễn, giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội. Nhận thức này làm cho tư tưởng của Người về học tập mang tính thực tiễn cao và có khả năng vận dụng linh hoạt trong nhiều bối cảnh, từ đó từng bước hình thành hệ thống quan điểm về phương thức học tập. Điều này thể hiện ở việc những nội dung cơ bản sau:

(1) Xác định rõ mục đích học tập trong điều kiện xã hội mới. Nếu như trong xã hội phong kiến, việc học chủ yếu nhằm thi cử, đỗ đạt để “vinh thân phì gia”, thì trong thời đại cách mạng, Người đã đặt ra một định hướng căn bản khác: học phải gắn với trách nhiệm đối với Tổ quốc và Nhân dân. Người viết trong Lời ghi ở trang đầu sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (9/1949): “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”2. Người nhấn mạnh: “cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”3; đồng thời, khuyên mỗi cá nhân học ngành nào để có thể phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân chứ không chỉ tùy theo sở thích cá nhân mình. Đây không chỉ là lời căn dặn mà còn là sự xác lập một hệ giá trị mới về mục đích học tập trong thời đại cách mạng mới.

(2) Học phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, gắn với lao động sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm chế độ học tập bao gồm văn hoá, kỹ thuật và lao động. Người khẳng định: “Học tập cần gắn liền với thực hành để mai sau thực hiện mục đích cao quý: Thật thà phụng sự nhân dân”4. Là nhà giáo vĩ đại, Người luôn coi trọng mối quan hệ giữa học và hành: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”5. Nguyên tắc này giúp bảo đảm tính thực chất của học tập, tránh tình trạng học hình thức. Học tập ở nhà trường cần gắn với lao động sản xuất: “Nội dung dạy của ta phải thiên về lao động. Trước kia thì đào tạo thành các cậu tú, cô tú xem khinh lao động. Bây giờ thì phải yêu lao động, thực sự lao động… thời phong kiến, học cốt để làm quan. Ngày nay phải vừa học vừa lao động”6. Ngoài ra, cần học ở nhiều nguồn khác nhau. Người chỉ rõ: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân”7. Đây là một quan niệm mở về học tập, trong đó tri thức không bị giới hạn trong không gian nhà trường.

Học phải gắn với rèn luyện đạo đức. Là nhà giáo dục vĩ đại, Người không coi học tập chỉ là tiếp nhận tri thức, mà là quá trình “học làm người”, trong đó tri thức phải đi liền với tu dưỡng phẩm chất và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, học tập phải đồng thời hướng tới hoàn thiện cả năng lực và nhân cách. Người nhiều lần nhấn mạnh mối quan hệ giữa “đức” và “tài”, trong đó “đức là gốc”. Điều đó cho thấy phương thức học tập đúng đắn không thể tách rời việc rèn luyện đạo đức, lối sống và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Học tập không chỉ để nâng cao trình độ mà còn để hình thành thái độ sống đúng đắn, biết cống hiến và phụng sự xã hội.

Đối với thanh niên, Người xác định sự cần thiết của vấn đề này: “Nói chung thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa, trước hết phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gột rửa cá nhân chủ nghĩa; muốn thế Đoàn Thanh niên phải củng cố và phát triển hơn nữa”8. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người học không chỉ cần giỏi chuyên môn, mà còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm với xã hội: “thanh niên ta cần phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà và phải trau dồi đạo đức của người cách mạng”9.

Trong bối cảnh hiện nay, quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khi một bộ phận sinh viên có xu hướng coi trọng tri thức chuyên môn mà chưa chú ý đúng mức đến rèn luyện đạo đức và trách nhiệm xã hội. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập gắn với rèn luyện đạo đức góp phần định hướng phương thức học tập toàn diện, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa trí tuệ và nhân cách.

(3) Coi trọng tự học và học suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương của tinh thần tự học và học suốt đời. Thời đại mới, xã hội mới phải có tinh thần chủ động học tập theo: “Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”10. Nói chuyện tại Hội nghị sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam, Người nói sự trải nghiệm của một “thanh niên già” sống trong chế độ xã hội cũ: “Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học… Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên… ”11: từ đó, Người nhấn mạnh: “Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế mà số đông thanh niên công nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”. Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kiến thức toàn diện về văn hóa, chính trị, kỹ thuật, phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hằng ngày, kết hợp với học kinh nghiệm tốt của các đoàn thanh niên bạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Học đi đôi với hành. Lênin có nói: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản”12.

Con đường cách mạng vô sản Người giác ngộ là kết quả của quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh tự trải nghiệm thực tiễn, tự học văn hóa, kiến thức ở mọi nơi Người đã đến, sống và hoạt động. Năm 1920, Người tán thành Quốc tế thứ ba vì đây là tổ chức đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức, chính là nhờ: “Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”13.

