Quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ: Nội dung và ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay

TS. Ngô Thị Huyền Trang
Trường Đại học Thương mại
Email: Trang.nth@tmu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng cốt yếu của việc phát triển khoa học công nghệ đối với sự phát triển của đất nước. Người coi phát triển khoa học, công nghệ là một công cụ quan trọng để khắc phục tình trạng kém phát triển về kinh tế và đưa đất nước hội nhập với những tiến bộ khoa học và công nghệ trên thế giới. Người ta cho rằng, bằng cách phát triển khoa học và công nghệ, Việt Nam có thể nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Do vậy, Người chủ trương học tập, tiếp thu tri thức của nhân loại; chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, cải tiến khoa học kỹ thuật; chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ; và xây dựng thể chế nhằm thúc đẩy khoa học. Những quan điểm này của Người vẫn còn giá trị đối với sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại ở Việt Nam hiện nay.         

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; khoa học, công nghệ; kỷ nguyên phát triển mới.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước. Người cho rằng, nếu không có khoa học, công nghệ thì đất nước sẽ tụt hậu, Nhân dân sẽ không được hưởng một cuộc sống đầy đủ, ấm no. Người không chỉ nhìn nhận khoa học, công nghệ như một công cụ hỗ trợ mà còn xem là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Người cho rằng, tiến bộ khoa học không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn là một phần không thể thiếu để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan điểm “phát triển khoa học để phụng sự kháng chiến” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 7) và “tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 11) bởi lẽ “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 12) thể hiện tầm nhìn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và sự phát triển của đất nước.

Một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học, công nghệ là vấn đề xây dựng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao làm nền tảng cho sự tiến bộ của đất nước. Người cho rằng, muốn phát triển khoa học, công nghệ thì trước hết phải có đội ngũ cán bộ khoa học giỏi. Người từng nói: “Phải ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cần thiết cho sản xuất phát triển. Chỉ có như thế, chúng ta mới xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 13).

Để có thể xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ chất lượng cao, Người thúc đẩy việc gửi sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập tại các quốc gia có năng lực khoa học tiên tiến, đặc biệt là Liên Xô để họ có thể trở về góp công, góp sức vào sự phát triển của đất nước, trong bức thư gửi các lưu học sinh tại Mátxcơva (1955), Người căn dặn: “Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của Nhân dân mà định, không thể tuỳ theo sở thích riêng của mình” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 10), mục đích của học tập, tiếp thu thành tựu công nghệ không phải vì lợi ích cá nhân mà vì lợi ích chung của xã hội, bảo đảm những kiến thức khoa học, kỹ thuật học được sẽ trực tiếp góp phần cải thiện năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân và phát triển kinh tế đất nước. Trên thực tế, với những nỗ lực ngoại giao của Hồ Chí Minh và của Đảng, đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều nước trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là Liên Xô, từ năm 1955 đến năm 1975, có “18516 lưu học sinh tốt nghiệp trở về phục vụ đất nước” (Nguyễn Duy Phương, 2021).

Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ trong tương lai thông qua giáo dục và đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thu hút và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Điều đặc biệt là người không phân biệt ý thức hệ, đảng phái; miễn là có tài thì đều được tin tưởng và trọng dụng. Người cho rằng, trong dân chúng có “rất nhiều nhân tài ngoài Đảng”. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ và nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người đã dùng tình thân ái, sự tin tưởng để thu hút rất nhiều hiền tài cho cách mạng, nhiều trí thức nổi tiếng trên mọi lĩnh vực, như Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Lê Văn Thiêm, Lương Định Của, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Nguyễn Khắc Viện, Tạ Quang Bửu, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phan Anh, Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Võ Quý Huân, Vũ Trọng Khánh, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum… đã mang hết tài năng phục vụ đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cao tinh thần dân chủ trong nghiên cứu khoa học. Người khuyến khích các nhà khoa học được tự do sáng tạo, đóng góp ý kiến và hợp tác cùng nhau để tìm ra giải pháp tối ưu cho các vấn đề của đất nước. Người không chỉ khuyến khích các chuyên gia, học giả, nhà nghiên cứu mà còn khuyến khích cả dân chúng tham gia vào hoạt động khám phá, nghiên cứu khoa học: “phát huy sức sáng tạo của quần chúng lao động, học tập kinh nghiệm của quần chúng, phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân lao động có thể nắm được những hiểu biết khoa học, kỹ thuật” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 13). Thông qua sự tham gia rộng rãi của công chúng vào các sáng kiến khoa học và công nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng đến mục tiêu dân chủ hóa kiến thức, Người cho rằng, năng lực và sự sáng tạo của tập thể sẽ thúc đẩy phát triển bền vững. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc phổ biến kiến thức là rất quan trọng để huy động trí tuệ của nhân dân trong việc đưa vào thực tiễn các thành tựu khoa học, kỹ thuật, để những thành tựu khoa học phục vụ một cách có hiệu quả cho sản xuất, do vậy, Người yêu cầu: “Các đồng chí cán bộ khoa học và kỹ thuật hãy đem hiểu biết của mình truyền cho Nhân dân, để Nhân dân thi đua sản xuất, làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 12).

Người cũng yêu cầu phải có những chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút sự cống hiến của các nhân tài khoa học, Người phát biểu: “Đối với anh em lao động trí óc và cán bộ khoa học, kỹ thuật, công đoàn phải có kế hoạch giúp đỡ họ không ngừng tiến bộ, và thực hiện đoàn kết chặt chẽ giữa lao động trí óc và lao động chân tay” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 13). Người cũng không quên động viên các cán bộ khoa học, kỹ thuật phải không ngừng cố gắng học tập để theo kịp xu thế, tình hình của đất nước và thế giới: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp với những biến đổi vô cùng tận, chúng ta phải nghiên cứu và học tập. Nghiên cứu, học tập lý luận và kỹ thuật” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 9). Người yêu cầu ở họ một tinh thần: “Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại, người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 6) thì mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn, của nhu cầu phát triển đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò của trí thức và cán bộ khoa học kỹ thuật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giao cho họ những nhiệm vụ quan trọng như nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nước nhà, cải tiến lề lối sản xuất, nâng cao năng suất lao động và truyền bá kiến thức khoa học đến nhân dân. Để thực hiện tốt những nhiệm vụ này, người cán bộ khoa học kỹ thuật không thể thiếu đạo đức cách mạng, tinh thần phục vụ Nhân dân, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh lập luận rằng, mục tiêu cao nhất của tiến bộ khoa học là “phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 14). Do vậy, phát triển nhân lực khoa học, công nghệ không chỉ dừng lại ở việc đào tạo tri thức mà còn phải rèn luyện đạo đức, trách nhiệm của các nhà khoa học trong việc phục vụ xã hội.

Một yếu tố cơ bản trong tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa các thành tựu khoa học quốc tế và sự đổi mới trong nước. Để thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển với các quốc gia tiên tiến hơn, cần thúc đẩy việc tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nước ngoài. Trong bối cảnh tình hình quốc tế hết sức phức tạp, lại bị chiến tranh, bao vây, cấm vận, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cách tiếp cận cởi mở với kiến thức toàn cầu, khuyến khích chuyển giao chuyên môn thông qua giáo dục và hợp tác, Người nhấn mạnh yêu cầu: “Mở rộng sự hợp tác với các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 14). Khi biết tin các khoa học Liên Xô và Việt Nam đã kết hợp nghiên cứu ra thuốc Philatốp, được sử dụng hiệu quả Người có bài viết ca ngợi và khuyến khích tinh thần sáng tạo hơn nữa từ các nhà khoa học: “Nhờ khoa học Liên Xô và công nghiên cứu của thầy thuốc, Nhân dân ta được hưởng một cách chữa bệnh vừa rất giản đơn, vừa hay vừa rẻ…” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 8). Ngay trong Lời kêu gọi Liên Hiệp Quốc (1946), Người đã thể hiện tinh thần rất cởi mở: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 4).

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý rằng việc tiếp thu tri thức từ các quốc gia khác cần được thực hiện một cách thận trọng, dựa trên bối cảnh thực tiễn và nhu cầu của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về việc bắt chước các mô hình nước ngoài một cách cứng nhắc, thiếu tinh thần phê phán. Phát triển đất nước không thể chỉ “trông chờ, ỷ lại” vào các thành tựu khoa học kỹ thuật nước ngoài, bởi lẽ nếu như vậy, chúng ta sẽ luôn thụ động và đi sau. Do vậy, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy nghiên cứu trong nước. Trên thực tế, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất vũ khí, cải tiến chiến thuật quân sự, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người cũng đã chỉ đạo áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, thực hiện thắng lợi những mục tiêu cách mạng đề ra.

Bên cạnh việc quan tâm đến nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế để phát triển khoa học công nghệ, một khía cạnh khác mà Hồ Chí Minh quan tâm là việc xây dựng thể chế hỗ trợ sự phát triển khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận ra rằng, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đòi hỏi sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ các tổ chức chính trị – xã hội. Người đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập các viện nghiên cứu, hệ thống giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và các hội đồng kỹ thuật đặt nền tảng cho sự tiến bộ khoa học, công nghệ. Những nỗ lực của Người đã thiết lập nền tảng cho cơ sở hạ tầng khoa học đương đại của Việt Nam, và vẫn là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của đất nước.