Từ kinh nghiệm bản thân, Người khái quát thành phương châm: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”14. Bản thân Người luôn tự học không ngừng: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”15. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn thanh niên: “phải tích cực học tập. Phải thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, học mãi. Học phải đi đôi với hành. Học để hành càng ngày càng tốt hơn”16. Từ đó cho thấy, người học phải giữ vai trò chủ thể trong quá trình học tập, chủ động tìm kiếm tri thức và tự hoàn thiện bản thân. Quan điểm này phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại, nơi tri thức luôn biến đổi và đòi hỏi con người phải không ngừng thích ứng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập là hệ thống quan điểm của Người về cách thức tổ chức, tiến hành và thực hiện hoạt động học tập của con người, trong đó nhấn mạnh vai trò của học đi đôi với hành, học tập suốt đời, tự học, học tập gắn liền với rèn luyện đạo đức. Những quan điểm trên thể hiện cách tiếp cận toàn diện, coi học tập không chỉ là quá trình tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình rèn luyện nhân cách, phát triển năng lực và thực hiện trách nhiệm xã hội. Xây dựng phương thức học tập đúng đắn trở thành một nội dung cốt lõi trong việc hình thành nhân cách và xây dựng con người phát triển toàn diện. Những nội dung này không chỉ có giá trị lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc định hướng xây dựng phương thức học tập cho sinh viên Việt Nam hiện nay

3. Giá trị định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập đối với sinh viên Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đổi mới không chỉ đặt ra đối với kinh tế – xã hội mà còn đối với quản lý phát triển con người, trong đó giáo dục và đào tạo giữ vai trò then chốt. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là định hướng từ Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có bản lĩnh, tri thức, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Trong tổng thể đó, việc hình thành phương thức học tập cho sinh viên không chỉ là vấn đề giáo dục thuần túy mà còn là một nội dung quan trọng của quản lý phát triển nguồn nhân lực quốc gia.

Một là, định hướng giá trị về mục tiêu học tập gắn với lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xác lập đúng mục tiêu học tập có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng nguồn nhân lực. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm “học để phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” góp phần định hướng lại nhận thức của sinh viên, từ chỗ học vì lợi ích cá nhân sang học vì trách nhiệm xã hội. Về phương diện quản lý, đây là cơ sở để định hình các chính sách giáo dục theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu phát triển đất nước, khắc phục tình trạng lệch chuẩn trong động cơ học tập.

Hai là, định hướng giá trị về năng lực tự học và học tập suốt đời trong quản trị giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tri thức biến đổi nhanh chóng, mô hình giáo dục không thể chỉ dựa vào truyền thụ tri thức một chiều. Quan điểm “lấy tự học làm cốt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với cách tiếp cận giáo dục hiện đại, trong đó người học là trung tâm của quá trình học tập. Các nghiên cứu quốc tế của Organisation for Economic Co-operation and Development cho thấy, năng lực tự học và khả năng thích ứng với tri thức mới là những năng lực cốt lõi của người học trong thế kỷ XXI (OECD, 2018)17. Đồng thời, United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization cũng nhấn mạnh học tập suốt đời là nền tảng để con người thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của xã hội và phát triển bền vững (UNESCO, 2021)18. Những quan điểm này cho thấy sự tương đồng sâu sắc với tư tưởng Hồ Chí Minh về việc “lấy tự học làm cốt” và học tập không ngừng.

Ba là, định hướng giá trị về gắn kết giữa học và hành trong phát triển nguồn nhân lực. Nguyên tắc “học đi đôi với hành” không chỉ là yêu cầu phương pháp, mà còn là định hướng chiến lược đối với giáo dục đại học. Trong điều kiện hiện nay, khi thị trường lao động đòi hỏi năng lực thực tiễn cao, việc tổ chức đào tạo phải gắn với thực hành, thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp. Từ góc độ quản lý nhà nước, điều này liên quan trực tiếp đến việc xây dựng cơ chế liên kết giữa nhà trường – doanh nghiệp – xã hội, bảo đảm sự thống nhất giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.

Bốn là, định hướng giá trị về đạo đức và trách nhiệm trong học tập. Trong môi trường giáo dục hiện đại, đặc biệt là không gian số, các vấn đề về đạo đức học thuật, tính trung thực và ý thức kỷ luật ngày càng trở nên cấp thiết. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm học tập gắn với rèn luyện đạo đức góp phần định hình chuẩn mực hành vi của sinh viên. Đối với quản lý giáo dục, điều này đòi hỏi xây dựng hệ thống quy chuẩn đạo đức học thuật, cơ chế kiểm soát và đánh giá hành vi học tập, nhằm bảo đảm tính liêm chính trong giáo dục.

Năm là, định hướng giá trị về năng lực thích ứng và phát triển toàn diện. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, sinh viên không chỉ cần tri thức chuyên môn, mà còn cần khả năng thích ứng, tư duy mở và năng lực hội nhập. Quan điểm học tập suốt đời và học từ nhiều nguồn khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa định hướng đối với việc xây dựng mô hình giáo dục linh hoạt, đa dạng và mở. Đây cũng là cơ sở để hoàn thiện chính sách phát triển năng lực toàn diện cho người học, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.