2. Ý nghĩa của quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ phục vụ phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến phát triển khoa học và công nghệ, coi đây là quốc sách hàng đầu. Đại hội VI của Đảng (1986) đã xác định khoa học và công nghệ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đã khẳng định: “Ngày nay, công nghiệp hóa luôn gắn liền với hiện đại hóa, với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại. Khoa học và công nghệ trở thành nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996). Tại các Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng đều xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ; khoa học, công nghệ là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng; phát triển khoa học và công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặc biệt, đánh giá 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030, tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập II). Như vậy, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã nhất quán coi phát triển khoa học và công nghệ là ưu tiên quốc gia hàng đầu, là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò “quốc sách hàng đầu” và “động lực quan trọng nhất” của khoa học và công nghệ trong việc hiện đại hóa lực lượng sản xuất và công nghiệp hóa đất nước vẫn chưa được thể hiện đầy đủ. Nguyên nhân chủ yếu là do việc ứng dụng khoa học công nghệ còn phân tán, thiếu tính hệ thống; đồng thời, mức đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ thêm: “tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập II). Rõ ràng, những quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ đã có vai trò to lớn trong việc hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ của Đảng và Nhà nước.

Bước vào kỷ nguyên mới, sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với trọng tâm là chuyển đổi số toàn diện và trí tuệ nhân tạo (AI), đang định hình phương thức sản xuất số hiện đại. Nghị quyết Đại hội XIV đã khẳng định dứt khoát: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là giải pháp hỗ trợ mà là động lực phát triển chính, đưa đất nước chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học – kỹ thuật giữ vai trò là ngọn cờ định hướng, Người khẳng định, chân lý cốt lõi: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của Nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 14). Như vậy, phát triển khoa học, công nghệ là để hướng tới phục vụ cho nhiệm vụ phát triển đất nước, phục vụ con người, triết lý đó được kế thừa và phát huy trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) và đường lối Đại hội XIV (Bộ Chính trị, 2024; Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026): lấy con người làm trung tâm, dữ liệu làm nền tảng và niềm tin xã hội làm điều kiện tiên quyết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 4) là thước đo tối cao cho mọi tiến bộ kỹ thuật. Chuyển đổi số trong bộ máy nhà nước phải triệt để minh bạch hóa dịch vụ công trực tuyến toàn trình nhằm xóa bỏ tận gốc tệ nhũng nhiễu, tham nhũng vặt và tối ưu hóa bộ máy công vụ liêm chính. Cùng với việc thực thi nghiêm ngặt Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và Luật An ninh mạng năm 2025 (Quốc hội, 2025a, 2025b) để ngăn chặn tin giả Deepfake, bảo vệ quyền riêng tư cá nhân và chống định kiến dữ liệu, Nhà nước phải sử dụng hiệu quả Quỹ Viễn thông công ích để xóa bỏ 100% vùng lõm sóng, trợ giá thiết bị thông minh cho hộ nghèo và vùng sâu, vùng xa. Chống “nghèo đói công nghệ” để không ai bị bỏ lại phía sau chính là sự khẳng định bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ ta, đưa đất nước tự tin tiến bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như người hằng mong muốn.

Thấm nhuần tinh thần “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 2) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu cấp bách hiện nay tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về khoa học và công nghệ, ban hành chính sách tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia đóng góp các nguồn tài chính cho phát triển thị trường khoa học – công nghệ. Đổi mới cách thức đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học; giảm thiểu tối đa thủ tục hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ. Thực hiện tinh thần của Đại hội XIV của Đảng, chuyển tư duy lập pháp và quản lý nhà nước từ tiền kiểm, hành chính hóa sang hậu kiểm dựa trên kết quả cuối cùng, thực hiện mô hình quản trị hiện đại. Hiện nay, nhiều luật liên quan đến khoa học công nghệ đã có hiệu lực như: Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Viễn thông năm 2023, Luật Căn cước năm 2023 và đặc biệt là Quốc hội đã ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 (Quốc hội, 2023a, 2023b, 2023c, 2025b), điều đó đòi hỏi trọng tâm hành động là khẩn trương tổ chức thực thi thực chất, cụ thể hóa các quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 về phân loại cấp độ rủi ro thuật toán, nhân rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cấp quốc gia trong các lĩnh vực trọng điểm như y tế, giao thông, tài chính số; đồng thời xóa bỏ cơ chế thanh quyết toán hành chính cơ học, triệt để áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng theo Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị để khuyến khích, tạo không gian cho sáng tạo.

Bản chất của cuộc chạy đua AI là cạnh tranh về chất lượng nhân tài, nơi yếu tố con người giữ vị trí quyết định, đúng như lời Bác dạy: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5). Việc Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% vào tăng trưởng kinh tế cho thấy yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển đã trở nên cấp thiết. Cùng với mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm, TFP được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, phản ánh vai trò ngày càng quyết định của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm và đóng góp của TFP đạt trên 55%.

Để hiện thực hóa mục tiêu, cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ khoa học, đặc biệt là các chuyên gia đầu ngành và nhân tài trong lĩnh vực khoa học. Đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học, đồng thời có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài. Có chính sách ưu đãi đối với đội ngũ trí thức, đặc biệt về thu nhập và điều kiện làm việc, tạo ra bầu không khí dân chủ trong nghiên cứu và khuyến khích sự sáng tạo. Đồng thời, những nhà khoa học có nhiều đóng góp cho đất nước cần được ghi nhận, khen thưởng và tôn vinh xứng đáng. Nhà nước cần ban hành chính sách đãi ngộ vượt khung, tạo môi trường học thuật thông thoáng nhằm quy tụ chuyên gia về dữ liệu, vi mạch bán dẫn và AI gốc Việt ra thế giới; mạnh dạn giao cơ chế “Tổng công trình sư” cho các nhà khoa học đầu ngành làm chủ các đề án công nghệ chiến lược. Song hành với tầng lớp tinh hoa, việc duy trì và nâng cao năng lực, phổ cập kỹ năng số và khai thác AI an toàn cho toàn dân, chuyển hóa tiềm năng của 100 triệu dân thành lực lượng sản xuất số hùng hậu.

Trên bình diện hạ tầng và công nghệ cốt lõi, tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh đòi hỏi Việt Nam phải kiên quyết xác lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền số quốc gia, không biến đất nước thành một vùng tiêu thụ công nghệ một cách thụ động. Thể chế hóa định hướng Đại hội XIV của Đảng về phát triển kết cấu hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu nhiều lớp; kiến nghị Nhà nước ưu tiên ngân sách và đẩy mạnh hợp tác công – tư để xây dựng hạ tầng tính toán hiệu năng cao (AI Computing Hub) dùng chung, hoàn thiện Trung tâm Dữ liệu quốc gia và phủ sóng viễn thông 5G/6G toàn diện. Đi đôi với đó, chiến lược “Make in Viet Nam” cần tập trung hỗ trợ liên minh doanh nghiệp công nghệ trong nước tự chủ nghiên cứu, huấn luyện các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) và hệ thống AI thuần Việt chuẩn mực, giàu bản sắc văn hóa và chuẩn xác về lịch sử, tạo lá chắn số vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng dân tộc trước nguy cơ thiên kiến thuật toán ngoại lai.

Trên bình diện quốc tế, để phát triển khoa học công nghệ, cần tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng lực khoa học công nghệ của Việt Nam, đồng thời rút ngắn thời gian nghiên cứu và ứng dụng thông qua chuyển giao công nghệ, góp phần giảm chi phí đầu tư. Tuy nhiên, hợp tác quốc tế trong khoa học, công nghệ phải đi đôi với việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, công nghệ trong nước và cần được thực hiện một cách có chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm lợi ích quốc gia trong quá trình hợp tác.

Tầm nhìn của Hồ Chí Minh về phát triển khoa học, công nghệ cung cấp những hiểu biết sâu sắc về việc xây dựng chính sách hiện đại ở Việt Nam. Những tư tưởng tiến bộ của Người về hợp tác quốc tế trong khoa học, công nghệ về phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế khoa học là cơ sở để xây dựng nền khoa học, công nghệ phục vụ phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam đang cố gắng hội nhập sâu rộng hơn vào lĩnh vực kỹ thuật toàn cầu, việc vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về khuyến khích tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ nước ngoài trong khi thúc đẩy nghiên cứu trong nước là một chiến lược kép bảo đảm tránh được sự phụ thuộc vào các công nghệ nước ngoài trong khi thúc đẩy sự thích nghi và đổi mới phù hợp với bối cảnh mới. Như vậy, những luận điểm của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, cung cấp nền tảng quan trọng để xây dựng một tương lai thịnh vượng, hướng tới đổi mới và phát triển.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 1-15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Duy Phương (2021). Sự giúp đỡ của Liên Xô trong việc đào tạo lưu học sinh Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khoa học Xã hội, 66(2), 161–168. https://doi.org/10.18173/2354-1067.2021-0036
Quốc hội (2023a). Luật Căn cước năm 2023
Quốc hội (2023b). Luật Giao dịch điện tử năm 2023
Quốc hội (2023c). Luật Viễn thông năm 2023.
Quốc hội (2025a). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.