Từ những phân tích trên có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập không chỉ là hệ giá trị mang tính định hướng cá nhân, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Việc vận dụng tư tưởng này một cách sáng tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời không chỉ có ý nghĩa trong việc hình thành phương thức học tập cho sinh viên, mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong kỷ nguyên mới.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới tổ chức môi trường học tập ở cơ sở đào tạo theo hướng thúc đẩy tính chủ động và năng lực tự học của sinh viên. Cần chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ sang mô hình học tập tích cực, trong đó người học giữ vai trò trung tâm. Việc triển khai các nền tảng quản lý học tập (LMS), phát triển hệ thống học liệu số, thư viện điện tử và các khóa học trực tuyến là cần thiết. Đồng thời cần tổ chức các hình thức học tập linh hoạt như học kết hợp sẽ tạo điều kiện để sinh viên hình thành thói quen tự học. Áp dụng các hình thức đánh giá liên tục như bài tập dự án, đánh giá quá trình và phản hồi trực tuyến nhằm thúc đẩy động cơ học tập thực chất.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng tích hợp yêu cầu hình thành phương thức học tập. Cần cụ thể hóa các yêu cầu về thái độ học tập, ý thức trách nhiệm và năng lực tự học trong chuẩn đầu ra. Thiết kế các học phần theo hướng dự án, học qua trải nghiệm và nghiên cứu khoa học sinh viên sẽ góp phần hình thành phương thức học tập gắn với thực tiễn. Tăng cường các học phần thực hành, dự án, nghiên cứu khoa học và trải nghiệm nghề nghiệp sẽ giúp sinh viên củng cố và phát triển phương thức học tập gắn với thực tiễn. Đồng thời, cần đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và xã hội nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực.

Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong định hướng phương thức học tập. Các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên cần phát huy vai trò dẫn dắt, cầu nối trong việc tổ chức các hoạt động học thuật, cuộc thi nghiên cứu khoa học, mô hình “cộng đồng học tập” và các phong trào học tập gắn với rèn luyện. Đồng thời, cần xây dựng môi trường giáo dục đồng bộ, trong đó gia đình và xã hội cùng tham gia định hướng hành vi học tập của sinh viên.

Thứ tư, xây dựng môi trường học tập số lành mạnh và có định hướng. Đẩy nhanh phát triển các nền tảng học tập trực tuyến, đồng thời kiểm soát chất lượng thông tin và định hướng hành vi học tập trong môi trường số. Ứng dụng các công cụ kiểm tra đạo văn, hệ thống giám sát thi trực tuyến và quy định rõ chuẩn mực đạo đức học thuật sẽ góp phần hạn chế các hành vi lệch chuẩn. Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng số và năng lực học tập số vào chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh viên năng lực sử dụng công nghệ một cách hiệu quả, tránh lệ thuộc và hạn chế các biểu hiện lệch chuẩn trong học tập trực tuyến.

Thứ năm, cần phát huy vai trò chủ thể của sinh viên trong việc tự xây dựng phương thức học tập. Sinh viên cần chủ động xác lập mục tiêu học tập, xây dựng kế hoạch cá nhân và tự đánh giá quá trình học tập. Việc tham gia các nhóm học tập, câu lạc bộ học thuật và hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần hình thành thói quen học tập tích cực. Đây cũng là cách cụ thể hóa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “lấy tự học làm cốt”.

Việc xây dựng phương thức học tập cho sinh viên không chỉ là quá trình giáo dục nhận thức mà còn là quá trình tổ chức thực tiễn một cách đồng bộ, trong đó môi trường giáo dục, chương trình đào tạo và sự chủ động của người học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc xây dựng phương thức học tập cho sinh viên không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường, mà là một quá trình tổng thể, đòi hỏi sự phối hợp giữa chính sách vĩ mô, cơ chế quản lý và nỗ lực tự thân của người học. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.

 5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập là một hệ thống quan điểm toàn diện, thể hiện sự thống nhất giữa tự học, học đi đôi với hành, học tập suốt đời và học tập gắn với rèn luyện đạo đức trong quá trình phát triển con người. Những quan điểm này không chỉ có giá trị lý luận sâu sắc, mà còn mang ý nghĩa định hướng thực tiễn đối với việc tổ chức và thực hiện hoạt động học tập trong điều kiện hiện nay. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, việc vận dụng đúng đắn phương thức học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sinh viên – lực lượng trí thức trẻ của xã hội. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa đổi mới giáo dục, hoàn thiện cơ chế quản lý và phát huy vai trò chủ thể của người học nhằm hình thành phương thức học tập chủ động, thực tiễn và toàn diện. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức học tập không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, mà còn tạo nền tảng cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Chú thích
1. Trần Dân Tiên (2005). Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. H. NXB Chính trị quốc gia, tr.14.
2, 5, 7, 10. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 208, 361, 361, 360.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 48.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. tr. 400.
6, 8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 270, 19.
9, 11, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 89, 187, 90.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 11.
14. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 312.
15, 16. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 113.
17. Organisation for Economic Co-operation and Development (2018). The Future of Education and Skills: Education 2030. OECD Publishing.
18. United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (2021). Reimagining Our Futures Together: A New Social Contract for Education. UNESCO Publishing